tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27827640
Lý luận phê bình văn học
17.10.2008
Triệu Xuân
Nghề Văn gian khổ, nguy hiểm hơn một mình chinh phục đỉnh Everest rất nhiều!



Nhà văn Triệu Xuân trả lời phỏng vấn của Nguyễn Tý về đời viết văn của mình, về những cuốn tiểu thuyết gây ấn tượng trong lòng người đọc: Giấy trắng, Bụi đời, Trả giá, Cõi mê và nhất là VN. Mafia - Sóng lừng...



 



 


Nhà văn Triệu Xuân: “…Tôi quan niệm nhà văn trước hết phải là một công dân gương mẫu, dám dũng cảm vạch trần cái xấu, cái ác; văn chương phải dự cảm được tương lai, phải nói được nguyện vọng và mơ ước của con người. Văn chương theo tôi, trước nhất phải vì con người…”.



Phóng viên: Con đường viết văn của ông bắt đầu từ việc viết báo, thưa nhà văn?


Nhà văn Triệu Xuân: Tôi mê thơ từ bé tí, nhưng ra đời lại chỉ viết tiểu thuyết, bên cạnh đó cũng viết truyện ngắn, ký. Là một nhà báo nên tôi viết rất nhiều phóng sự, ký sự phát trên đài, in trên các báo, không thể nào nhớ hết. Truyện ký Sức mạnh từ trong lòng đất viết tại chiến trường Khu Năm, in trên báo Cờ Giải Phóng (Trung Trung bộ) số Tết Dương lịch 1974, là truyện ký đầu tiên tôi in tại chiến trường (không kể những ký sự, phóng sự, những bài báo). Cuốn Những người mở đất, truyện vừa, Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh ấn hành năm 1983, là tác phẩm văn học in thành sách đầu tiên của tôi. Tác phẩm này, nhiều người thích, nhà văn Thái Vũ rất thích, ông khen ngợi tôi nhiệt thành. Khi xuất bản, tôi đề là truyện vừa, nhà văn Nguyễn Khải bảo: “Sao cậu không đề là tiểu thuyết vì nó là tiểu thuyết mà!”. Tôi đề “truyện vừa” vì mới tập tọng vào nghề!


Năm 1982, nhà thơ Hoài Anh lên khu chung cư 727 Trần Hưng Đạo ở với bạn bè một thời gian. Hoài Anh ở với tôi hơn ba tuần (đúng ra là thiếu một ngày thì tròn tháng). Ban ngày tôi đi làm, anh ở nhà viết (thời gian này anh viết xong tiểu thuyết Đuốc lá dừa gần ba trăm trang!). Tối tôi về, vừa nấu cơm vừa nghe anh nói… Khi tôi vào toilet, anh đứng bên ngoài cửa nói tiếp. Tôi buồn ngủ rũ mắt, anh vẫn nói say sưa. Hoài Anh có nhu cầu phải nói trước khi viết. Nhiều chương anh viết, tôi đã nghe khi đang nấu cơm, giặt quần áo và… tắm! Đam mê của anh, sự thông tuệ của anh kích thích một cậu trai mới vào nghề như tôi rất nhiều!


Một hôm tôi đi làm về, anh mở máy ngay, nhưng không phải nói về cái sắp viết mà nói về Những người mở đất: “Tôi đọc nó rồi, tại sao không cho tôi đọc từ trước? Viết lạ lắm, văn sáng, giàu hình ảnh, cái đó làm phim thì tuyệt!...”. Anh khen tôi nhiều, tôi nghĩ là anh khen để động viên tôi… Nhưng, có một câu Hoài Anh nói, tôi nhớ hoài: “Tôi tin là sau này ông sẽ là một cây bút viết khỏe, sẽ có rất nhiều người thích ông”. Lúc ấy tôi còn trẻ, nghe người anh tên tuổi lẫy lừng nói thế, mặt đỏ bừng vì ngượng, nhưng lòng rất phấn khởi. Cuốn Những người mở đất viết xong năm 1979, mãi đến năm 1983 thì Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh mới in.


Trước đó, đạo diễn Mai Lộc, có đặt tôi viết một kịch bản phim, và có ứng cho một ít tiền không nhỏ. Ông ấy sửa đi sửa lại, đến lúc thành kịch bản hoàn chỉnh, thì ông bảo tôi yên tâm. Thế là tôi chờ, gần chín tháng sau đến hỏi, ông ấy bảo: “Cái Những người mở đất của cậu hay, nhưng tiếc quá, lạc mất rồi!”. Đó là bản viết tay, là độc bản! Anh Mai Lộc bảo tôi viết lại, nhưng tôi không viết! (Từ sau chuyện đó, tôi mua máy chữ và chỉ đánh máy. Khi thành phố Hồ Chí Minh nhập đợt computer đầu tiên, tôi mua ngay và chỉ viết bằng computer). Về chuyện mất kịch bản, tôi rất ngạc nhiên, và buồn… Thời đó tôi còn trẻ, chẳng quen biết ai, lao vào nghề viết như một mình đục đá leo núi trên vách núi dựng đứng. Tôi không có duyên với điện ảnh chăng?


Triệu Xuân sinh ra và lớn lên ở vùng quê rất nghèo nằm bên dòng sông Lê, một nhánh của sông Luộc. Anh đam mê văn học từ nhỏ, học lớp một đã được mẹ dạy thuộc lòng Truyện Kiều. Mẹ anh không được đi học nhưng lại thuộc rất nhiều thơ, dân ca, ca dao, thành ngữ, tục ngữ… Thuở học sinh, anh luôn là học sinh giỏi, đặc biệt là môn văn, nhiều lần đi thi học sinh giỏi toàn quốc (miền Bắc). Anh vinh dự được Bác Hồ khen hai lần: năm học lớp bảy và năm học lớp tám. Học xong tú tài, được tuyển đi du học nước ngoài, nhưng vì sức khỏe không đạt tiêu chuẩn; anh ở lại, vào học Khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội. Nhà văn rất mê thơ và tiểu thuyết.


Bố anh là sĩ quan quân đội, năm 1959 chuyển ngành sang làm kinh tế, mỗi chiều thứ bảy về mua rất nhiều sách cho đứa con trai độc nhất. Phần lớn sách do Nhà xuất bản Văn học ấn hành. Triệu Xuân kể: “Ở vùng quê nghèo, sách thật sự là một thế giới mới đối với tôi. Chính là nhờ đọc nhiều sách văn học nên tôi mê thơ văn, thích làm thơ, những bài thơ học trò (cười). Khi đang học lớp tám, tôi đã có thơ in trên báo của địa phương. Học đại học, tôi là một trong năm sinh viên giỏi của khoa Ngữ Văn. Sau khi học xong, chưa bước sang tuổi 22, mặc dù có một vài cơ quan ở Hà Nội nhận nhưng tôi tình nguyện đi B làm phóng viên mặt trận. Nhờ trải qua thử thách gian khổ ác liệt ở chiến trường, tôi học hỏi được nhiều, ngộ ra được nhiều điều, vững vàng và trưởng thành hơn. Sau khi đất nước hòa bình thống nhất, tôi làm báo, viết văn; cứ lẳng lặng đi và viết, say sưa đi, say sưa viết! Tôi có một chiếc túi xách, luôn sẵn sàng chiếc máy ảnh, máy ghi âm, hai bộ quần áo, bàn chải, kem đánh răng và xà bông tắm, dao cạo râu, có điện thoại là lên đường! Bình quân mỗi tháng tôi ở nhà chỉ một tuần, có tháng đi biền biệt ở cực Nam Tổ quốc không về. Làm báo, tôi đi nhiều nơi, đi khắp Nam Bộ, các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh miền Trung. Năm nào tôi cũng đi miền Bắc vài lần, đi khắp các tỉnh miền Bắc. Phải nói, nhờ làm báo nên tôi được đi rất nhiều, học hỏi được rất nhiều điều. Đi nhiều nên tôi có vốn sống trực tiếp mà mình cảm nhận được luôn tươi rói và ngày càng phong phú. Ví dụ như những chuyến đi miền Tây Nam Bộ: Mỹ Tho, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau, Long Xuyên, Châu Đốc, Sa Đéc, Rạch Giá, Hà Tiên, Côn Đảo, Phú Quốc… sống cùng bà con ở trong rừng tràm, rừng đước, theo ngư dân đi biển, suốt sáu năm trời tôi mới viết được cuốn Trả giá. Cuốn Giấy trắng được viết trong một năm, nhưng thời gian tích cóp tư liệu thì đúng bảy năm. Thời gian tìm vốn sống trực tiếp (đi) và vốn sống gián tiếp (đọc), thời gian suy nghĩ bao giờ cũng dài gấp nhiều lần thời gian viết tác phẩm. Phải biết thật nhiều để viết cho độc! Tôi nhớ mãi câu nói của Bố tôi khi biết tôi đi làm báo: “Anh phải biết mười để rồi viết một, thì cái điều anh viết ra người ta mới đọc. Chứ nếu biết một mà dám viết mười thì hỏng người đi và không ai đọc cả!”. Cái gọi là biết đó bao gồm: tri thức do học tập ở trường lớp đàng hoàng (tôi may mắn được đào tạo chính quy), thứ hai là vốn sống trực tiếp từ những chuyến đi cảm nhận cuộc sống, và thứ ba là vốn sống gián tiếp mà mình đọc, nghe, nhìn được qua sách báo, qua truyền hình, phát thanh, qua bạn bè. Nguồn vốn gián tiếp này lớn lắm, nhưng không thể nào thay thế được vốn trực tiếp”.


Sinh ra, lớn lên ở châu thổ sông Hồng miền Bắc, Triệu Xuân trải qua thử thách ở chiến trường ác liệt Trung Trung Bộ, anh vào sống ở thành phố lớn nhất nước, thường xuyên đi về các đô thị và nông thôn trong vùng Tây Nam Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên. Triệu Xuân được mời đi Liên Xô, Australia, Hoa Kỳ, đi một mình một đoàn, mỗi nước một tháng. Campuchia thì đi nhiều lần. Chỗ nào nhà văn cũng tranh thủ thời gian cảm nhận thực tế, sống hết mình, hòa nhập, và được nhiều người đùm bọc, quý mến, thương yêu, giúp đỡ. Triệu Xuân có rất nhiều kỷ niệm đẹp trong đời với những người ngư dân ở miệt Cái Nước, Năm Căn, người nông dân Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp… cho đến những vị lãnh đạo các cấp tỉnh, cấp bộ, những doanh nhân, những giám đốc các nhà máy, công ty, tổng công ty, các công trình xây dựng lớn như dầu khí, thủy điện, thủy lợi, các chiến sĩ ở biên giới và hải đảo, những người thợ điện, những thủy thủ và thuyền trưởng, anh chị em công nhân… (Đây là niềm hạnh phúc lớn của những người sáng tạo văn hóa nghệ thuật nói chung - NT). Tất cả họ đều giúp đỡ để nhà văn có vốn sống, sự hiểu biết tường tận về nghề nghiệp, về tâm trạng con người… Lại nữa, có những chuyến đi dài, như đi ra các đảo xa, ra giàn khoan dầu khí, đi biển với ngư dân, mỗi chuyến biển mười ngày, hai mươi ngày. Đi biển say sóng nhưng trước đó, may mắn nhà văn đã được thử sức vài lần trên tàu vận tải khách Sài Gòn - Hải Phòng (tàu này nay không còn nữa!), nên rất mê biển. Nhà văn tập cạo mủ cao su, tập câu cá mập, học cách khai thác đáy sông, đáy biển, học đủ thứ từ nấu rượu, rang xay cà phê, pha cà phê, pha rượu, phục vụ khách sạn, nhà hàng, từng chụp ảnh dạo hai năm, từng đi đánh giày để làm quen với trẻ bụi đời…


Phóng viên: Xin cho biết vài kinh nghiệm đi thực tế, nhà văn đã tích lũy vốn sống và viết như thế nào?


Nhà văn Triệu Xuân: Để viết cuốn Nổi chìm trong vòng xoáy, một thời gian dài tôi đi theo tàu vận tải biển, tàu vận tải đường sông, sống với công nhân các cảng biển, cảng sông. Tôi thiết kế các chuyến đi có bài bản nhằm sử dụng thời gian đạt hiệu quả cao. Nhờ VOSA Sài Gòn, tôi được đưa ra phao Zero ngoài biển Vũng Tàu, để lên sống ở con tàu mẹ (gọi là tàu Lash, của một công ty vận tải biển lớn nhất Liên Xô bấy giờ) trọng tải rất lớn, chứa trong lòng nó bốn chục chiếc xà lan Lash, mỗi xà lan chở được 1.000 đến 1.500 tấn hàng. Khi đến phao Zero, tàu mẹ nhả xà lan xuống. Tàu kéo của ta ra nhận; mỗi tàu tùy theo công suất kéo được 2 đến 4 xà lan Lash, kéo đến các cảng nhỏ của Việt Nam; đồng thời trung chuyển hàng hóa cho Campuchia. Chính là qua hiệp định trung chuyển hàng hóa này mà bọn xấu đã lợi dụng mở niêm phong cặp chì, chui xuống moi hàng lên như moi ruột cá lóc rồi niêm phong cặp chì trở lại, rồi đái hoặc đổ axít vào cho han rỉ như vết niêm phong cũ. Tàu chạy tới cảng Campuchia thì kẹp niêm phong có màu y như cũ rồi. Mỗi xà lan bị moi tới một nửa số hàng! Chuyện tồi tệ này diễn ra cả năm trời mà không ai biết. Khi các cơ quan chức năng phanh phui chuyện đó, tôi nhờ các anh bố trí cho đi theo tàu kéo xà lan để khảo sát! Tiến sĩ Nguyễn Thanh Lâm, nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông Vận tải (đã nghỉ hưu) rất nhiệt tình giúp tôi trong việc này. Nhờ thế mà tôi viết được Nổi chìm trong vòng xoáy, Nhà xuất bản in lần đầu bốn mươi ngàn bản. Thú thật, không gì cám dỗ tôi bằng được lăn lộn với thực tế, được trực tiếp cảm nhận cuộc sống! Kết thúc một chuyến đi, tôi nhanh chóng có tin ngắn, ảnh, phóng sự, bút ký phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, in trên báo, rồi tích góp tư liệu, chắt lọc nó để viết tiểu thuyết.


Bụi đời là cuốn tiểu thuyết viết về sự tha hóa của con người. Tư liệu tôi thu nhặt được trong hơn chục năm nhiều lắm, chỉ dám chắt lọc để viết ra một phần rất nhỏ. Viết kỹ quá thành tự nhiên chủ nghĩa, phản tác dụng, nhưng nếu không miêu tả như thế thì người ta không hiểu thực tế nó ê chề, rùng rợn như thế nào. Đây là cái khó nhất của nhà văn khi xử lý tư liệu. Tôi lao vào đề tài này từ năm 1976, từ bài báo đầu tiên, cho đến năm 1987 mới bắt tay vào viết tiểu thuyết, thời gian gần mười hai năm. Thời còn là sinh viên, tôi thích câu: “Thông qua giọt nước để nói biển cả”. Tôi luôn say mê săn tìm tư liệu để viết, và tôi luôn làm theo lời dặn của bố tôi: Phải biết mười để viết một!


Từ khi mới chập chững vào nghề báo, nghề văn, tôi đã có ý thức làm việc theo phương pháp khoa học. Với người viết, việc ghi chép tư liệu là quan trọng nhất. Tôi có gần trăm cuốn sổ tay ghi chép rất kỹ. Muốn có chi tiết đắt, muốn xử lý thông tin giỏi, phải thật tinh, nhạy nghe nhìn, ghi chép một cách khoa học. Mỗi cuốn sổ đều đánh số, ở trang đầu ghi bắt đầu viết ngày nào, hết giấy vào ngày nào, trong cuốn này có những chuyến đi nào, có vấn đề gì, nhân vật nào đáng chú ý. Trên đường đi công tác, có những điều khiến lòng tôi rưng rưng, thôi thúc tôi viết nhưng chưa có thời gian hay chưa có máy để gõ phím thì viết ngay vào sổ tay; thậm chí đang phỏng vấn một nhân vật nào đó, khi quan sát anh ta về mặt con người, về mặt tính cách, thấy cái gì hay thì khắc họa luôn vào sổ tay chứ không chờ về nhà mới viết.


Nghề báo và nghề văn hỗ trợ nhau, bổ sung cho nhau, vì thế tư liệu làm báo và tư liệu viết văn đan xen vào nhau. Đó không phải là kinh nghiệm do tôi tạo ra, mà là tôi học từ nhà văn Tô Hoài. Tôi rất kính trọng và mến tài của các nhà văn đi trước, như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải… Tôi quan hệ với họ và học được rất nhiều điều. Thời nhà văn Nguyễn Quang Sáng và nhà văn Đoàn Minh Tuấn còn ở chung trong căn hộ tập thể 148 Võ Văn Tần, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh, các nhà văn Nguyễn Tuân, Hoàng Trung Thông, Tô Hoài… từ Hà Nội vào thường ở đó. Lúc ấy, tôi thường đến nhà anh Đoàn Minh Tuấn. Chị Tâm, vợ trước (đã mất vì tai nạn giao thông) của anh Tuấn rất quý tôi. Nhờ thế mà tôi có dịp quen biết, đi thực tế cùng các bậc đàn anh, làm quen và quan sát các nhà văn mà lâu nay mình từng quý mến. Một lần nói chuyện, tình cờ tôi thấy nhà văn Tô Hoài rút cuốn sổ tay ra và nhìn tôi, vừa hỏi chuyện vừa viết. “Anh Tô Hoài ghi gì vậy?”. Nhà văn bảo: “Ờ, mình quan sát, ghi chép vớ vẩn ấy mà”. Tôi bảo: “Anh cho em xem được không?”. Nhà văn tủm tỉm cười và đưa cuốn sổ cho tôi xem. Tôi cầm cuốn sổ đọc nhanh và giật mình, bởi vì ông Tô Hoài ghi sổ tay mà như là viết văn vậy, ông ghi rất kỹ, câu đúng văn phạm, và nhấn từng chi tiết, miêu tả như miêu tả nhân vật trong tiểu thuyết. Tôi tự nhủ: “Mình phải học cách ghi chép vào sổ tay của Tô Hoài”. Tôi hỏi thêm một số vấn đề, nhà văn Tô Hoài chắc thấy tôi ham học, hay hỏi, thổ lộ cho tôi nhiều kinh nghiệm quý của ông. Sau này, Tô Hoài xuất bản một số tác phẩm như Cát bụi chân ai, Chiều chiều…, trong đó có nhiều trang như là chép nguyên văn từ sổ tay ra vậy.


Cuối năm 1993 đầu năm 1994, máy computer nhập vào thành phố Hồ Chí Minh, tôi mua ngay (lúc đó rất mắc, gần hai mươi triệu đồng, có cả máy in). Dùng computer lưu trữ tư liệu, truy nhập để khai thác tư liệu rất nhanh, đỡ mất thời gian để tìm như thời chưa có máy. Tuổi càng lớn, thị lực giảm, thì việc tìm các tư liệu trong sổ tay, trên báo chí, trong tủ sách càng gian khổ, rất nhức đầu. (Từ năm 1997 đến nay, tôi bị chứng đau nửa đầu bên phải, cứ suy nghĩ, viết lách nhiều là đau). Mà không thể ngừng cập nhật tư liệu, thông tin dù chỉ một ngày! Vì ít thời gian, lại bị chứng đau đầu nên tôi nhờ một người bạn vong niên chuyên làm nghề thu thập, xử lý thông tin cho một công ty lớn, giúp tôi điểm báo hàng ngày, hàng tuần. Bài nào hay thì phôtô nguyên văn, còn vấn đề nào hay thì tóm tắt lại, ghi xuất xứ… Nhờ thế mà tôi không bỏ sót những tin, bài hay trên các báo. Đất nước mình hiện nay có rất nhiều tờ báo, có nhiều tin, bài hay, tôi nhờ điểm báo theo đề tài, theo từng chủ đề và tôi đọc hết. Báo điện tử trên mạng cũng vậy. Mỗi ngày tôi dành một giờ lướt trên các website. Đó là một cách để nạp kiến thức vào đầu của những người ít thời gian, chỉ có cách đó thì mới không lạc hậu với mọi sự kiện thời sự, chính trị cũng như văn học…


Phóng viên: Về quan niệm, phương pháp sáng tác?


Nhà văn Triệu Xuân: Về việc viết lách thì tôi tâm niệm một điều hết sức cẩn thận khi viết, dù chỉ là viết một dòng tin, một bài báo, một bút ký, một truyện ngắn, một tiểu thuyết, hay chỉ là viết Lời Nhà xuất bản cho một tác phẩm của người khác, phải đều hết sức cẩn thận. Câu chữ phải gọn, dùng từ cho chuẩn, văn phải trong sáng, dễ hiểu, phải biết sử dụng nhiều hình ảnh, ngay cả khi làm báo cũng vậy. Đây là ý thức của tôi ngay từ khi vào nghề. Trong trường đại học tôi đã học được điều đó, phương pháp làm việc là phải khoa học, phải đi sâu vào kỹ thuật, không có kỹ thuật thì không nên viết. Đặc biệt là phải giỏi tiếng Việt, học tiếng “mẹ đẻ” của mình cho thật thông tuệ. Tức là phải chuyên nghiệp! Tôi phải học và rành nhiều cách nói của các địa phương, học cách thể hiện của các nhà văn trên thế giới, của lớp nhà văn Việt Nam đi trước tôi, và đặc biệt là các nhà văn trẻ có nhiều cách thể hiện rất hay. Tôi rất tôn trọng các nhà văn trẻ, các nhà văn mới vào nghề, không bao giờ dám coi nhẹ, xem thường họ. Cách xử lý thông tin, hình ảnh, chi tiết, thông qua giọt nước để nói biển cả… phải luôn luôn trau dồi. Tôi có những người bạn rất tuyệt vời giúp tôi việc này. Nhà văn Hoài Anh là một trong những người anh, người bạn như thế. Nhiều khi đang viết bài hay đang nói chuyện mà bí một điều gì đó, một câu thơ nào đó, một chữ Hán mình không hiểu thì tôi điện thoại hỏi Hoài Anh, anh trả lời ngay. Đó thật sự là những người thầy, tiếng là bạn nhưng thật ra là những người thầy… Tôi chơi với những chuyên gia về Hán Nôm. Công việc sáng tác cũng như việc biên tập báo chí trước kia, biên tập sách văn học hiện nay của tôi rất cần sự tư vấn giúp đỡ của họ. Tôi luôn được họ thân tình giúp đỡ. Cái gì mình dốt thì mình học bạn, đã dốt chữ Hán, phải có người giỏi hơn mình để hỏi, hỏi từng chữ một. Và đến lượt mình, cũng sẵn sàng giúp lại mọi người! Tôi luôn muốn là người học trò nhỏ của tất cả mọi người, để mình học hỏi cái hay, cái tinh hoa của họ, lúc đó mới tránh được những sai lầm không đáng có trong khi sáng tác, trong công việc biên tập.


Phóng viên: Đa số những tác phẩm của nhà văn theo mạch hiện thực phê phán. Vậy dựa vào đâu để có sức mạnh phê phán?


Nhà văn Triệu Xuân: Tác phẩm đầu tay Những người mở đất, ngay từ năm 1979 tôi đã viết: Một người đảng viên không có năng lực làm việc, không có tấm lòng đối với sự nghiệp chung, không có sự chia sẻ đối với những người công nhân lao động chân chính, không có đóng góp gì cho cái chung thì người đảng viên đó không xứng đáng, không xứng với một đồng xu nhỏ.


Trong tiểu thuyết Giấy trắng, tôi phê phán những mặt lỗi thời của cơ chế quan liêu hành chính bao cấp và ca ngợi những mầm mống mới, những người lao động (chân tay và trí óc) có tâm huyết, có tài năng, mong muốn đưa đất nước, dân tộc này ngang tầm với những nước phát triển trên thế giới. Tôi viết Giấy trắng năm 1983, tôi phanh phui, lên án những người khư khư giữ lấy cơ chế chính sách lỗi thời đã trở thành phản tiến bộ, làm cho dân nghèo, nước mạt… Tôi viết mà không sợ bị qui chụp.


Với Trả giá, lần đầu tiên có một tác phẩm văn học dám phê phán rất mạnh sai lầm, do ấu trĩ, do nôn nóng, chủ quan khi tiến hành cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh. Tôi viết cuốn tiểu thuyết đó năm 1985, đến năm 1986 thì xong. X1 (đánh tư sản mại bản) là tất yếu phải làm, nhưng X2, tức là cải tạo những nhà tư sản dân tộc, đã gây ra hậu quả không tốt, rất nhiều người vượt biên… Phải mất vài năm sau, trong các văn kiện chính thức của Đảng mới nhìn nhận điều đó. Có những người lao động chân chính, nhờ tài năng, nhờ vốn liếng, họ trở thành những ông chủ giàu có, có thời ta gọi là tư sản dân tộc. Một đất nước muốn phát triển, muốn xóa đói giảm nghèo, muốn công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì phải có một đội ngũ những doanh nhân, doanh nghiệp giỏi. Chúng ta đã từng có cả một thế hệ những doanh nghiệp giỏi, yêu nước, nhưng chúng ta đã cải tạo họ bằng những biện pháp rất nóng vội, ấu trĩ. Cái giá phải trả quá đắt! Từ năm 1989, khi Đảng ta đưa đất nước vào sự nghiệp đổi mới, chúng ta khuyến khích các thành phần kinh tế trong đó có tư nhân đầu tư phát triển kinh tế. Thế nhưng mấy năm liền, đốt đuốc giữa ban ngày cũng khó tìm ra nhà doanh nghiệp chân chính. Những vụ án nước hoa Thanh Hương, Epco - Minh Phụng… chứng tỏ điều đó. Hiện nay thì giới doanh nhân chân chính đã xuất hiện nhiều, nhưng sau cải tạo công thương nghiệp thì hiếm lắm! Trong Trả giá tôi phản ánh, phân tích thực trạng đau lòng ấy, bằng tất cả tấm lòng của một công dân mong muốn cho đất nước có nhiều người có tài, có tâm được trọng dụng để ích nước lợi dân…


Cùng mạch phê phán cái cũ, cái lỗi thời, cuốn Đâu là lời phán xét cuối cùng tập trung phê phán chính sách cán bộ kiểu cũ, phê phán những sai lầm, yếu kém, chủ quan, không khoa học trong đánh giá con người, sử dụng cán bộ, sử dụng nhân tài. Mượn bối cảnh một công ty cao su để gióng lên tiếng chuông cảnh báo: Chính sách cán bộ phải được sửa đổi ngay! Quả nhiên bây giờ Đảng sửa đổi rồi. Có nhiều chính sách rất mới nhằm sử dụng được hết nhân tài trong nước, không để chảy máu chất xám, nhanh chóng đưa vốn tri thức - tài sản vô hình - vào sản xuất thì đất nước mới giàu được. Bình Dương (Sông Bé cũ) là tỉnh đầu tiên lên tiếng “Trải chiếu hoa đón người hiền tài”. Nhiều địa phương học tập tỉnh Bình Dương và những người có tài đã được tôn vinh, trọng dụng! Chính sách cán bộ kiểu cũ khiến cho không ít người tài ra đi bằng thuyền, nhiều người chết trên biển, nay chính sách Trải chiếu hoa đã và đang thu hút nhiều người Việt Nam tài danh ở hải ngoại về nước góp phần xây dựng đất nước.


Cũng là vấn đề con người, trong cuốn Bụi đời, tiểu thuyết đầu tiên đi trực diện vào đề tài tệ nạn xã hội với những con người thuộc tầng lớp dưới đáy: lưu manh, trộm cướp, gái mại dâm, nghiện ngập xì ke, ma túy… Viết về họ, phê phán sự tha hóa, sa đọa, nhưng từ đầu đến cuối tác phẩm, tấm lòng tôi luôn chia sẻ và thương yêu họ. Tôi lên án môi trường dẫn đến sự buông thả của họ và chính họ tự đào huyệt chôn mình. Tôi lên án một bộ phận trong xã hội làm giàu dã man trên thân xác những nạn nhân vừa kể trên. Tôi phê phán bọn buôn bán ma túy, bọn chứa gái mại dâm và một số người trong guồng máy quản lý nhà nước ở các cấp có hành vi tiếp tay cho bọn buôn bán ma túy, bọn kinh doanh mại dâm. Và chuyện tiêu cực, tham nhũng được phơi bày nhãn tiền. Trên báo chí ngày nay, chuyện đó được phản ánh hằng ngày, nhưng thời kỳ tôi viết cuốn Bụi đời là năm 1988-1989, báo chí chưa dám nói nhiều, không dám nói đến một cán bộ có chức sắc to mà tiếp tay cho bọn buôn lậu ma túy...


Thái độ phê phán của tôi nhiều người đánh giá là can đảm, dũng cảm, thiện chí nhưng không bao giờ phủ nhận sạch trơn. Khi cuốn Sóng lừng (V.N. Mafia) ra đời, có nhiều bài khen ngợi, nhưng cũng có hai tờ báo đăng bài phỉ báng, cho là tôi chống nọ chống kia, bôi nhọ ngành công an! Đời nào tôi lại bôi nhọ ngành công an! Trong Sóng lừng, tôi hết lời ca ngợi những chiến sĩ và sĩ quan công an cùng người dân dũng cảm chống cái xấu, cái ác, chống bọn tham nhũng, chống bọn mafia… Chỉ có một bộ phận nhỏ trong ngành công an tham nhũng, đồng lõa với bọn gây tội ác, tiếp tay cho tội phạm… Những kẻ đó thật sự là “Việt gian chính hiệu” như lời nhà văn Trần Bạch Đằng thẳng thắn, sòng phẳng, gián tiếp xin lỗi tôi một cách khéo léo, nói lại ý mình trên báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật (số ra ngày 28-11-1993) hơn hai năm sau cuộc hội thảo về Sóng lừng: “… Hơn hai năm trước, trong một cuộc hội thảo về cuốn tiểu thuyết viết về mafia, tôi là người chống. Nay thì tôi đổi ý! Tham nhũng, quốc nạn đúng là Việt gian chính hiệu!...”. Nhà văn Nguyễn Quang Sáng gặp tôi, nói: “Triệu Xuân gan to lắm, mới dám viết như vậy. Không ai dám viết như vậy đâu!”. Thời đó có một số người phản đối tôi khi tôi cảnh báo rằng ở Việt Nam có mafia, trong guồng máy quản lý đất nước có mafia. Thậm chí có những người đao to búa lớn chụp cho tôi cái mũ chống nọ chống kia; nhưng rất may bạn đọc rất hoan nghênh và đặc biệt có những cán bộ lãnh đạo cao cấp -cụ thể là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh- tỉnh táo trong việc nhận xét về Sóng lừng. Nhờ thế Ban Bí thư đã thành lập Hội đồng Giám định Trung ương do nhà thơ Cù Huy Cận làm Chủ tịch Hội đồng, Phó Giáo sư Thái Ninh, Phó Trưởng ban Văn hóa Trung ương làm Phó Chủ tịch Hội đồng và bảy nhà văn, nhà lý luận phê bình văn học, có cả đại diện của A25 (Bộ Công an). Sau ba tháng các vị đó đọc, họp rồi kết luận là nhà văn Triệu Xuân không chống cái tốt, không chống Đảng. Đó là cuốn tiểu thuyết gây xôn xao, cuốn hút sự chú ý của dư luận, in năm 1991 và chỉ bán trong năm, sáu ngày là hết sạch. Sau mười bốn năm kể từ ngày tôi viết cuốn Sóng lừng, khi vụ án Năm Cam được phơi bày ra ánh sáng thì có rất nhiều điện thoại, thư gởi đến tôi, tỏ lời khen ngợi, chúc mừng và yêu cầu tái bản.


Đúng vậy, trong Sóng lừng, nhà văn Triệu Xuân đã cảnh báo có một số cán bộ có chức có quyền lớn mà thoái hóa biến chất, tham nhũng, đồng lõa với tội ác và trở thành công cụ cho bọn mafia chính hiệu. Nó không còn là mầm mống mafia mà thật sự là mafia kiểu Việt Nam. Thực tế còn khủng khiếp hơn rất nhiều những gì mà nhà văn Triệu Xuân viết trong Sóng lừng, như vụ án ma túy Vũ Xuân Trường, và đặc biệt là vụ Trương Văn Cam và đồng bọn, trong đó có những vị quyền cao chức trọng mà nếu không kịp thời vạch mặt, phanh phui có thể “ngoi” lên những chức vụ cao hơn trong Đảng và Quốc hội! Sóng lừng là lời cảnh báo đầy trách nhiệm công dân.


Nhưng khi phê phán, lên án tội ác, nhà văn Triệu Xuân luôn luôn khẳng định ánh sáng chứ không phải xã hội toàn bóng tối. Ngay cả ngành công an lúc đó, những trang văn đẹp nhất dành cho những chiến sĩ công an và những người dân dũng cảm chống lại cái ác để bảo vệ chân lý, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ tư cách con người. Họ luôn luôn chịu thiệt thòi vì thân cô thế cô, có những người xả thân vì nghĩa lớn, có những người bị sát hại một cách oan ức. Đó là cái tâm của người viết để tôn vinh họ, bảo vệ họ chứ không vơ đũa cả nắm, “chửi đổng”, không trùm lên toàn xã hội bóng đen tội ác. Hiện trạng xã hội vào những năm đó nhiễu nhương, có lúc cái tiêu cực tạm thời lấn lướt; nhưng xã hội vẫn đi lên theo chiều hướng cái trong sáng thắng chứ không phải cái đen tối thắng. Bởi vì trong xã hội phần lớn là những người có tâm huyết, có nhân tính, tư cách, chứ xã hội đâu phải chỉ rặt những kẻ kiến tài ám nhãn... Nhà văn Triệu Xuân giàu lòng tin vào lẽ phải vào những điều tốt đẹp, đầy ý thức trách nhiệm công dân trong việc đóng góp, xây dựng một xã hội công bằng - dân chủ - văn minh.


Từ những năm đầu thập kỷ Tám mươi của thế kỷ 20, Triệu Xuân là một trong số không nhiều đã lao vào những vấn đề nóng bỏng nhất của xã hội, trực diện phê phán những mặt trái của hiện thực xã hội, nhất là một bộ phận cán bộ thoái hóa, biến chất, đồng lõa, tiếp tay cho bọn tội phạm… Tính dự báo rất cao đó là một trong những thế mạnh của Triệu Xuân. Phần lớn kết thúc ở các tiểu thuyết của Triệu Xuân không có hậu, kết thúc bỏ lửng; người đọc đồng cảm với nhà văn khi hiện thực cuộc sống vốn dĩ là như thế…


Phóng viên: Được biết nhà văn đang viết về người Sài Gòn trong thời kỳ công nghiệp hóa?


Nhà văn Triệu Xuân: Tôi không ngừng sáng tác, dù công việc ở Nhà xuất bản quá nhiều, rất khó dành thời gian cho sáng tác, lại còn bệnh tật nữa! Tôi vừa viết xong tiểu thuyết Cõi mê. Đây là tiểu thuyết viết về sự tha hóa của con người trong thời hiện đại. Bối cảnh là một thành phố lớn nhất đất nước có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa sôi động, mạnh mẽ nhất nước. Thông qua số phận từng nhân vật trong một gia đình, tôi muốn phản ánh tâm thế con người ta sẽ ra sao, tình yêu sẽ ra sao hay chỉ còn là tình dục thuần túy, tình cảm bạn bè, sự gắn bó gia đình có còn hay tan biến… khi đối diện với những thay đổi đến chóng mặt do tác dộng của đồng tiền, của nếp sống công nghiệp, của văn minh phương Tây, văn minh châu Á ồ ạt tràn vào…


Thấm thoắt đã hơn ba mươi hai năm trôi qua, kể từ ngày tôi rời Hà Nội, vượt Trường Sơn vào Nam và trụ lại đến nay, coi Sài Gòn là quê hương thứ hai của mình. Tôi đang ở một căn hộ chung cư, lầu hai, mãi tới năm ngoái mới vay đủ tiền hóa giá! Nhiều người chê trách tôi sao vô Nam sớm mà không lo nổi cái nền nhà! Tôi chỉ biết cười! Đời người, thiếu gì chuyện có phải cứ biết là làm được đâu! Âu cũng là cái số! Văn xương, văn khúc thì sáng, nhưng thổ trạch thì không! Những người như tôi, sống bằng ngòi bút, đủ ăn là giỏi rồi, lo cho các con ăn học thành Người là may lắm rồi, làm sao mua nổi nhà riêng hả Trời?


Phóng viên: Trở lại công việc, từ khi làm Trưởng Chi nhánh Nhà xuất bản Văn học, anh đã thực hiện những bộ sách có giá trị, điều gì thôi thúc anh?


Nhà văn Triệu Xuân: Trong vòng năm năm qua, Chi nhánh Nhà xuất bản Văn học đã thực hiện nhiều đầu sách có giá trị văn học, trong đó phải kể đến hàng chục tuyển tập, toàn tập, cùng nhiều hợp tuyển văn học trong nước, ngoài nước như: Tuyển tập Bình Nguyên Lộc, Tuyển tập Vương Hồng Sển, Tuyển tập Nguyễn Hiến Lê…


Riêng tôi, đã làm Tuyển tập Vũ Bằng (Nhà xuất bản Văn học, 2000), được bạn đọc rất hoan nghênh, và mới ra mắt Lê Văn Trương - Tác phẩm chọn lọc (gần hai ngàn trang khổ lớn 16x24cm); Vũ Bằng toàn tập (4 tập, gần bốn ngàn trang khổ lớn); Hợp tuyển Văn học Đức, đã phát hành tập hai hơn 1300 trang khổ lớn, hiện nay chuẩn bị ra tập ba và tập thứ tư (sẽ lần lượt ra trọn bộ tám tập khoảng từ tám ngàn đến mười ngàn trang khổ lớn).


Bên cạnh đó, tôi vẫn lẳng lặng đi và viết! Năm 2005, Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã xuất bản tiểu thuyết Cõi mê của tôi, in lần đầu hai ngàn bản bán hết, ba tháng sau tái bản và đang chuẩn bị in lần thứ ba. Quý I năm 2006 tái bản cùng lúc Những người mở đất, Nổi chìm trong vòng xoáy. Đang in lần thứ sáu và bảy hai tiểu thuyết là Bụi đời và Trả giá. Hiện tôi đang làm những tuyển tập và hợp tuyển văn học mới, đó là sự tiếp nối niềm đam mê rất lớn về văn học.


Phóng viên: Cụ thể những tác phẩm mới nào, thưa anh?


Nhà văn Triệu Xuân: Tôi đang tuyển chọn những tiểu thuyết hay về lịch sử để đưa vào hệ thống thư viện trường học các cấp, từ tiểu học trở lên. Tôi nghĩ, thông qua tiểu thuyết lịch sử, con em chúng ta sẽ hứng thú với môn sử, hiểu kỹ càng lịch sử dân tộc, từ đó mà có ý thức vươn lên lập thân lập nghiệp, góp phần xây dựng đất nước sánh vai với các nước văn minh! Hiện nay, học sinh của chúng ta có thể giỏi về các môn khoa học tự nhiên, tin học, ngoại ngữ, nhưng về lịch sử, về văn chương thì… rất đáng buồn! Nhiều cuộc thi trên truyền hình và ở các kỳ thi khác, có em học sinh (và cả giáo viên!) lầm lẫn đến tội nghiệp: Hỏi sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội còn có tên là sông gì, không biết! Sông Thu Bồn ở tỉnh nào, trả lời: Tỉnh Đồng Nai! Anh hùng Lương Sơn Bạc là của… Việt Nam, Hai Bà Trưng khởi nghĩa năm 1940, hay Lý Thường Kiệt làm quân sư cho Lê Lợi!... Tháng 9 năm 2006, chúng tôi cho ra mắt Tuyển tập Truyện lịch sử gồm mười sáu tác phẩm của nhà văn Hoài Anh. Kế đó là Truyện chọn lọc viết cho thiếu nhi của nhà văn Trần Hoài Dương. Cuối năm, chúng tôi tiếp tục cho ra mắt Tuyển tập của một số nhà văn nổi tiếng, như Tuyển tập Lan Khai, Tuyển tập Vũ Hạnh, Tuyển tập Viễn Phương… Bộ hợp tuyển tác gia và tác phẩm gần bốn ngàn trang 16 x 24 cm mang tên Văn học Việt Nam nơi miền đất mới ra mắt vào đầu năm 2007 sẽ là bộ sách nối tiếp loạt tác phẩm tuyển tập về các nhà văn lâu nay bị khuất lấp. Họ là kho báu tinh thần của nền văn học, văn hóa dân tộc. Tôi vẫn kiên trì theo đuổi việc biên soạn những tuyển tập của các nhà văn sống và viết ở Sài Gòn trước năm 1975, trọn đời tha thiết với dân tộc, yêu nước thương nòi…


Xin cảm ơn nhà văn Triệu Xuân!


Nguyễn Tý thực hiện


Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 12-2003.   


Nguồn: Lấp lánh tình đời. NXB Văn học, 2007. Rút từ sách Chân dung Văn nghệ sĩ miền Nam của Nguyễn Tý. NXB Hội Nhà văn, 2006.


- In lần đầu trên báo Kinh tế Nông thôn cuối tuần, số 20 (20/26-12-2003). 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Khi ngòi bút chạm được vào nỗi đau cùng niềm vui của nông dân - Đọc tiểu thuyết Đất thức của Trương Thị Thương Huyền - Phạm Ngọc Hiền 25.06.2019
Đinh Thị Thu Vân - những câu thơ em viết mất linh hồn - Trần Mạnh Hảo 25.06.2019
Những bài viết về nhà văn Phùng Phương Quý - Nhiều tác giả 25.06.2019
Tô Thùy Yên nói về Thơ - Tô Thùy Yên 24.06.2019
“Mắt thơ” – Góc nhìn mới về phong trào Thơ Mới - Hà Thủy Nguyên 24.06.2019
Trải nghiệm phân tâm học của tôi - Đỗ Lai Thúy 24.06.2019
Những giai điệu thơ Tiệp Khắc - Đỗ Quyên 21.06.2019
Côn Sơn ca của Nguyễn Trãi - Vũ Bình Lục 20.06.2019
Về bộ ba nhà thơ Ngô Quân Miện, Trần Lê Văn và Quang Dũng - Vũ Từ Trang 20.06.2019
Người say trong tỉnh, tỉnh trong say - Vũ Từ Trang 12.06.2019
xem thêm »