tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27644608
Tiểu thuyết
19.11.2009
Nikos Kazantzakis
Zorba tay chơi Hy Lạp

- Nói sếp đừng giận, tối nay chẳng santuri gì hết. Nếu tôi tiếp tục nói, nói tào lao, sếp có biết tại sao không? Bởi vì tôi có biết bao điều lo nghĩ chồng chất trong đầu. Cái đường hầm mới - ma quỷ bắt nó đi! - đang sắp làm tôi lộn tiết. Thế mà sếp lại bảo tôi chơi santuri.


Nói đoạn, lão cời những hạt dẻ ra khỏi đống tro, đưa cho tôi một nắm và rót rượu raki đầy ly của chúng tôi.


- Cầu Thượng Đế nghiêng bàn cân về bên phải, - tôi nói và cụng ly.


- Về bên trái! - Zorba chữa lại, - về bên trái! Cho đến nay, bên phải chả sản sinh ra cái gì tốt đẹp cả.


Lão nốc một hơi cạn ly sữa lỏng và nằm lên giường.


- Ngày mai, - lão nói, tôi sẽ cần đến toàn bộ sức lực của mình. Tôi sẽ phải chiến đấu với cả ngàn tên quỷ dữ. Chúc ngủ ngon.


*


* *


Hôm sau, từ tờ mờ sáng, Zorba đã biến xuống mỏ. Đám thợ đã tiến sâu thêm trong việc mở đường hầm theo vỉa than tốt. Nước rỉ qua trần hầm và họ lội bì bõm trong bùn.


Cách đây hai hôm, Zorba đã yêu cầu nhiều thân cây để chống lò, củng cố đường hầm. Nhưng lão vẫn không yên tâm. Những cột chống không lớn như yêu cầu và, với cái bản năng sâu sắc khiến lão cảm thấy mọi điều xảy ra trong thứ mê cung dưới đất này như chính trong thân thể mình, lão ngờ ngợ rằng những cột chống đó không lấy gì làm an toàn. Lão có thể nghe thấy những tiếng răng rắc rất nhỏ mà những lỗ tai khác chưa tiếp nhận được - như thể những cột kèo chống đỡ trần đang rên siết dưới sức nặng.


Một điều nữa làm tăng thêm nỗi bồn chồn của Zorba ngày hôm ấy. Đúng lúc lão sắp sửa xuống hầm thì cha Stephanos, thầy tư tế của làng, cưỡi la đi qua, hối hả phóng đến tu viện bên cạnh để làm lễ lâm chung cho một nữ tu sĩ đang hấp hối. May sao, trước khi cha đạo nói với lão, Zorba còn đủ thì giờ để nhổ xuống đất ba lần và tự véo mình.


- Chào cha! - Lão nhăn nhó đáp lại lời chào của thầy tư tế và nói thêm, giọng hơi nhỏ hơn:


- Cầu sao lời nguyền rủa của nhà ngươi nhằm vào ta!


Tuy nhiên, lão cảm thấy những sự phù phép xua tà ma ấy vẫn chưa đủ, cho nên lão đi xuống đường hầm mới, lòng bứt rứt.


Mùi than linhít và đất đèn bốc lên nồng nặc. Đám thợ đã khởi sự củng cố những xà dầm đỡ trần hầm. Zorba chào họ một cách cộc cằn, cáu kỉnh. Lão xắn tay áo lên, bắt tay vào việc.


Khoảng mười hai người đang bắt đầu cuốc vỉa mới và đánh đống than dưới chân, những người khác lấy xẻng xúc lên những xe goòng nhỏ chở ra.


Đột nhiên, Zorba dừng lại, ra hiệu cho đám thợ dừng theo và dỏng tai lên. Như người kỵ sĩ nhập làm một với con ngựa, thuyền trưởng với con tàu, Zorba cũng hòa đồng với mỏ. Lão có thể cảm thấy những phân nhánh của đường hầm như những mạch máu trong da thịt mình và những gì khối than đen không thể cảm thấy được, Zorba cảm thấy với sự sáng suốt hữu thức của con người.


Sau khi chăm chú lắng nghe bằng đôi tai to lông lá, lão ngó vào đường hầm. Đúng lúc đó, tôi tới. Tôi đã choàng tỉnh giấc như do một linh cảm nào đó, như có một bàn tay thúc đẩy. Tôi đã sấp ngửa mặc quần áo rồi lao ra mà không hề biết tại sao mình lại hớt hơ hớt hải thế, cũng chẳng biết mình đi đâu. Nhưng, thân thể tôi đã không ngần ngừ đi vào con đường dẫn tới mỏ. Tôi đến đúng vào lúc Zorba đang lo âu lắng nghe và ngó nhìn.


- Không có gì, - sau một lúc, lão nói. - Có một lúc, tôi tưởng... Không sao. Làm việc đi, các cậu.


Lão quay lại, trông thấy tôi và liền mắm môi:


- Sếp làm gì ở đây sớm thế?


Lão đến bên tôi.


- Sao sếp không lên trên kia hít thở chút không khí mát mẻ, sếp? - Lão thì thào. - Hôm khác, sếp hẵng đến đây đi dạo.


- Có chuyện gì thế, Zorba?


- Chẳng có gì... Tôi hoang tưởng đấy thôi. Sáng nay ra ngõ, tôi đụng phải một ông thầy tu. Thôi, sếp đi đi.


- Nếu có gì nguy hiểm mà tôi lại bỏ đi thì thật xấu hổ.


- Phải, - Zorba đáp.


- Bác có đi không?


- Không.


- Vậy thì sao tôi phải đi?


- Zorba phải làm gì, là một chuyện, lão bực bội đáp, những người khác phải làm gì, lại là chuyện khác! Nhưng nếu sếp cảm thấy bỏ đi là đáng xấu hổ thì sếp đừng đi. Hãy ở lại đây. Đó là việc riêng của sếp!


Lão cầm lấy một chiếc búa nặng và kiễng chân để đóng mấy cái đinh vào những xà đỡ trần. Tôi nhấc cây đèn đất ở một cái cột và đi tới đi lui trong bùn, nhìn vào vỉa than đen lấp lánh. Hẳn là hàng triệu năm trước đây, những khu rừng mênh mông đã bị nuốt chửng ở đây. Trái đất tiêu hóa và biến đổi con cái của nó. Cây biến thành linhít, linhít biến thành than, Zorba đến...


Tôi treo trả lại cây đèn ở cái đinh và quan sát Zorba làm việc: Lão hoàn toàn bị cuốn hút vào nhiệm vụ, không nghĩ đến bất cứ điều gì khác, lão hòa làm một với đất, với cây cuốc và với than. Lão liên kết với cây búa và đá trong cuộc đấu tranh với gỗ. Lão đau đớn với cái trần hầm võng xuống. Lão đấu với sườn núi để lấy than của nó bằng mưu trí và sức mạnh. Zorba có thể dò bắt trúng mạch than với một bản năng chắc chắn không thể lầm lẫn, và lão khôn khéo giáng đòn vào những chỗ yếu nhất có thể bị chinh phục. Và như cái bề ngoài của lão bây giờ, mình trát đầy bùn đất, chỉ thấy hai lòng trắng con ngươi long lanh, tôi thấy lão như ngụy trang bằng than, biến thành than để có thể tiếp cận kẻ địch bất ngờ và thâm nhập vào tuyến phòng thủ bên trong của nó.


- Hoan hô, Zorba! Tiến công đi! - Tôi kêu lên, say mê trong một niềm thán phục hồn nhiên.


Nhưng thậm chí lão cũng không ngoái lại nhìn. Làm sao lúc đó lão có thể nói chuyện với một con mọt sách chỉ biết cầm trong tay một mẩu bút chì khốn khổ, thay vì quai búa? Lão đang bận, lão không muốn nói. “Đừng có nói với tôi khi tôi đang làm việc”, một buổi tối, lão bảo vậy. “Tôi có thể gắt toáng lên đấy!” – “Gắt ư, Zorba? Tại sao?” - “Đấy, sếp lại “tại sao” với “thế nào” rồi! Cứ như trẻ con ấy! Làm sao tôi có thể giải thích được? Tôi thường hoàn toàn bị công việc choán hết mình, căng thẳng từ đầu đến chân và gắn chặt vào đá, hay vào than, hay vào cây đàn santuri. Nếu sếp thình lình chạm vào tôi hay nói với tôi và tôi cố quay lại, tôi có thể cáu gắt. Đó, sếp hiểu chưa?”.


Tôi nhìn đồng hồ. Mười giờ.


- Đã đến giờ nghỉ để ăn trưa, các bạn! - Tôi nói. - Các bạn làm việc quá giờ rồi.


Đám thợ lập tức ném dụng cụ vào một góc, lau mồ hôi trên mặt và chuẩn bị ra khỏi hầm. Hoàn toàn cuốn hút vào công việc, Zorba không nghe thấy gì. Ngay cả nếu có nghe thấy, lão cũng không nhúc nhích khỏi đó. Một lần nữa, lão lại lo âu lắng nghe.


- Khoan một lát, - tôi bảo đám thợ, - hút điếu thuốc đã.


Tôi lục túi trong khi anh em đứng xung quanh.


Đột nhiên, Zorba giật nẩy mình. Lão dán tai vào vách ngăn của đường hầm. Dưới ánh sáng của nhiều ngọn đèn đất, tôi thấy miệng lão há hốc, rúm ró.


- Có chuyện gì đấy, Zorba?


Nhưng ngay lúc đó, toàn bộ tầng hầm như rung lên trên đầu chúng tôi.


- Ra khỏi đây! - Zorba hét lên, giọng khàn đi. - Chạy đi!


Chúng tôi lao trở về phía cửa ra, nhưng chưa đến khung gỗ thứ nhất thì đã lại nghe một tiếng rắc rắc thứ hai to hơn ở trên đầu. Trong khi đó, Zorba nâng một thân cây lớn để chêm vào như một trụ chống lớp xà kèo đang rụn xuống. Nếu lão nhanh tay làm kịp, cây chống có thể đỡ trần hầm thêm mấy giây nữa, cho chúng tôi đủ thì giờ chạy thoát.


- Chạy đi! Zorba lại la, - nhưng lần này, giọng lão nghèn nghẹn như thể phát ra từ lòng đất vậy.


Với sự nhát sợ thường xâm chiếm con người trong những lúc gay cấn, tất cả chúng tôi ào ra, quên phắt Zorba. Nhưng sau vài giây, tôi định thần lại và chạy trở vào đường hầm.


- Zorba! - Tôi gào lên, - Zorba!


Chí ít tôi cũng nghĩ là mình đã gào lên. Về sau, tôi hiểu ra rằng tiếng kêu đó không thoát ra khỏi cổ họng tôi. Cái sợ đã bóp nghẹt tiếng tôi.


Tôi xấu hổ chín người. Tôi dang hay tay nhảy bổ về phía lão. Zorba vừa dựng chắc cây trụ lớn và đang chạy trượt trên bùn về phía cửa ra. Bổ nháo bổ nhào trong bóng tối, lão chồ phải tôi và ngẫu nhiên chúng tôi ngã vào vòng tay nhau.


- Chúng ta phải ra khỏi đây! - Lão hét lên. - Chạy đi!


Chúng tôi ra tới chỗ ánh sáng. Đám thợ thất đảm đã tụ lại ở cửa hầm và đang ngó vào trong.


Chúng tôi nghe thấy một tiếng gãy rụn thứ ba to hơn, như cái cây bị đánh toác trong dông bão. Rồi thình lình một tiếng rầm ghê sợ như sấm nổ, làm rung cả sườn núi, và đường hầm sập xuống.


- Lạy Chúa Toàn Năng! - Đám thợ thì thào, làm dấu Thánh giá.


- Các người bỏ cả cuốc xẻng trong đó rồi! - Zorba giận dữ la.


Đám thợ nín thinh.


- Tại sao các người không mang theo? - Lão lại tức tối quát. - Tôi dám chắc là các người đái ra quần! Mất toi cả đống dụng cụ hở?


- Ồ, Zorba, đây không phải lúc buồn phiền vì mấy cái cuốc, - tôi xen vào can. - Ta hãy lấy làm sung sướng vì tất cả đều lành lặn nguyên vẹn! Cảm tạ bác Zorba, vì tất cả chúng tôi chịu ơn bác cứu mạng.


- Tôi đang đói đây! - Zorba nói. - Đói rỗng cả ruột.


Lão lấy cái túi dết lão đã đặt trên một phiến đá, mở nắp và lấy ra một khúc bánh, ôliu, hành, khoai tây luộc và một bầu rượu nhỏ.


- Nào, các cậu, ta ăn thôi, - lão nói, - miệng nhồm nhoàm.


Lão ngốn ngấu rất nhanh, như thể vừa đột ngột tiêu hao rất nhiều sức lực, giờ muốn bồi bổ lại.


Lão chúi đầu về phía trước mà ăn, chẳng nói chẳng rằng. Lão cầm lấy bầu rượu, ngửa cổ cho rượu chảy úng ục xuống cuống họng khô cháy.


Đám thợ cũng lấy lại can đảm, mở túi dệt và bắt đầu ăn. Họ ngồi xếp bằng quanh Zorba, vừa ăn vừa nhìn lão. Họ muốn phủ phục dưới chân lão và hôn tay lão, nhưng họ biết lão vốn tính cộc cằn và kỳ lạ, nên không ai dám làm một cử chỉ gì.


Cuối cùng, Michelis, người lớn tuổi nhất có bộ ria rậm chớm bạc quyết định lên tiếng:


- Nếu không có thầy ở đây, thấy Alexis phúc hậu, chắc con cái chúng tôi giờ đây đã thành trẻ mồ côi.


- Im đi! - Zorba nhồm nhoàm nói, và không ai dám ho he một lời nào nữa.


 


 


10.


“Vậy thì ai đã tạo ra cái mê cung ấy của phân vân do dự, cái điện thờ ấy của kiêu sa, cái bình chứa tội lỗi ấy, cái cánh đồng với muôn ngàn hạt giống lọc lừa, cái cổng vào Địa Ngục, cái lẵng quả đầy tràn xảo quyệt, cái thứ thuốc độc ngọt như mật ong, cái dây xích cột chặt chúng sinh vào cõi trần này: đàn bà?”.


Tôi ngồi trên mặt đất cạnh lò than, chậm rãi và lặng lẽ chép bài ca Phật giáo ấy. Tôi thử hết cách phù phép này đến cách phù phép khác, cố xua đuổi khỏi tâm trí hình ảnh một tấm thân đàn bà đẫm nước mưa mà mùa thu này, đêm nào cũng diễu qua diễu lại trong không khí ẩm ướt trước mắt tôi với cặp mông uốn éo. Từ khi sập hầm, hụt chết, tôi cảm thấy nàng góa rạo rực trong mạch máu tôi. Nàng kêu gọi tôi như một con thú hoang, khẩn thiết và đầy trách móc.


- Đến đây! Đến đây! - Nàng kêu. - Cuộc đời qua mau như ánh chớp. Đến mau, mau lên, nào, kẻo rồi lại quá muộn!


Tôi thừa biết đó là Mara, Đệ nhất Ác Quỷ, dưới dạng một phụ nữ đùi ngon, mông mọng. Tôi cố chống lại. Tôi miệt mài viết cuốn Đức Phật như cách những người mông muội trong hang lấy đá nhọn khắc hoặc dùng màu đỏ và trắng vẽ những con thú hung dữ rình mò quanh họ. Bằng cách khắc và vẽ những con thú ấy, họ cũng gắng sức đóng đinh chúng thật chặt trên vách đá. Nếu họ không làm thế, chúng sẽ nhảy tới vồ họ.


Từ hôm tôi suýt bị đất đá đè chết, nàng sương phụ không ngừng qua lại trong không khí hừng hực bao trùm nỗi cô đơn của tôi, vẫy gọi tôi và đánh mông gợi tình. Ban ngày, tôi mạnh, đầu óc linh lợi và tôi có thể đánh bật nàng ra. Tôi viết chuyện Ma Vương cải dạng hiện ra trước Đức Phật như thế nào, nó hóa thành đàn bà áp đôi vú rắn chắc vào đầu gối nhà tu khổ hạnh ra sao, làm thế nào đức Phật thấy được hiểm nguy, huy động tất cả năng lực và đánh bại Ma Vương.


Mỗi câu tôi viết lên đều khiến tôi thêm nhẹ nhõm, tôi can đảm lên, tôi cảm thấy Ma Vương đang rút lui, bị xua đuổi bởi phép mầu trừ tà của ngôn ngữ. Ban ngày, tôi chiến đấu với tất cả sức lực của mình, nhưng ban đêm, tâm trí tôi buông vũ khí, cửa lòng bỏ ngỏ và sương phụ lẻn vào.


Sáng ra, tôi thức giấc, đại bại và kiệt lực. Và cuộc đấu tranh lại bắt đầu. Khi tôi ngẩng đầu lên khỏi tập giấy thì đã xế chiều, ánh sáng bị xua đi, bóng tối đột ngột chụp lấy tôi. Ngày ngắn dần. Sắp tới Nôen. Với tất cả sức lực, tôi lao vào cuộc đấu. Tôi tự nhủ: ta không đơn độc. Một sức mạnh lớn, ánh sáng ban ngày, cũng chiến đấu, cũng có khi thất bại, khi chiến thắng. Nhưng nó không hề tuyệt vọng. Ta cùng tranh đấu và cùng hy vọng với ánh sáng!


Tôi thấy hình như - và ý nghĩ này khiến tôi thêm can đảm - trong khi chiến đấu chống lại nàng góa, tôi cũng tuân theo một nhịp điệu chung vĩ đại. Tôi nghĩ: vật chất xảo quyệt đã chọn cái thân thể này để làm nguội dần và dập tắt ngọn lửa le lói trong tôi. Tôi tự nhủ: cái sức mạnh bất diệt biến vật chất thành tinh thần, là thuộc về thần thánh. Mỗi người mang trong mình một yếu tố của cơn lốc thần thánh và vì thế, có thể chuyển hóa bánh mì, nước uống và thịt thành tư tưởng và hành động. Zorba có lý: “Cho tôi biết anh làm gì với cái anh ăn, tôi sẽ nói cho anh biết anh là người như thế nào”.


Và như thế, tôi lao tâm khổ tứ ra sức biến cái ham muốn nhục dục mãnh liệt ấy thành truyện Đức phật.


- Sếp nghĩ gì vậy, sếp? Trông sếp như lạc thần trí, - Zorba nói với tôi vậy vào đêm Nôen. - Lão tinh ý, biết tôi đang phải đấu với con quỷ nào.


Tôi giả bộ không nghe thấy. Nhưng Zorba đâu có bỏ cuộc dễ dàng thế.


- Sếp còn trẻ, sếp ạ, - lão nói.


Rồi đột nhiên, giọng lão trở nên chua chát và giận dữ.


- Sếp còn trẻ và khá mạnh mẽ dẻo dai, sếp ăn uống tốt, hít thở không khí sảng khoái của biển và tích lũy năng lượng - nhưng thử hỏi sếp làm gì với tất cả những cái đó? Sếp ngủ một thân một mình, thật đáng tiếc cho những năng lượng ấy! Đêm nay, sếp đến đó đi - phải, đừng đắn đo mất thì giờ nữa! Sếp ạ, mọi sự ở thế gian này đều đơn giản. Tôi phải nói với sếp bao nhiêu lần nữa? Cho nên đừng có làm phức tạp sự đời!


Bản thảo cuốn Đức Phật để mở trước mặt tôi và tôi lật từng trang khi nghe Zorba nói, tôi ý thức rằng những lời đó chỉ cho tôi một con đường đi đảm bảo, hấp dẫn và rất người. Lại là quỷ Mara, tên macô xảo trá, lên tiếng gọi lần nữa.


Tôi lắng nghe, không nói một lời, và tiếp tục chậm rãi giở các trang bản thảo. Tôi huýt sáo để che giấu xúc động. Nhưng thấy tôi không nói, Zorba chợt kêu toáng lên.


- Đêm nay là đêm Giáng Sinh, bạn ơi, mau lên, hãy đến trước khi nàng đi lễ nhà thờ. Đêm nay, Chúa Kitô ra đời, sếp ạ, sếp cũng phải đi mà ra tay làm phép lạ chứ!


Tôi bực mình đứng dậy.


- Đủ rồi, Zorba, - tôi nói. - Mỗi người đi theo khuynh hướng riêng của mình. Con người giống như một cái cây. Có bao giờ bác cãi lộn với cây vả vì nó không ra quả anh đào không? Vậy thì chấm dứt nhé! Sắp nửa đêm rồi. Ta hãy đến nhà thờ để chính mắt xem Chúa ra đời.


Zorba kéo chiếc mũ dày mùa đông lên đầu.


- Thôi được, - lão nói, vẻ khổ sở. Nào thì đi! Nhưng tôi muốn sếp nên biết rằng Chúa Trời sẽ hài lòng hơn nhiều nếu sếp đến nhà mụ góa đêm nay như thượng đẳng thiên thần Gabriel. Nếu trước kia Chúa Trời cũng đi theo con đường như sếp thì Người ắt chẳng bao giờ tới được nhà Đức Mẹ Mary và Chúa Kitô ắt chẳng bao giờ giáng sinh. Nếu sếp hỏi tôi đức Chúa Trời đã theo con đường nào, tôi xin thưa: con đường dẫn đến nhà Mary. Mary chính là nàng góa đó.


Lão lặng lẽ và hoài công chờ tôi trả lời. Lão đẩy cửa và bước ra ngoài. Lão giận dữ đập đầu chiếc can xuống sỏi.


- Phải, lão khăng khăng nhắc lại. Mary chính là nàng góa.


- Nào ta đi! - Tôi nói.- Đừng có lớn tiếng.


Chúng tôi sải bước nhanh trong đêm đông. Trời trong vắt, sao lơ lửng trên không trung, thấp và to như những quả cầu lửa. Trong khi chúng tôi đi dọc theo bờ biển, đêm giống như một con thú lớn đen sì nằm dài bên mé nước.


“Từ đêm nay”, tôi tự nhủ, “ánh sáng mà mùa đông đã đẩy lùi sẽ bắt đầu chiến thắng. Như thể nó sinh ra đêm nay cùng với Chúa Hài Đồng”.


Tất cả dân làng chen chúc trong lòng nhà thờ ấm áp và thơm ngát. Đàn ông đứng trước và đàn bà chắp tay đứng đằng sau. Thầy tư tế Stephanos cao lớn đang trong một tình trạng bực tức sau tuần chạy bốn mươi ngày. Vận chiếc áo lễ nặng bằng vàng, ông sải cẳng chạy lăng xăng đây đó, vung vẩy chiếc bình hương, hát hết cỡ giọng và chỉ mong cho chóng đến lúc Chúa ra đời để về nhà chén món xúp đậm đặc, xúc xích thơm ngon và thịt sấy.


Nếu Kinh Thánh viết: “Hôm nay, ánh sáng ra đời”, trái tim con người ắt chẳng rộn ràng xúc động. Cái ý ấy ắt chẳng trở thành một huyền thoại và chinh phục thế giới. Nó chỉ mô tả một hiện tượng vật lý bình thường và ắt đã chẳng kích thích trí tưởng tượng của chúng ta - tôi muốn nói linh hồn chúng ta. Nhưng cái ánh sáng ra đời giữa mùa đông lại trở thành một hài nhi và hài nhi đó lại trở thành Chúa Trời, và đã hai mươi thế kỷ nay, linh hồn chúng ta nuôi nấng nó...


Nghi thức thần bí chấm dứt sau nửa đêm một chút. Chúa Kitô đã giáng sinh. Dân làng, sung sướng nhưng đói mềm, chạy về nhà để ăn tiệc và cảm thấy tận đáy ruột cái huyền bí trong sự hiện thân của Chúa. Cái bụng là nền móng vững chắc, bánh mì, rượu, thịt là những thứ thiết yếu đầu tiên, chỉ bằng bánh mì, rượu và thịt, người ta mới tạo ra Chúa Trời được.


Sao lấp lánh, to lớn như thiên thần trên mái vòm màu trắng của nhà thờ. Dải ngân hà như một dòng sông vắt ngang bầu trời, từ bên này sang bên kia. Một vì sao xanh biếc nhấp nháy trên đầu chúng tôi như một viên ngọc bích. Tôi thở dài, tràn ngập xúc động.


Zorba quay sang tôi:


- Sếp này, sếp có tin thế không? Tin rằng Chúa Trời hiện thân thành người và ra đời trong một cái chuồng bò? Sếp có tin thế không, hay sếp chỉ giễu chúng tôi mà thôi?


- Thật khó nói, Zorba ạ, - tôi đáp. - Tôi không thể khẳng định là mình tin mà không thể phủ định. Còn bác thì sao?


- Tôi cũng không thể nói là tôi tin. Dù chết tôi cũng không thể nói vậy. Sếp biết đấy, dạo bé nghe bà tôi kể truyện cổ tích tôi không tin một lời nào. Ấy thế mà tôi vẫn run lên vì xúc động, tôi cười và tôi khóc, y như thể tôi tin đó là thật. Khi cằm tôi mọc râu, tôi bỏ hẳn những truyện ấy, thậm chí còn hay cười giễu nữa, nhưng bây giờ về già - có lẽ tôi đâm ẽo ợt, phải không, sếp? - Cách nào đó, tôi lại tin những truyện ấy... Con người thật không thể hiểu nổi!


Từ nãy chúng tôi đã đi theo con đường dẫn đến nhà Mađam Hortense và lúc này chúng tôi bắt đầu phóng như hai chú ngựa đói đánh hơi thấy tàu ngựa.


- Những ông cha linh hồn thật láu cá, sếp thấy không! Zorba nói. Họ nắm bao tử mình, vậy làm sao mình thoát được. Trong bốn mươi ngày, họ bảo, các con không được ăn thịt, không được uống rượu, chỉ ăn chay thôi. Tại sao? Để cho ta thèm rượu, thèm thịt đến héo hon mòn mỏi. Ôi, những con lợn béo ị ấy, họ biết mọi ngón của trò chơi!


Lão càng đi nhanh hơn nữa.


- Mau lên, sếp, - lão nói. - Con gà tây hẳn vừa chín tới.


Khi chúng tôi tới phòng bà chủ tốt bụng của chúng tôi, căn phòng có cái giường lớn đầy cám dỗ, chúng tôi thấy bàn ăn phủ một tấm khăn trắng và trên đó là con gà tây bốc hơi nằm ngửa, hai chân dạng ra. Lò than tỏa ra một hơi nóng êm dịu.


Mađam Hortense đã cuộn tóc xong, mụ mặc chiếc áo dài màu hồng lợt với ống tay thụng và đăng ten đã sờn. Quanh cái cổ nhăn nheo là một dải ruy băng màu vàng hoàng yến rộng khoảng hai ngón tay. Người mụ xức đẫm nước hoa cam.


Mọi sự trên thế gian này sao mà tương hợp tới mức hoàn hảo, tôi nghĩ thầm. Sao mà thế gian xứng hợp đến thế với tâm hồn con người! Này đây, mụ ca kỹ già từng sống một cuộc đời hết sức phóng đãng và nay, trôi giạt đến bờ biển hiu quạnh này, mụ tập trung trong căn phòng khốn khổ này tất cả trữ lượng nồng ầm và ân cần thần thánh của chất nữ.


Bữa tiệc thịnh soạn và chuẩn bị chu đáo, lò than hồng, tấm thân trang điểm son phấn, mùi nước hoa cam - tất cả những lạc thú vật chất nhỏ bé và rất người ấy sao mà nhanh chóng và đơn giản biến thành một niềm vui tâm linh lớn!


Tim tôi bỗng nhiên đập rộn trong lồng ngực. Trong cái buổi tối long trọng này, tôi cảm thấy mình không hoàn toàn cô đơn ở đây, trên dải bờ biển hoang vu này. Một con người đầy nữ tính hiến dâng, dịu dàng và kiên nhẫn, đang đến với tôi: nàng là mẹ, là chị gái, em gái, là vợ. Và tôi, trước nay vốn nghĩ mình chẳng cần gì, chợt cảm thấy mình cần tất cả.


Zorba chắc cũng cùng chung một cảm xúc như vậy, vì chúng tôi vừa vào buồng là lão lao ngay tới mụ ca kỹ phấn son lòe loẹt và ôm ghì lấy mụ.


(còn tiếp)


Nguồn: Zorba Tay chơi Hy Lạp. Tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis. Dương Tường dịch theo bản tiếng Anh ZORBA THE GREEK của Carl Wildman. Ballantine, 1965. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »