tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30516209
Tiểu thuyết
20.11.2009
A. Dumas
Hai mươi năm sau

Và người ta trông thấy anh dừng lại ở một kỷ niệm.


– Tôi biết là chuyện ấy kinh hoàng thật, – D’Artagnan nói, – nhưng khi nghĩ rằng chúng ta đã giết những người Anh, những người dân thành La Rochelle, bọn Tây Ban Nha, cả người Pháp nữa, họ chẳng làm điều gì ác nào khác ngoài việc nhằm bắn chúng ta nhưng bắn hụt, họ chẳng có điều sai lầm nào khác ngoài việc chạm kiếm với chúng ta và không kịp đỡ, tôi xin tự biện giải cho mình trong vụ giết người đàn bà ấy, xin lấy danh dự mà thề như vậy.


– Còn tôi, – Porthos nói, – bây giờ các anh nhắc lại chuyện ấy. Athos ạ, tôi thấy quang cảnh ấy hiện lại rành rành như lúc mình đã chứng kiến: Milady ở chỗ kia, anh ở đấy (Athos tái mặt); còn tôi ở chỗ D’Artagnan đang ngồi đây. Tôi đeo bên mình một thanh kiếm sắc như nước... Aramis, cậu còn nhớ thanh kiếm ấy chứ? Cậu vẫn gọi nó là Balizarde mà. Thật đấy, tôi xin thề với cả ba anh rằng, nếu như không có gã đao phủ xứ Béthune ở đấy... Xứ Béthune phải không nhỉ?... Phải, nếu không có hắn ở đấy, thì thực tình tôi đã chém cổ con mụ phản trắc ấy một nhát đứt phăng không cần làm lại, mà dù có phải làm lại đi nữa... Đó là một mụ đàn bà độc ác.


Với các giọng điệu triết lý vô tư mà anh có từ khi đi tu nhà thờ và trong đó chất vô thần nhiều hơn tin tưởng ở Chúa, Aramis nói:


– Mà nghĩ đến tất cả những chuyện ấy làm gì kia chứ. Việc gì đã xong là xong rồi. Việc ấy chúng ta sẽ xưng tội vào lúc lâm chung, và Chúa sẽ hiểu rõ hơn chúng ta đó là một tội ác, một lỗi lầm hay là một hành động đáng khen thưởng. Các anh bảo tôi có hối hận không ư? Thực tình là không. Xin thề trên danh dự và trên cây thánh giá, và tôi chỉ ân hận vì người ấy là đàn bà.


– Cái điều đáng yên tâm nhất trong tất cả câu chuyện ấy, – D’Artagnan nói, – là nó không còn để lại một dấu tích gì.


– Mụ ấy có một đứa con trai, – Athos nói.


– À phải, tôi biết rõ, – D’Artagnan nói, – và anh cũng đã nói với tôi: nhưng ai biết nó bây giờ ra sao? Rắn chết thì hết đời ổ trứng! Anh tưởng rằng De Winter bác của nó đã nuôi nấng con rắn con đó sao? De Winter sẽ kết tội đứa con trai như đã kết tội me nó.


– Thế thì, – Athos nói, – thật tai họa cho De Winter, bởi vì đứa con chưa thấy làm gì.


– Thằng bé ấy chết rồi, không thì quỉ bắt tôi đi, – Porthos nói. – Theo D’Artagnan nói thì ở cái xứ sở khốn khổ ấy, sương mù lúc nào cung dày đặc, ít ra thì...


Vào cái lúc mà câu kết luận ấy của Porthos có lẽ sắp tô lại niềm vui trên những vầng trán ít nhiều u ám ấy, thì có tiếng động vang lên ở cầu thang và có tiếng gõ cửa.


– Cứ vào, – Athos bảo.


– Thưa các ông, – chủ quán nói, – có một tên hầu có việc rất gấp xin gặp một trong các ông ở đây.


– Gặp ai? – Cả bốn người cùng hỏi.


– Gặp vị nào là bá tước De la Fère.


– Tôi đây, – Athos nói, – thế tên hầu ấy tên là gì?


– Grimaud.


– A! – Athos tái mặt thốt lên. – Hắn đã về rồi ư? Có chuyện gì xảy ra với Bragelonne rồi chăng?


– Cho hắn vào! – D’Artagnan bảo. – Cho hắn vào!


Nhưng Grimaud đã lên hết cầu thang và đang đợi ở thềm; bác lao vào trong phòng và ra hiệu bảo chủ quán đi ra.


Chủ quán đóng cửa lại. Bốn người bạn đợi chờ. Vẻ xáo động của Grimaud, khuôn mặt tái mét và ròng ròng mồ hôi, bụi bậm lấm đầy quần áo bác, tất cả báo hiệu rằng bác mang đến một tin quan trọng và khủng khiếp nào đó.


– Thưa các ông, – bác nói, – người đàn bà ấy có một đứa con, đứa con ấy đã thành người lớn; hổ cái có một hổ con, con hổ ấy đã được thả ra, nó sẽ tìm đến các ông, phải đề phòng!


Athos nhìn các bạn với một nụ cười buồn thảm.


Porthos tìm thanh kiếm ở bên mình, nó được treo ở tường; Aramis vớ con dao; D’Artagnan đứng dậy và hỏi:


– Bác định nói gì vậy, Grimaud?


– Con trai của Milady đã rời nước Anh, nó đang ở Pháp, đi đến Paris nếu không phải là nó đã có mặt ở đây rồi.


– Quái quỉ thật! – Porthos nói, – bác có chắc chắn không?


– Chắc! – Grimaud đáp.


Một lát im lặng dài tiếp đón điều tuyên bố ấy.


Grimaud thở hổn hển, mệt rã rời ra và ngồi phịch xuống ghế. Athos rót một cốc champagne và đưa bác.


– Ồ! Dù sao, – D’Artagnan nói, – nếu nó còn sống, nếu nó đến Paris, thì chúng ta cũng đã thấy lắm chuyện ghê gớm hơn thế! Nó cứ việc đến!


– Phải, – Porthos vuốt ve bằng ánh mắt thanh kiếm treo trên tường và nói: – chúng ta chờ đợi, nó cứ việc đến!


– Vả chăng nó cũng chỉ là một đứa trẻ con, – Aramis nói.


– Trẻ con? – Grimaud nói. – Ông có biết cái thằng trẻ con ấy đã làm gì không? Cải trang làm mục sư, hắn đã khám phá ra tất cả câu chuyện do nghe đao phủ xứ Béthune xưng tội, và sau khi đã nghe xong, sau khi đã biết rõ tất cả, để xá tội, hắn đã cắm vào tim kẻ sám hối lưỡi dao găm này đây. Các ông xem, lưỡi dao vẫn còn đỏ lòm và ẩm ướt, vì nó được rút ra khỏi vết thương chưa đầy ba mươi tiếng đồng hồ.


Và Grimaud quẳng lên giường con dao mà gã mục sư đã để quên trong vết thương của tên đao phủ.


D’Artagnan, Porthos và Aramis đứng bật dậy và thình lình chạy cả ra chỗ để kiếm.


Riêng Athos vẫn ngồi ở ghế, bình tĩnh và trầm ngâm.


– Grimaud, bác bảo là hắn mặc áo mục sư à?


– Vâng, mục sư Augustin.


– Người như thế nào?


– Theo chủ quán nói thì hắn trạc vóc người tôi, gầy, da tai tái, mắt xanh nhạt và tóc hoe vàng.


– Và... hắn không gặp Raoul chứ? – Athos hỏi.


– Trái lại, họ đã gặp nhau và chính tử tước đích thân dẫn hắn đến bên giường kẻ sắp chết.


Athos không nói một lời, đứng dậy và đến lượt mình ra lấy thanh gươm.


– Ái chà! Các cậu ơi! – D’Artagnan gượng cười nói, – các cậu có thấy rằng chúng ta có vẻ giống như các tiểu thư liễu yếu đào tơ không? Thế nào mà chúng ta, bốn người đàn ông đã từng đương đầu với những đội quân mà chẳng hề phải chau mày, bây giờ lại run sợ trước một đứa trẻ con ư!


– Ừ! – Athos nói, – nhưng đứa trẻ con ấy nhân danh Chúa mà đến.


Và họ vội vã ra khỏi khách sạn.


38.

Bức thư của Charles đệ nhất


Bây giờ bạn đọc cần vượt sông Seine cùng chúng tôi và đi theo chúng tôi đến tận cổng tu viện các nữ tu sĩ dòng Carmélite ở phố Saint-Jacques.


Lúc này là mười một giờ sáng và các bà xơ sùng tín vừa mới đọc kinh mừng chiến thắng của vua Charles I ([1]).


Ra khỏi giáo đường, một người đàn bà có một cô gái vận đồ đen, một người trông như bà góa, một người như trẻ mồ côi, lại trở về tăng phòng của mình.


Người đàn bà quì trên một chiếc ghế quì gỗ sơn, và cách đó vài bước cô gái đứng tựa vào một chiếc ghế tựa và khóc.


Người đàn bà xưa chắc hẳn xinh đẹp, nhưng ta thấy rõ nước mắt đã làm bà già đi. Cô gai thì đẹp tuyệt và những giọt lệ càng làm cô đẹp thêm. Người đàn bà trông khoảng bốn mươi tuổi; cô gái trạc mười bốn.


– Lạy Chúa! – Người đàn bà quì nói, – xin hãy cho chồng tôi sống, xin hãy cho con trai tôi sống, và xin cứ lấy đi cuộc đời buồn thảm và khốn khổ của tôi.


– Lạy Chúa! – Cô gái nói, – xin hãy phù hộ cho mẹ tôi!


– Mẹ của con không thể làm được gì nữa cho con ở trên cõi đời này, Henriette ạ, – người đàn bà đau buồn đang cầu kinh quay lại nói. – Mẹ của con chẳng còn ngai vàng, chẳng còn chồng, con, tiền bạc, bạn bè. Con gái tội nghiệp của mẹ ơi, mẹ con bị cả thiên hạ bỏ rơi rồi.


Rồi bà ngã vào trong cánh tay con gái, cô vội đỡ lấy bà va bà cứ thế mà khóc nức khóc nở.


– Mẹ ơi, hãy can đảm lên nào! – Cô gái nói.


Bà mẹ tựa vào vai con mà nói:


– Ôi! Năm nay các vua chúa đến là khốn khổ; và chẳng có ai ở cái đất nước này nghĩ đến chúng ta vì ai nấy chỉ nghĩ đến việc riêng của mình. Khi anh con còn ở với chúng ta thì nó còn đỡ đần mẹ; nhưng anh con ra đi rồi và lúc này chẳng có thể báo tin tức về cho mẹ hay bố nữa. Mẹ đã cầm cố những đồ tư trang cuối cùng của mẹ, bán quần áo của mẹ và của con để trả tiền công cho bọn đầy tớ của anh con, chúng từ chối đi theo anh con, nếu mẹ không làm cái việc bất thường ấy. Bây giờ chúng ta chỉ còn nước sống nhờ vào các con gái của đức Chúa. Chúng ta là những kẻ nghèo khổ được Chúa cưu mang.


– Thế tại sao mẹ không nói với Hoàng hậu là em gái của mẹ? – Cô gái hỏi.


– Than ôi! – Người đàn bà đau khổ nói – hoàng hậu em của mẹ không còn là hoàng hậu nữa con ạ, va một kẻ khác đã trị vì bằng danh nghĩa của bà ấy. Một ngày kia con sẽ hiểu ra điều đó.


– Thế thì nói với vua là cháu của mẹ. Mẹ có muốn để con nói không? Mẹ biết rằng vua yêu nmến con lắm mà.


– Than ôi! Nhà vua cháu của ta chưa phải là vua, và con biết đấy, Laporte đã noi với chúng ta hàng chục lần rằng bản thân nhà vua cũng thiếu thốn mọi thứ.


– Thế thì chúng ta thưa với Chúa vậy, – cô gái nói, và cô quì xuống bên cạnh mẹ.


Hai người đàn bà quì như vậy trên cùng một ghế quì để cầu nguyện; đó là con gái và cháu gái của vua Henri IV, vợ và con gái vua Charles I.


Họ kết thúc lời cầu nguyện đôi của họ thì một nữ tu sĩ cào nhè nhẹ vào cánh cửa căn phong.


– Cứ vào, xơ ạ, – người mẹ nói và vừa lau nước mắt vừa đứng dậy.


Nữ tu sĩ mở hé cửa một cách cung kính và nói:


– Xin Lệnh bà thứ lỗi cho nếu như tôi quấy ray việc suy ngam của Lệnh bà; nhưng ở phòng nói chuyện có một vị công hầu ngoại quốc từ nước Anh đến và xin được trình Lệnh bà một bức thư.


– Ô! Một bức thư! Có lẽ một bức thư của vua; chắc là tin tức của cha con! Con có nghe không đấy, Henriette?


– Thưa mẹ, có ạ! Con đang chờ va hy vọng.


– Thế vị công hầu ấy là ai vậy?


– Một vị quí tộc chừng bốn mươi lăm đến năm mươi tuổi.


– Tên là gì? Ông ta có xưng tên không?


– Milord de Winter.


– Milord de Winter! – Hoàng hậu reo lên, – bạn của chồng ta! Này! Cho vào ngay, cho vào ngay.


Và hoàng hậu chạy ra đón vị sứ giả mà bà nắm lấy tay với vẻ sốt sắng.


Milord de Winter vào tăng phòng, quì xuống và dâng hoàng hậu một bức thư cuốn trong một cái túi bằng vàng.


– A, Milord! – Hoàng hậu nói, – ông mang đến cho chúng tôi ba thứ mà từ lâu lắm rồi, chúng tôi không được nhìn thấy: vàng, một người bạn tận tụy và một bức thư của vua là chồng và vị chúa tể của tôi.


De Winter lại cúi chào, nhưng không đáp lại được câu nào, ông đang xúc động sâu sắc.


Hoàng hậu trỏ vào bức thư mà nói:


– Milord, ông hiểu rằng tôi đang nóng lòng biết bức thư nói gì.


– Thưa Lệnh bà, tôi xin cáo lui, – De Winter nói.


– Không, ông ở lại đây; – hoàng hậu nói, – chúng tôi sẽ đọc thư trước mặt ông. Ông không biết rằng tôi có hàng nghìn điều muốn hỏi ông sao?


De Winter lùi lại mấy bước và đứng im lặng.


Bà mẹ và cô con gái cũng lùi lại phía cửa sổ, cô gái vịn vao cánh tay mẹ, và hai người ngốn ngấu đọc bức thư sau đây:


“Mệnh phụ và vợ thân yêu của tôi,


Chúng tôi đã tới giới hạn cùng cực rồi. Tất cả những lực lượng mà Chúa để lại cho tôi đang tập trung ở trại Naseby này, nơi tôi viết vội cho bà. Ở đây tôi chờ đợi quân đội của bọn quần thần phiến loạn của tôi, và tôi sẽ chiến đấu một trận cuối cùng với chúng. Chiến thắng, tôi sẽ kéo dài mãi mãi cuộc chiến đấu; thất bại, tôi sẽ hoan toàn đi đứt. Tôi muốn rằng trong trường hợp sau (than ôi! Khi người ta đã đến nông nỗi này thì cứ phải phòng bị mọi thứ), tôi muốn thử đi tới bờ biển nước Pháp. Nhưng liệu người ta có thể, liệu người ta có muốn tiếp đon một ông vua bất hạnh sẽ mang lại một tấm gương bi thảm cho một đất nước đã nổi loạn vì những bất hòa nội bộ hay không? Sự khôn ngoan và tình yêu thương của bà sẽ là kẻ dẫn đường cho tôi. Người mang lá thư này sẽ nói với bà những điều mà tôi không thể gửi gắm cho một sự rủi ro bất ngờ. Ông ta sẽ giải thích việc tôi nhờ bà vận động. Tôi cũng nhờ ông ta chuyển lời ban phước lành của tôi cho các con, và tất cả những tình cảm của lòng tôi đến bà, người mệnh phụ và vợ yêu dấu của tôi”...


Bức thư được ký tên đáng lẽ là “Charles, vua”, thì lại ghi là “Charles, vẫn còn là vua”.


De Winter theo dõi những biểu hiện trên nét mặt hoàng hậu qua việc đọc thư buồn thảm ấy, tuy nhiên mắt bà ánh lên một tia hy vọng.


– Thì ông ấy không là vua nữa! – Bà kêu lên, – Ông ấy bị bại trận, bị lưu đày, bị tước quyền cũng được, miễn là ông ấy sống! Than ôi! Ngai vàng là một vị trí quá gian nguy nên tôi cũng chẳng mong ông ấy ở lại làm gì. Nhưng này Milord, – hoàng hậu nói tiếp, – xin ông đừng giấu giếm tôi, nhà vua hiện nay thế nào rồi? Địa vị của vua có đến nỗi quá thất vọng như ông ấy nghĩ không?


– Chao ôi, thưa Lệnh bà, con đáng thất vọng hơn ông ấy nghĩ nữa kia. Hoàng thượng có tấm lòng thật là tốt đến nỗi không hiểu sự thù ghét, thật là trung hậu đến nỗi không đoán ra sự phản bội. Nước Anh đang bị nhiễm một tinh thần hôn mê thác loạn mà tôi sợ rằng nó chỉ tan đi trong biển máu.


– Thế còn Lord Montrose? – Hoàng hậu nói. – Tôi có nghe nói đến những thành công to lớn và nhanh chóng, những trận thắng ở Inverlochy, ở Auldearn, ở Alford và ở Kilsyth. Tôi nghe nói ông ấy đang hành quân ra biên giới để đi theo nhà vua.


– Vâng thưa Lệnh bà, nhưng ở biên giới ông ta đã gặp Lesley. Sau bao nhiêu những cố gắng phi thường ông ta đã làm cho chiến thắng phải chán nản, và chiến thắng đã bỏ rơi ông ta. Bị thua trận ở Philiphaugh, Montrose buộc phải giải ngũ số tàn quân, và cải trang thành tên hầu để trốn. Hiện giờ ông ta ở Bergen thuộc Na Uy.


– Cầu Chúa phù hộ cho ông ấy! – Hoàng hau nói. – Ít ra thì cũng là một điều an ủi khi biết rằng những người đã bao lần vào sinh ra tử vì chúng ta vẫn được an toàn. Và bây giờ xin Milord cho biết địa vị của nhà vua hiện nay. Có thế nào ông cứ nói thế, nghĩa là đang thất vọng chứ gì. Vị vương quân của tôi có gì nhắn nhủ xin ông cho biết.


– Thưa bà, – Winter nói, – Đức vua mong muốn rằng bà cố đi sâu tìm hiểu tình cảm của nhà vua và hoàng hậu ở nước này đối với ngài.


– Than ôi! Ông biết đấy, – Hoàng hậu đáp, – vua vẫn còn là một đứa trẻ và hoàng hậu là một người đàn bà, rất yếu đuối là khác. Ông Mazarin là tất cả.


– Phải chăng ông ta muốn sắm ở Pháp vai trò mà Cromwell đang sắm ở Anh?


– Ồ, không! Đó là một người Ý mềm mỏng và quỉ quyệt, có thể ông ta mơ đến tội ác mà không dám phạm tội ác, và trái hẳn lại với Cromwell được cả hai viện ủng hộ, Mazarin chỉ có hoàng hậu ủng hộ trong cuộc đấu tranh của mình vơi nghị viện.


– Thêm một lý do để ông ta che chở một ông vua mà các viện truy tố.


Hoàng hậu gật đầu với vẻ cay đắng. Bà nói:


– Milord ạ, theo tôi nhận xét thì giáo chủ sẽ chẳng làm gì cả, hoặc có thể chống lại chúng ta. Sự có mặt của tôi và con gái tôi ở Pháp đã đè nặng ông ta rồi, huống hồ sự có mặt của đức vua nữa.


Henriette mỉm cười buồn rầu và nói thêm:


– Thưa Milord, thật đáng buồn và xấu hổ phải nói ra, chứ chúng tôi đã trai qua mùa đông ở cung Louvre không có tiền, không có quần áo, hầu như không có bánh ăn và thường không dậy được vì thiếu lửa sưởi.


– Kinh khủng! – De Winter kêu lên. – Con gái của vua Henri IV, vợ của vua Charles I! Sao Lệnh bà không hỏi người đầu tiên của chúng tôi mà Lệnh bà gặp?


– Đấy, ông xem sự tiếp đãi dành cho một hoàng hậu của một tể tướng mà một ông vua đang muốn cầu xin.


– Nhưng tôi đã nghe nói đến một đám cưới giữa hoàng thân xứ Galles và cô D’Orléans, có đúngkhông? – De Winter hỏi.


– Phải, có 1úc tôi đã hy vọng. Bọn trẻ chúng nó yêu nhau, hoàng hậu lúc đầu tán thành chuyện yêu đương ấy, sau lại đổi ý kiến. Nhưng quận công D’Orléans, trước khuyến khích sự kết thân, sau cấm con gái mình nghĩ đến chuyện ấy. A! Milord ơi, – hoàng hậu chẳng buồn nghĩ đến việc lau nước mắt, nói tiếp: – Thà rằng chiến đấu như đức vua đã làm và chết như ngài có thể sắp sửa bị, còn hơn sống ăn mày như tôi đã trải qua.


– Xin Lệnh bà hãy can đảm lên, – De Winter nói, – hãy can đảm lên. Đừng có thất vọng. Lợi ích của chiếc ngai vàng nước Pháp lúc này đang lung lay tợn và phải chiến đấu chống lại cuộc nổi loạn của một dân tộc ở sát nách nhất. Mazarin là một nhà chính trị, ông ta sẽ hiểu sự cần thiết ấy.


– Nhưng mà, – hoàng hậu nói vẻ nghi ngờ, – ông có chắc rằng các ông không bị người ta vượt trước mình rồi không?


– Ai kia? – De Winter hỏi.


– Bọn Joyce, bọn Pride, bọn Cromwell ấy! Chà, một tên thợ may! Một tên đánh xe! Một tên làm rượu bia!


– Thưa Lệnh bà, tôi hy vọng rằng giáo chủ Mazarin sẽ không đi đến liên minh với những hạng người như thế.


– Thế bản thân ông ta là gì? – Bà hỏi.


– Nhưng vì danh dự của nhà vua, vì danh dự của hoàng hậu...


– Nào, chúng ta hy vọng rằng ông ta sẽ làm một cái gì đó vì cái danh dự ấy, – bà Henriette nói. – Milord ơi, ông làm tôi yên tâm với một người bạn có tài hùng biện như vậy. Ông hãy đưa tay cho tôi và chúng ta đến chỗ tể tướng.


– Thưa Lệnh bà, – De Winter vừa nói vừa nghiêng mình, – tôi thật bối rối vì vinh dự này.


– Nhưng cuối cùng nếu ông ta từ chối, – bà Henriette dừng lại nói, – và nếu đức vua thua trận thì sao?


– Thì Hoàng thượng sẽ trốn sang Hà Lan, tôi nghe nói đức ông Hoàng thân De Galles đang ở đó.


– Việc trốn tránh đó, Hoàng thượng có thể trông cậy vào nhiều bầy tôi như ông không?


– Than ôi! Không, thưa Lệnh bà, – De Winter nói, – nhưng trường hợp này cũng được lo trước, và tôi sẽ đi kiếm những đồng minh ở Pháp.


– Những đồng minh ư! – Hoàng hậu lắc đầu nói.


– Thưa Lệnh bà, – De Winter đáp, – tôi sẽ tìm lại những bạn cũ ngày xưa của tôi và tôi xin chịu trách nhiệm tất cả.


– Thôi ta đi đi, Milord, – hoàng hậu nói với cái vẻ hoài nghi xót xa của những người đã khổ cực lâu rồi, – thôi, ta đi nào, cầu Chúa nghe thấu ông.


Hoàng hậu trèo lên xe, và De Winter lên ngựa theo sau có hai tên hầu, đi theo bà ở bên cửa xe.


39.

Bức thư của Cromwell


Vào lúc bà Henriette rời tu viện Carmélite để đi đến Hoàng cung, thì một kỵ sĩ xuống ngựa ở trước cung vua và báo cho lính gác rằng y có một việc đại sự cần nói với tể tướng Mazarin.


Mặc dầu giáo chủ vẫn thường hay lo sợ, nhưng vì cần được nghe những ý kiến và tình hình nhiều hơn, nên ông ta vẫn dễ gần. Không phải ở ngưỡng cửa đầu tiên người ta gặp khó khăn thực sự; cửa thứ hai cũng qua được khá dễ dàng, nhưng ở cửa thứ ba, ngoài lính gác và môn lại, còn có gã Bernouin trung thành canh giữ, con chó ngao mà không một lời lẽ nào có thể làm xiêu lòng, không một cành nguyệt quế nào, dù nó có bằng vàng đi nữa, có thể mê hoặc.


Như vậy là ở cửa thứ ba, kẻ nào đến cầu khẩn hoặc yêu cầu một cuộc yết kiến phải chịu mot cuộc lục vấn rành rọt.


Người kỵ sĩ buộc ngựa ở hàng rào ngoài sân, leo lên cầu thang lớn và hỏi các lính gác ở gian phòng đầu tiên:


– Cho tôi gặp tể tướng Mazarin.


         Cứ vào! – Lính gác đáp mà không cần hếch mũi lên khỏi các quân bài hoặc những quân xúc xắc mà họ đang chơi, lại còn hí hửng để cho người ta hiểu rằng mình không phải làm nhiệm vụ của những tên hầu.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009 (sắp phát hành).


www.trieuxuan.info


 







[1]           Charles I (1600–1649), vua các nước Anh, Écosse và Irlande. Bị các tể tướng Buckingham, Strafford, giám mục Laođơ và cả vợ là Henriette Pháp quốc đẩy vào con đường chuyên chế, vua đã gây nên một sự chống đối dữ dội và một cuộc nội chiến. Cuối cùng bị bại trận và bị nộp cho quân của Cromwell, Charles I bị xử chém.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
83.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »