tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26683328
17.10.2008
Triệu Xuân
Câu hỏi lớn ở Viện nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt

Xưa nay, nói tới Đà Lạt là người ta nghĩ ngay tới thành phố du lịch với khí hậu quanh năm se lạnh như một thành phố miền ôn đới, thành phố với rừng thông và rất nhiều hoa tươi, hoa lạ. Riêng tôi, người thường xuyên đi Đà Lạt, tôi nghĩ rằng: Với vị thế của nước Việt Nam từ năm 1995 trở đi, Đà Lạt phải là một thành phố đại học, thành phố nghiên cứu khoa học. Bởi thế vào dịp chúng ta đang long trọng kỷ niệm một trăm năm phát hiện ra Đà Lạt, tôi không viết về du lịch ở xứ này mà lại viết về Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Bởi ở đây, trong mười năm qua đang tồn tại một câu hỏi lớn chưa có lời giải đáp.


Vẫn biết rằng có hơn hai trăm người đang làm việc nơi đây, trong đó có một tiến sĩ, mười một phó tiến sĩ và một trăm kỹ sư, có một số người tên tuổi lẫy lừng trong giới nguyên tử năng lượng quốc tế. Vẫn biết rằng mười năm qua, tính từ khi lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được khôi phục, luôn vận hành an toàn. Vẫn biết như thế nhưng thú thực khi bước chân vào khu vực lò phản ứng, tôi vẫn thấy hồi hộp, nói nôm là sờ sợ thế nào ấy. Nhỡ ra… nhưng thôi chớ có nói dại. Đâu phải lò phản ứng nào cũng là Trécnôbưn cả đâu! Tôi tự trấn tĩnh và thong thả choàng áo vào người bộ quần áo trắng và đôi giày giống hệt như nhân viên của Viện. Mải quan sát những người làm việc tại đây, tôi tới lò phản ứng hạt nhân lúc nào không biết. Người hướng dẫn tôi là kỹ sư Việt Hòa, Trưởng phòng Thông tin Khoa học Kỹ thuật, nắm tay tôi đưa lên từng bậc cầu thang để lên đỉnh lò. Đây rồi! Từ trên đỉnh lò phản ứng hạt nhân, qua một khoang mở hình tròn, tôi chăm chú quan sát ruột lò qua lớp nước cất (cất hai lần) dày sáu mét. Toàn bộ ruột lò ngâm trong sáu mét nước này. Bảy thanh điều khiển do bảy cái mô tơ điều phối hoạt động được cắm thẳng đứng song song với chín mươi thanh nhiên liệu bố trí giống như tổ ong quay quanh tâm lò là bẫy Nơtrôn. Chín mươi thanh nhiên liệu đó làm nên tất cả, gây ra phản ứng hạt nhân với sức mạnh kinh khủng. Nhưng nếu không có bẫy Nơtrôn kích hoạt thì chín mươi thanh nhiên liệu kia cũng chỉ là đồ vô tích sự.


Tôi đề nghị được tận tay cầm một thanh nhiên liệu. Người ta đưa cho tôi một thanh (tất nhiên là vỏ, không nạp nhiên liệu). Nó dài bảy mươi phân và trông hiền lành như cái chổi quét nhà. Nó được làm bằng hợp kim màu bạc. Ruột của thanh nhiên liệu này chứa chất urani. Từ quặng urani hàm lượng 0,7 phần trăm, người ta làm giàu lên 36 phần trăm. Urani nhiều nơi có nhưng chỉ có Mỹ, Liên Xô (cũ) và vài nước có công nghệ tiên tiến mới có thể làm giàu chất urani. Chính là cái chất urani được làm giàu đó, chứa trong ruột thanh nhiên liệu bằng hợp kim, màu trắng bạc, hiền lành như cái cán chổi quét nhà, vâng, chính là nó, có thể tạo ra năng lượng phóng xạ khủng khiếp: nó vừa có thể giết người với sức tàn phá ghê gớm, vừa có thể cứu người, làm giàu cho cuộc sống của nhân loại. Cầm thanh nhiên liệu trên tay, tôi liên tưởng ngay tới hai trăm con người đang làm việc tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Họ là những người rất bình dị, có đủ những ước mơ, khát vọng chân chính như những người khác (ví dụ như buổi sáng thích ăn phở hoặc thịt bò bíp tết hơn là ăn cơm rang…). Họ đã âm thầm làm việc, chịu mọi thiếu thốn vì thu nhập quá thấp: hai trăm ngàn đồng một tháng, chưa bằng thu nhập của người gác cổng khách sạn. Mười năm qua, họ đã say mê nghiên cứu ứng dụng khoa học hạt nhân vào mọi lĩnh vực đời sống, kinh tế nước nhà.


Lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt được Hoa Kỳ đầu tư xây dựng. Khởi công từ năm 1956, khánh thành năm 1963. Vào thời đó, lò này được coi là lò phản ứng tiên phong của các nước Đông Nam Á. Phần vỏ bao che bên ngoài được một kiến trúc sư tài ba người Việt Nam – nổi tiếng thế giới, là Khôi Nguyên La Mã - ông Ngô Viết Thụ thiết kế. Toàn bộ công trình nằm trên một quả đồi ở vị trí đẹp nhất thành phố Đà Lạt. Phần trung tâm công trình mang dáng dấp của một hạt nhân nguyên tử được phóng đại. Từ xa, du khách đã nhận ra vẻ đẹp đầy huyền bí của khoa học hạt nhân qua lối kiến trúc đó. Khi khánh thành, công trình có cửa quay về hướng trung tâm thành phố. Ngô Đình Diệm, người đứng đầu chính quyền Sài Gòn lúc đó lên Đà Lạt cắt băng khánh thành lò phản ứng hạt nhân, sau đó bị đảo chính và bị giết… Có lẽ tin rằng đó là điềm gở cho nên lập tức người ta đã thay đổi hướng cổng ra vào. Nay thì cổng chính của Viện chếch một góc bốn lăm độ so với hướng cũ. Từ năm khánh thành 1963 cho đến năm 1968, năm lò ngừng hoạt động vì nhiều lý do, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt - với mục đích nghiên cứu là chính - chỉ thực sự chạy được vài trăm giờ; sản xuất được hai Curi chất phóng xạ (dùng trong y học). Năm cuối cùng của chiến tranh, khi ta chuẩn bị giải phóng Đà Lạt, người Mỹ đã cho tháo dỡ toàn bộ ruột lò và thiết bị điều khiển lò đưa về Sài Gòn rồi chuyển về Mỹ. Kỹ thuật hạt nhân luôn luôn là top secret (bí mật tuyệt đối) giữa các siêu cường lúc đó. Mười năm trời từ năm 1968 ngừng vận hành lò đến năm 1978, với sự giúp đỡ của Liên Xô (cũ) và Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là IAEA), chúng ta đã tiến hành khôi phục lò phản ứng, chính thức đưa vào hoạt động từ đầu năm 1984. Lò cũ có công suất 250 kW. Lò mới khôi phục công suất gấp đôi. (Trong khi nước láng giềng của ta là Thái Lan và Inđônêxia đã có lò công suất 10 MW – tức mười ngàn kW, gấp hai mươi lần công suất lò của ta). Với mục đích nghiên cứu là chính, đồng thời sản xuất chất phóng xạ, lò phản ứng hạt nhân Đà Lạt không dùng phát điện. Trong điều kiện ngặt nghèo về tài chính, nhờ phát huy thế mạnh của mình là khoa bảng, là nhân tài, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã vận hành lò an toàn suốt mười năm qua, bảo đảm được cả sự an toàn môi trường xung quanh lò là thành phố du lịch. Các nhà bác học nguyên tử trên thế giới đã tới đây giúp đỡ và họ đã không uổng công. Ông Chủ tịch IAEA đã nhận xét: Những gì mà IAEA đã giúp đỡ cho Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt là xứng đáng và có hiệu quả, xin nêu một vài số liệu: Năm ngoái lò vận hành 1.500 giờ an toàn tuyệt đối, sản xuất được 150 Curi đồng vị phóng xạ cung cấp cho các bệnh viện. (So với quá khứ, trong thời gian năm năm từ 1963 đến 1968 chỉ sản xuất được 2 Curi). Viện còn sản xuất Técnixi vận chuyển đến nơi sử dụng bằng máy phát cũng do Viện chế tạo. Hiện nay ở phía Nam có hàng ngàn bệnh nhân đang chữa trị bệnh hiểm nghèo bằng đồng vị phóng xạ do Viện cung cấp. Tại các nước có lò công suất 10 MW trở lên mới làm được Técnixi. Ta chỉ có lò công suất bằng một phần hai mươi của họ vẫn làm được Técnixi với mười loại kít (bình chứa an toàn) khác nhau, dùng trong lâm sàng, khiến các nhà khoa học của IAEA khen ngợi.


Trong số hơn 570 triệu đồng thu được trong năm 1992 nhờ các hợp đồng, cần phải nói rõ một điều là nếu không có Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt thì các cơ quan kinh tế trong nước phải gửi mẫu phân tích đi nước ngoài, tốn nhiều thời gian chờ đợi và tốn nhiều ngoại tệ hơn rất nhiều. Giá thành phân tích một mẫu quặng (như dầu khí chẳng hạn) nếu phải gửi đi ngoại quốc cao gấp ba lần phân tích tại Đà Lạt. Có ý kiến cho rằng trong hoàn cảnh nước ta, chả nên nghiên cứu cơ bản làm gì cho mệt. Thực tế cho thấy điều đó không đúng. Tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt, công tác nghiên cứu được tiến hành thường xuyên với các đề tài quốc gia và quốc tế. Năm 1992, Viện đã thực hiện chín đề tài cấp Nhà nước, được đánh giá cao và được đưa ra triển khai kỹ thuật. Đặc biệt Viện đã hợp tác với IAEA nghiên cứu nhiều đề tài. Được IAEA tài trợ bốn mươi phần trăm ngân sách. Với số ngoại tệ đó, Viện đã dùng tới bảy mươi phần trăm mua sắm thiết bị. Chính nhờ vậy mà diện mạo và năng lực của Viện năm sau ngon lành hơn năm trước.


Bốn ngàn hai trăm mẫu phân tích mà Viện đã thực hiện trong 1992 cùng với mười bảy đề tài nghiên cứu do Viện chủ trì thuộc các lĩnh vực của ngành hạt nhân, rồi sản xuất thiết bị đánh giá tuổi vàng, nghiên cứu vấn đề khắc phục phù sa bồi lấp bến cảng, tác dụng của nấm Linh Chi… là những thành tựu đáng tự hào của Viện trong năm 1992. Nhìn lại chặng đường mười năm hoạt động, có thể nói hơn hai trăm con người ở Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã thầm lặng cống hiến và mang lại hiệu quả to lớn.


Từ đầu năm 1993, trước tình hình phụ tùng thay thế do Liên Xô (cũ) cung cấp không thể kịp thời, hệ thống điều khiển lò đã đến lúc phải đại tu, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã được Nhà nước đầu tư và IAEA trợ giúp để đại tu toàn bộ lò phản ứng. Đồng thời với việc đại tu và hiện đại hóa lò phản ứng, Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt vẫn đảm bảo cung ứng đầy đủ chất đồng vị phóng xạ cho các sở y tế điều trị cho bệnh nhân, tiếp tục thực hiện các hợp đồng phân tích, hợp đồng sản xuất thiết bị hạt nhân cho các khách hàng. Viện có cả một chương trình trang bị thiết bị hạt nhân cho bệnh viện trong cả nước, mở ra một thị trường sử dụng hạt nhân vào đời sống kinh tế.


Tương lai của ngành hạt nhân nguyên tử nước ta được các chuyên gia IAEA đánh giá là xán lạn. Tiến sĩ G. Nair, chuyên gia của Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế nói: “Tốc độ phát triển như đã thấy ở đây đủ để đón mời mọi sự trợ giúp có thể có từ khắp mọi nơi. Thay mặt IAEA, tôi mong muốn điều tốt đẹp nhất cho tương lai xán lạn của Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt. Đây là một tấm gương rất tốt cho thấy một nước đang phát triển có thể đạt được thành tựu đáng khen như thế nào bằng sự tận tình, tích cực lao động và tài năng sáng tạo”.


Thế nhưng một câu hỏi lớn từ vài năm qua được nêu ra ở đây mà không có lời giải đáp. Mức thu nhập bình quân của một nhà khoa học tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt là hai trăm ngàn đồng một tháng. Tôi hỏi Tiến sĩ Trần Hà Anh, Viện trưởng, Đại biểu Quốc hội: “Có còn khoản nào khác không?”. Ông Tiến sĩ cười và nói: “Tất cả chỉ có vậy! Chúng tôi sống bằng niềm say mê nghiên cứu khoa học là chính. Nhưng tôi e rằng niềm say mê đó đã bị xói mòn. Đến một ngày nào đó, do chuyện cơm áo thúc bách, sẽ có người phải rũ áo ra đi. Đó sẽ là mất mát lớn cho giới khoa học nước ta. Bởi tài nguyên lớn nhất mà ta có chính là con người…”.


Những lời vừa trích dẫn là lời ông Viện trưởng nói với tôi trong phòng khách của Viện. Ông nói mà gương mặt buồn se sắt. Đôi mắt sáng, lấp lánh sự thông minh của ông như ánh phản cả bầu trời Đà Lạt giữa một mùa mưa đầy mây buồn vương vào. Đêm đó giữa Đà Lạt yên tĩnh, tôi không tài nào ngủ được. Đành rằng cái khó là không của riêng ai, đành rằng còn có nhiều người đang hưởng thu nhập thấp hơn thế. Nhưng với các nhà khoa học, điều đó thật không ổn. Phó tiến sĩ Phan Tích Cảnh đã phải bán cháo lòng tại nhà mình để sống và tiếp tục nghiên cứu khoa học. Tôi đã được anh mời về nhà để ăn cháo lòng do hai vợ chồng anh nấu. Sáng sớm, khi mặt trời chưa thoát khỏi làn sương mù Đà Lạt thì Phó tiến sĩ Phan Tích Cảnh với chiếc xe đạp cũ mèm đã đi chợ Đà Lạt mua lòng heo (lợn) và các thứ gia vị về cho vợ chế biến. Khi anh Cảnh đang tiếp tôi thì có tiếng khách gọi thêm món ăn. Đó là những người lao động của Đà Lạt. Họ đến đây thường xuyên bởi cháo lòng ở đây ngon, giá phải chăng. Nhưng điều quan trọng hơn, cuốn hút họ là: “Bác Phó tiến sĩ có khác, nấu nướng rất vệ sinh và phục vụ khách thì lịch sự khỏi chê”. Tôi được biết hiện trong Viện đã có người chuẩn bị xin chuyển đi nơi khác, có người nhảy ra kinh doanh bất động sản. Tất cả chỉ vì thu nhập thấp quá! Nhà khoa học mà thu nhập một tháng chưa bằng một nửa thu nhập của người gác cửa khách sạn! Tiến sĩ Viện trưởng Trần Hà Anh nổi tiếng trong giới nguyên tử năng lượng thế giới. Nghe theo lời kêu gọi của Đảng, từ Pháp, ông đã đưa cả gia đình về nước từ năm 1978 để góp phần xây dựng ngành hạt nhân nước nhà. Lúc đó ông biết về nước sẽ gặp rất nhiều khó khăn, nhưng hẳn ông không thể tưởng tượng được rằng sau mười tám năm đất nước hòa bình, thu nhập của ông cũng như đồng nghiệp ông vẫn chỉ hai trăm ngàn đồng một tháng, càng không thể hình dung được một Phó tiến sĩ hạt nhân lại phải bán cháo lòng!


Máy móc còn phải được bôi trơn và thường xuyên chăm sóc. Năng lượng hạt nhân còn phải được làm giàu và kích hoạt bởi bẫy Nơtrôn, huống hồ CON NGƯỜI với bao nhiêu niềm vui và nỗi lo cùng sự thèm khát chân chính. Vả chăng ngành năng lượng nguyên tử nước nhà đâu có đông tới mức không thể lo nổi? Vốn liếng - các nhà khoa học - là vô cùng quý giá. Vận nước thịnh hay suy là trông vào tài năng các nhà khoa học. Liệu có quá lời chăng khi nói như vậy? Việt Nam ta, tuy đội ngũ những nhà khoa học nguyên tử còn hiếm, nhưng đã có không ít người nổi tiếng thế giới. Tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt đã có ông Phạm Duy Hiển là một người tài. Ông là Viện phó Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia. Ông tiến sĩ Vũ Hải Long rất hiền lành, hiện là chuyên gia của Liên hiệp quốc Thanh tra an toàn của IAEA. Ông Long quê ở Lý Nhân tỉnh Nam Hà, một trong những người Việt Nam trưởng thành và nổi tiếng ở Pháp. Ông Tôn Thất Côn, người Huế, Master Canada, phục vụ tại đây từ khi có lò phản ứng. Phó tiến sĩ Lê Văn Sơ vừa được phong Phó giáo sư, bốn mươi ba tuổi, là Phó giáo sư trẻ nhất, vừa đi làm chuyên gia ở nước ngoài về.


Ngoài những tiến sĩ và phó tiến sĩ (gồm mười hai người) tại đây có một trăm kỹ sư trẻ và có năng lực. Trong số họ có nhiều người có năm sáu công trình nghiên cứu được đăng tải ở nước ngoài. Nhiều kỹ sư được IAEA cho đi nước ngoài tu nghiệp và làm chuyên gia cho Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế. Đó là kỹ sư Nguyễn Tiến Thịnh, Trần Văn Luyến, Nguyễn Quốc Hiển, Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Văn Sức, Vũ Quốc Trọng, Huỳnh Đông Phương… Đây là thế hệ những nhà khoa học trẻ cần được chăm sóc nếu chúng ta muốn có ngành năng lượng hạt nhân tầm cỡ thế giới. Những người trẻ tuổi (sinh sau năm 1952) vừa kể, khi được hỏi về nguyện vọng đều nói rằng họ không đòi hỏi gì hơn là được đảm bảo cho gia đình điều kiện sống tối thiểu để nghiên cứu khoa học.


Nhìn ra thế giới ta thấy: Sản lượng điện nguyên tử ở Pháp chiếm sáu mươi phần trăm tổng sản lượng điện toàn Pháp. Đức là năm mươi phần trăm, Nhật đến năm 2000 là bảy mươi lăm phần trăm, Mỹ là bốn mươi phần trăm, và Canada hơn bốn mươi phần trăm. Còn Việt Nam ta? Từ lò phản ứng đầu tiên ở Đà Lạt phải khẩn trương tính đến việc xây dựng các nhà máy điện nguyên tử, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nền kinh tế, xã hội. Khi chúng ta có một hay hai nhà máy điện nguyên tử, thì đội ngũ các nhà khoa học, các kỹ sư và công nhân chuyên ngành sẽ tìm ở đâu ra, nếu không biết chăm sóc và làm giàu từ hạt nhân hiện có hôm nay?


Câu hỏi lớn đặt ra ở Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt vẫn chưa có lời giải đáp. Ai là người trả lời?


Tháng 7 năm 1993


 Nguồn: Lấp lánh tình đời. Truyện & ký chọn lọc. NXB Văn học, 2007. Trước đó, đã in trên Báo Văn Nghệ, số 35 ra ngày 28 tháng 8 năm 1993.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
Doãn Mẫn - “Biệt ly” mà không biệt ly - Hoài Anh 22.01.2019
Lê Yên - nhạc sỹ thuộc thế hệ đầu của tân nhạc Việt Nam - Hoài Anh 22.01.2019
Dương Thiệu Tước và “Tiếng Xưa” - Hoài Anh 21.01.2019
Phù Dung ơi, vĩnh biệt! (tên cũ là "Cai" -Kỳ cuối) - Vũ Bằng 20.01.2019
Về miền an lành - Triệu Xuân 12.01.2019
Nguyễn Xuân Khoát - Người mở ra buổi “bình minh” của lịch sử tân nhạc - Hoài Anh 11.01.2019
xem thêm »