tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27645749
Tiểu thuyết
16.11.2009
Nikos Kazantzakis
Zorba tay chơi Hy Lạp

Tôi lên cầu thang. Một cái cầu thang gỗ lớn kêu cọt kẹt. Trên đầu cầu thang là bố mẹ Noussa. Hai ông bà mặc một kiểu quần ống túm màu lam, thắt dây lưng đỏ có núm tua lớn - quả thực, họ rất khá giả. Cặp vợ chồng mặt khỉ ấy dang rộng tay, ôm ghì lấy tôi, hôn hít, làm tôi thấm đẫm nước dãi. Họ nói với tôi liến thoắng. Tôi chẳng hiểu gì mấy, song cái đó có gì là quan trọng? Qua vẻ mặt họ, hiển nhiên là họ không hề có ác ý với tôi.


Tôi bước vào phòng và tôi thấy gì nào? Những dãy bàn nặng trĩu đồ ăn thức uống như những con tàu lớn rẽ sóng ra khơi. Ai nấy đều đứng - họ hàng, đàn ông, đàn bà và trước mặt tôi là Noussa son phấn trong bộ đồ dạ hội, ngực phô ra như hình chạm ở mũi tàu. Nàng chói lọi trẻ và đẹp. Nàng chít một chiếc khăn quàng đỏ trên đầu và ngực áo nàng có thêu búa liềm. “Zorba, tên tội lỗi thâm căn cố đế”, tôi thì thầm tự bảo, “miếng thịt dành cho mi đấy ư? Phải chăng đó là tấm thân mi sắp ôm ấp trong tay đêm nay? Cầu Chúa tha thứ cho cha mẹ mi đã sinh ra mi trên cõi đời này!”.


“Tất cả chúng tôi lao vào đánh chén thả cửa, nữ cũng như nam, chúng tôi nhậu nhẹt lu bù, ăn như lợn và uống như hũ chìm. “Còn cha đạo thì sao?” Tôi hỏi bố Noussa ngồi cạnh tôi, người bốc hơi ngùn ngụt vì chén đẫy tễ. “Cha đạo ban phước cho chúng tôi đâu?” - “Chẳng có cha đạo”, ông lắp bắp, “chẳng có cha đạo nào hết. Tôn giáo là thuốc phiện đối với quần chúng”.


“Nói đoạn, ông đứng dậy, ưỡn ngực, nới chiếc dây lưng đỏ và giơ tay ra hiệu cho mọi người im lặng. Ông cầm ly rượu đầy đến miệng và nhìn thẳng vào mắt tôi. Rồi ông bắt đầu nói liên chi hồ điệp, ông diễn thuyết với tôi. Ông nói gì, có trời biết! Tôi đứng mệt cả người. Vả lại, lúc ấy tôi cũng đã hơi say. Tôi ngồi xuống và áp đầu gối mình vào đầu gối Noussa. Nàng ngồi bên phải tôi.


“Ông già vẫn không chịu ngừng lời, mồ hôi chảy ròng ròng. Thế là tất cả xô tới bao quanh, ôm ghì lấy ông để khiến ông thôi đi. Ông ngừng nói. Noussa ra hiệu cho tôi: “Bây giờ, anh phải nói đi”.


“Thế là đến lượt tôi đứng dậy và làm một bài đít-cua nửa Nga nửa Hy Lạp. Tôi đã nói gì? Xin thề độc là chính tôi cũng không biết. Tôi chỉ nhớ là cuối cùng, tôi lạc vào mấy bài hát đạo tặc Klepht( 1). Chẳng ăn nhập vào đâu, tôi bắt đầu rống lên:


Bọn đạo tặc Klepht trên núi mò xuống


Định ăn trộm ngựa!


Ngựa chẳng thấy đâu


Lại thấy Noussa!


“Sếp thấy đấy, tôi đổi lời đi cho phù hợp với hoàn cảnh.


Chúng rút đi, chúng rút đi


(Mẹ ơi, chúng rút đi rồi!)


Ôi, Noussa của tôi!


Ôi, Noussa của tôi!


Ôi!


“Và vừa rống lên: “Ôi!” tôi vừa lao tới Noussa và hôn nàng.


“Đó chính là điều mọi người đều muốn. Như thế tôi đã nổi cái hiệu lệnh mà họ chờ đợi - và thực tế, họ chỉ chờ có thế - mấy gã to con râu đỏ xô tới tắt hết đèn đóm.


“Bọn đàn bà, con gái bắt đầu tru tréo la lên, rằng họ sợ. Nhưng gần như ngay lập tức, trong bóng tối, họ lại rúc rích: “Hí-hí-hí”. Họ thích được cù và họ cười vang.


“Điều gì đã xảy ra chỉ có Trời mới biết. Nhưng tôi nghĩ ngay cả Trời cũng chưa chắc đã biết, bởi vì nếu Người biết, hẳn người đã giáng cho một tiếng sét đốt cháy tất cả rồi. Ấy đấy, họ nhào lộn tất cả đàn ông đàn bà, lăn lóc trên sàn. Tôi bắt đầu đi tìm Noussa, nhưng biết tìm đâu ra nàng? Tôi tìm thấy một nàng khác và hành sự với ả.


“Rạng sáng, tôi dậy để ra đi với cô nàng của tôi. Trời hãy còn tối, tôi nhìn không rõ. Tôi nắm một bàn chân, tôi kéo đại. Không, đó không phải chân Noussa. Tôi nắm một bàn chân khác. Không phải! Tôi lại kéo một bàn chân thứ ba - cũng không phải! Tôi túm bàn chân thứ tư, thứ năm, và cuối cùng, sau không biết bao nhiêu lộn xộn, tôi tìm ra chân Noussa, kéo mạnh và gỡ nàng ra khỏi hai ba tên quỷ sứ to lớn đang lổm ngổm trên người cô gái tội nghiệp, và tôi đánh thức nàng dậy. “Noussa”, tôi nói, “ta đi thôi” - “Đừng có quên cái áo choàng lông thú của anh đấy!” nàng nhắc. “Nào ta đi!”. Và chúng tôi ra đi”.


- Rồi sao nữa? - Tôi lại hỏi khi thấy Zorba im lặng.


- Đấy, sếp lại “rồi sao”, “rồi sao”. - Zorba nói, - sốt ruột với những câu hỏi như vậy.


Lão thở dài.


- Tôi sống với nàng sáu tháng. Từ hôm ấy trở đi - có chúa chứng giám - tôi chẳng sợ gì nữa. Chẳng sợ gì hết, xin nói vậy. Chẳng sợ gì, trừ một điều là ma quỷ, hoặc Thượng Đế, xóa sạch sáu tháng đó khỏi ký ức tôi. Sếp hiểu không? Này, sếp phải nói: “Tôi hiểu”. Zorba nhắm mắt lại. Lão có vẻ rất xúc động. Đây là lần đầu tiên tôi thấy lão bị một kỷ niệm xa xăm ập về tác động mạnh đến thế.


- Vậy ra bác yêu cô nàng Noussa ấy đến thế kia ư? - Lát sau tôi hỏi lão.


Lão mở mắt ra.


- Sếp còn trẻ, sếp ạ, - lão nói, - sếp đang còn trẻ, sếp không hiểu nổi đâu. Khi nào sếp bạc đầu như tôi, ta sẽ quay lại bàn chuyện này - cái chuyện muôn thuở này.


- Chuyện nào là chuyện muôn thuở?


- Dào, tất nhiên là đàn bà chứ còn gì! Tôi phải nói với sếp bao nhiêu lần rằng đàn bà là một chuyện muôn thuở. Hiện tại, sếp giống như một chú gà trống choai nhỏ phủ vội phủ vàng mấy con mái đánh nhoáng một cái, rồi ưỡn ngực, leo lên chốc đống phân mà gáy và vây vo. Nó không nhìn những con mái mà nhìn mào của chúng! Hừ, nó làm sao biết được gì về tình yêu? Ma quỷ bắt nó đi!


Lão nhổ toẹt xuống đất, vẻ khinh bỉ, rồi quay đầu đi, lão không muốn nhìn tôi.


- Thôi được, Zorba, còn Noussa ra sao? - Tôi hỏi lại.


Zorba đáp, mắt dõi ra xa, về phía biển.


- Một buổi tối, khi trở về nhà, tôi không thấy nàng đâu. Nàng đã đi rồi. Một gã lính đẹp trai vừa mới đến làng và nàng đã bỏ trốn với hắn. Thế là hết! Nói thật tình với sếp, tim tôi vỡ đôi. Nhưng đồ chó đẻ ấy chẳng bao lâu lại dính liền làm một. Sếp phải thấy những cánh buồm với những mảnh đỏ, đen, vàng vá víu vào nhau bằng sợi xe to đùng, mà cả trong những cơn bão tố dữ dội nhất vẫn không rách. Ấy, tim tôi nó cũng như vậy đó. Không biết bao nhiêu lỗ thủng, không biết bao nhiêu mảnh vá: nó không còn biết sợ gì nữa!


- Thế bác không oán hận gì Noussa sao? Zorba?


- Tại sao? Muốn nói gì thì nói, đàn bà là một cái gì khác, sếp ạ... một cái gì khác lắm, phi nhân. Vậy tại sao lại oán hận họ làm gì? Đàn bà là một cái gì không thể hiểu nổi và mọi luật lệ của Nhà nước, của tôn giáo đều lầm về họ. Lẽ ra những luật lệ ấy không nên quy định như vậy đối với đàn bà. Những luật lệ ấy quá khắc nghiệt, sếp ạ, quá bất công. Nếu có bao giờ tôi được dịp làm luật, tôi sẽ không ra những luật chung cho đàn ông lẫn đàn bà. Mười, một trăm, một nghìn giới luật cho đàn ông. Dù sao đi nữa, đàn ông vẫn là đàn ông, họ có thể chịu đựng được. Nhưng không một luật nào với đàn bà. Bởi vì - tôi phải nói điều này với sếp bao nhiêu lần cho vừa, hở sếp? - Đàn bà là một sinh vật không có chút sức mạnh nào. Ta hãy nâng cốc chúc Noussa, sếp! Và chúc đàn bà!... Và xin Thượng Đế hãy cho đàn ông chúng ta khôn ngoan hơn!


Lão uống, giơ cánh tay lên rồi hạ xuống thật mạnh như thể đang bổ rìu.


- Hoặc Người phải cho đàn ông chúng ta khôn ngoan hơn, lão nói, hoặc Người phải giải phẫu cái ấy của chúng ta đi. Nếu không, chúng ta đi đứt hết, hãy tin lời tôi.


8.


Hôm sau, lại mưa. Trời, đất hòa quyện vào nhau


vô cùng âu yếm. Tôi nhớ đến một bức phù điêu


Hinđu trên đá màu xám đậm. Người đàn ông quàng tay ôm người đàn bà và gắn với nàng một cách dịu dàng và cam chịu đến nỗi ta có cảm giác - do mưa nắng, sương gió đã tác động và gần như ăn luỗng vào đôi thân thể - như thấy hai con côn trùng lẹo nhau trên đó, cơn mưa bụi đã bắt đầu rơi và làm ướt cánh chúng. Quấn quít chặt chẽ với nhau như vậy, chúng đã bị mút trở vào cái miệng phàm ăn của đất.


Tôi ngồi ở cửa lều nhìn mặt đất đen sẫm lại và biển anh ánh một màu xanh lân quang. Từ đầu ghềnh đến cuối bãi, không thấy một bóng người, một dáng buồm, một cánh chim. Chỉ có mùi đất phả vào qua cửa sổ.


Tôi đứng dậy và đưa tay ra hứng mưa như một kẻ ăn xin. Đột nhiên, tôi thấy muốn khóc. Một nỗi buồn đau nào đó, không phải của riêng tôi mà sâu sắc hơn, u tối hơn, đang dâng lên từ đất ẩm: cái nỗi kinh hoàng xâm chiếm một con vật đang bình yên gặm cỏ, bất chợt, ngẩng đầu lên, không trông thấy gì, nhưng đánh hơi trong không khí bao quanh, biết rằng mình đang mắc bẫy, không đường thoát.


Tôi muốn kêu lên một tiếng, biết rằng như vậy sẽ nhẹ bớt nỗi niềm, nhưng tôi ngượng không dám.


Mây mỗi lúc một sà xuống thấp. Tôi nhìn qua cửa sổ, tim tôi phập phồng nhè nhẹ.


Những giờ mưa nhẹ có thể cho ta tận hưởng nỗi đau buồn với một khoái cảm lạ lùng biết bao! Tất cả những hồi ức cay đắng náu kín tận đáy tâm thức bỗng nổi lên: bạn bè chia xa, những nụ cười đàn bà đã tàn phai, những hy vọng đã gãy cánh như những con bướm đêm, chỉ còn lại một con sâu - và con sâu đó đã bò vào cánh lá tim tôi và đang ăn ruỗng nó.


Hình ảnh bạn tôi lưu vong ở vùng Caucasus từ từ hiện ra qua màn mưa và đất sũng nước. Tôi lấy bút, cúi trên mảnh giấy và bắt đầu trò chuyện với anh nhằm xé toạc tấm lưới mảnh của mưa để có thể thở được.


“Bạn thân yêu,


Mình đang viết cho cậu từ một bờ biển hiu quạnh trên đảo Crete, nơi mà Định Mệnh và mình đã nhất trí với nhau là mình sẽ ở lại chơi mấy tháng - đóng vai một nhà tư bản. Nếu trò chơi của mình thành công, mình sẽ nói đó không phải là một trò chơi mà sẽ tuyên bố rằng mình đã làm một quyết định lớn và thay đổi lối sống.


Chắc cậu còn nhớ khi ra đi, cậu đã gọi mình là mọt sách. Điều đó làm mình bực đến nỗi mình đã quyết định từ bỏ việc viết lách trong một thời gian - hay mãi mãi? - và dấn thân vào một cuộc đời hành động. Mình đã thuê một sườn núi có chứa quặng than bùn, mình đã thuê thợ, mua cuốc xẻng, đèn đất, thúng giỏ, xe tải. Mình đã mở những đường hầm và chui vào đó. Làm thế cốt để chọc tức cậu đó. Bằng cách đào và tạo những hành lang trong lòng đất, con mọt sách đã trở thành con chuột chũi. Mình hy vọng cậu tán thành cuộc chuyển hóa này.


Những niềm vui của mình ở đây thật lớn lao vì chúng rất đơn giản và xuất phát từ những yếu tố vĩnh cửu: không khí trong lành, ánh nắng, biển cả và bánh mì. Tối đến, một tay Sinbad nhà Hàng hải tuyệt diệu ngồi xếp hàng trước mắt mình và nói chuyện. Hễ lão cất tiếng nói là thế giới to rộng ra. Thi thoảng khi ngôn từ không đủ để diễn tả, lão chồm dậy và nhảy múa. Và khi nhảy múa cũng không đủ nữa, lão đặt cây santuri lên lòng và bắt đầu chơi.


Có lúc lão chơi một điệu man rợ, thế là ta cảm thấy tức thở vì chợt nhận ra đời mình thật vô vị, khốn khổ, không xứng đáng với kẻ nam nhi. Có lúc lão chơi một điệu đau đớn và ta cảm thấy đời mình mau qua như cát truội qua kẽ ngón tay, khôn bề cứu chuộc.


Tim mình cứ chao qua chao lại trong lồng ngực như con thoi của người dệt cửi. Nó dệt nên mấy tháng mình đang sống ở Crete đây và, lạy Chúa, mình tin rằng mình hạnh phúc.


“Đức Khổng Tử nói: “Nhiều kẻ tìm kiếm hạnh phúc cao hơn con người, kẻ khác nhằm thấp hơn. Nhưng hạnh phúc là cùng tầm cao với con người”. Đúng là thế. Cho nên phải có thứ hạnh phúc hợp với tầm vóc của mọi người. Đó là hạnh phúc của mình hôm nay, học trò và thầy thân mến của tôi ạ. Mình cứ băn khoăn đo đi đo lại hạnh phúc ấy để xem tầm vóc mình lúc này ra sao. Bởi lẽ, điều này cậu thừa biết, tầm vóc con người không bao giờ cũng thế.


Tâm hồn con người biến hóa biết bao theo khí hậu, sự tịch lặng, cô liêu hoặc đám bạn bầu trong đó nó sống!


Nhìn từ cái tâm trạng cô đơn của mình, con người hiện ra trước mắt mình không như bầy kiến, mà trái lại, tựa những con quái vật khổng lồ - những con khủng long, những con thằn lằn ngón cánh sống trong một khí quyển bão hòa axit cacbônic và dày đặc cây cỏ mục nát từ đó hình thành tạo vật. Một mớ hỗn độn phi lý, không sao hiểu nổi. Những khái niệm “quốc gia” và “chủng tộc” mà cậu ưa thích, những khái niệm “siêu quốc gia” và “nhân loại” từng quyến rũ mình: ở đây cũng có giá trị như nhau dưới hơi thở toàn lực của hủy diệt. Chúng ta cảm thấy mình đã ngoi lên để thốt ra mấy âm tiết, đôi khi thậm chí không thành âm tiết, mà chỉ là những tiếng ú ớ: một tiếng “ối”, một tiếng “ứ!” - sau đó, chúng ta bị tiêu diệt. Và ngay cả những ý niệm cao cả nhất, nếu được mổ xẻ, cũng lộ rõ là không hơn gì những con búp bê nhồi cám và giấu trong cám là một cái lò xo sắt.


Cậu thừa hiểu mình để thấu rõ rằng những suy tưởng dữ dội ấy không hề làm mình trốn chạy, mà trái lại, chúng còn là thứ bùi nhùi không thể thiếu để nhen nhóm ngọn lửa bên trong tâm hồn mình. Bởi vì, như sư phụ mình là Đức Phật truyền giảng: “Ta đã thấy”. Và vì mình đã thấy cũng như, trong nháy mắt, đã giao hảo với người đạo diễn vô hình vui vẻ và đồng bóng, từ nay trở đi, mình có thể sắm vai của mình trên trái đất cho trọn vẹn, nghĩa là mạch lạc và không nản chí. Vì một khi đã thấy, mình cũng cộng tác trong tác phẩm mà mình đang diễn trên sân khấu của Thượng Đế.


Chính nhờ thế mà khi lướt nhìn qua sân khấu vũ trụ, mình có thể thấy cậu ở nơi kia, trong những thành lũy huyền thoại của dãy núi Caucasus, cũng sắm vai của cậu, mình có thể thấy cậu đang chiến đấu để cứu hàng nghìn người thuộc dòng giống chúng ta đang có nguy cơ bị tiêu diệt. Một Prometheus giả, thế nhưng lại phải chịu đựng những cực hình rất thực trong khi đấu tranh chống những lực lượng đen tối của đói rét, bệnh tật và chết chóc. Nhưng, bản tính vốn kiêu hãnh, đôi khi cậu phải hoan hỉ vì những lực lượng đen tối của hủy diệt nhiều đến thế và không thể đánh bại, bởi như vậy, chủ đích của cậu, sống hầu như vô vọng, sẽ trở nên anh hùng hơn và tâm hồn cậu sẽ đạt được một tầm vĩ đại bi tráng hơn.


Chắc chắn cậu phải coi cuộc đời cậu đang sống là một cuộc đời hạnh phúc. Và bởi cậu coi nó là thế, nó ắt là thế. Cậu cũng đã khớp hạnh phúc của cậu cho vừa tầm vóc cậu, và tầm vóc cậu bây giờ, đội ơn Chúa, lớn hơn tầm vóc mình. Người thầy tốt không mong muốn phần thưởng nào hơn điều này, đào tạo được một học trò vượt lên mình.


Còn về phần mình, mình thường hay quên, mình tự gièm pha, mình lạc lối, lòng tin của mình là một mớ bất tín cặp lẫn vào nhau. Đôi khi mình cảm thấy muốn làm một cuộc đổi chác: đổi cả cuộc đời lấy một phút sống ngắn ngủi. Nhưng cậu thì luôn nắm chắc tay lái, cậu không bao giờ quên, cả trong những giờ phút ngọt ngào nhất của kiếp nhân sinh này, cậu cũng không bao giờ lãng mất cái đích cậu đã nhắm vươn tới.


Cậu còn nhớ cái ngày chúng mình xuyên qua Ralia trên đường về Hy Lạp không? Hai chúng mình đã quyết định đi về vùng Pontus bấy giờ đang lâm nguy. Chúng mình vội vã xuống tàu ở một thị xã nhỏ - chỉ có một giờ để đáp chuyến tàu khác. Chúng mình đi vào một khu vườn lớn rậm rạp ở gần ga. Tại đó có những cây lá to bản, chuối mới trồng, tre màu kim khí thẫm, từng bầy ong sà đến một khu vườn nở rộ hoa, những bông hoa run rẩy đón chúng hút nhụy mình.


Chúng mình dạo bước, ngây ngất lặng lẽ như trong một giấc mơ. Bỗng nhiên, ở một góc quành của con đường hoa, hiện ra hai cô gái vừa đi vừa đọc sách. Mình không còn nhớ là các cô đẹp hay xấu. Mình chỉ nhớ một cô tóc vàng, cô kia tóc đen và cả hai đều vận xiêm y mùa xuân.


Với sự mạnh bạo thường có trong mơ, chúng mình sán lại và cậu nói: “Bất kể các cô đang đọc sách gì, chúng tôi cũng xin tranh luận với các cô về cuốn đó”. Hai cô đang đọc Gorki. Thế rồi hối hả vì quá ít thì giờ, chúng ta trò chuyện về cuộc đời, về nghèo đói, về sự nổi loạn của tâm hồn, về tình yêu...


Mình sẽ không bao giờ quên nỗi hân hoan và sầu muộn của chúng ta. Tụi mình và hai thiếu nữ không quen đó đã thành bạn cố tri, thành người tình cũ, tụi mình đã mang trách nhiệm đối với tâm hồn và thể xác họ và tụi mình vội vội vàng vàng vì chỉ mấy phút sau, tụi mình sẽ lìa xa họ mãi mãi. Trong không khí, tụi mình ngửi thấy sự say đắm và cái chết.


Tàu đến và huýt còi. Chúng ta giật mình như tỉnh mộng. Chúng ta bắt tay nhau. Làm sao mình có thể quên được cái siết chặt tuyệt vọng của những ngón tay không muốn rời nhau. Hai cô em, một cô mặt tái nhợt, cô kia gượng cười, run rẩy.


Và mình nhớ là giờ nhiêu mình bảo cậu: “Hy Lạp, Tổ Quốc, Bổn phận, những cái ấy nghĩa là gì nhỉ? Chân lý đây này!” Và cậu trả lời: “Hy Lạp, Tổ Quốc, Bổn Phận chẳng có nghĩa gì hết. Tuy nhiên, vì cái vô nghĩa ấy, chúng ta tự nguyện hy sinh.


Nhưng tại sao mình lại viết những điều này, cho cậu nhỉ? Để cho cậu thấy mình không quên một giây phút nào chúng ta đã sống với nhau. Và cũng để có dịp phát biểu cái điều mà vì cái thói quen (tốt hay xấu?) một mực kìm nén tình cảm của chúng ta, mình chưa bao giờ bộc lộ với cậu khi còn ở bên nhau.


Giờ đây, khi cậu không còn ở trước mặt mình, do đó không thể nhìn thấy mặt mình, khi mình không sợ tỏ ra ủy mị hay lố bịch, mình có thể nói với cậu rằng mình yêu cậu vô cùng”.


Tôi đã viết xong thư. Tôi đã trò chuyện với bạn tôi và tôi cảm thấy nhẹ nhõm. Tôi gọi Zorba. Núp dưới một tảng đá cho khỏi bị ướt, lão đang thử mô hình tuyến chuyên chở của lão.


- Lại đây, Zorba, - tôi gọi. - Đứng dậy nào, chúng mình vào làng dạo chơi một cái.


- Sếp đang phấn hứng nhỉ. Trời đang mưa đấy. Sếp đi một mình không được sao?


- Tôi không muốn mất hứng. Nếu ta cùng đi thì không có nguy cơ đó. Đi với tôi đi.


Lão cười:


- Tôi rất mừng thấy sếp cần tôi, - lão nói. - Nào thì đi.


Lão mặc cái áo choàng len kiểu Crete có mũ chụp nhọn, tôi đã cho lão và chúng tôi lõm bõm lội bùn tiến ra đường cái.


Trời đang mưa. Những đỉnh núi bị che kín. Không một hơi gió. Sỏi lấp lánh. Đồi than bùn chìm trong sương mù tựa hồ gương mặt phụ nữ của trái đồi bị liệm trong u sầu, tựa hồ nàng đã ngất xỉu trong mưa.


- Trái tim con người đau đớn khi trời mưa, - Zorba nói. Ta không nên giận hồn nó làm gì.


Lão cúi xuống bên một hàng dậu và hái những bông hoa thủy tiên dại đầu mùa. Lão nhìn chúng hồi lâu tựa hồ không biết chán, như thể mới được thấy hoa thủy tiên lần đầu. Lão nhắm mắt, ghé mũi ngửi, thở dài rồi đưa hoa cho tôi.


- Sếp à, giá chúng ta biết được đá và mưa hoa nói gì. Có thể chúng gọi... gọi ta... mà ta không nghe thấy. Bao giờ con người mới chịu mở rộng tai để lắng nghe hở sếp? Bao giờ chúng ta mới mở to mắt mà nhìn? Bao giờ chúng ta mới dang rộng tay ôm lấy tất cả - đất đá, mưa móc, hoa lá và con người? Sếp nghĩ thế nào về chuyện ấy, sếp? Và những cuốn sách của sếp nói sao về chuyện ấy?


- Ma quỷ bắt chúng đi! - Tôi nói, lặp lại cái thành ngữ ưa thích của Zorba. - Ma quỷ bắt chúng đi! Sách vở chỉ nói có thế, không hơn.


Zorba nắm lấy cánh tay tôi.


- Sếp này, tôi xin nói với sếp một ý này của tôi, nhưng sếp đừng có nổi giận mới được. Hãy chất đống tất cả sách vở của sếp, cho nó một mồi lửa. Sau đó, biết đâu sếp lại chả hết khờ, sếp thành người hay ho... sếp có thể trở thành một cái gì!


“Lão có lý!” tôi thầm kêu. “Lão có lý, nhưng mình không thể làm thế”.


Zorba lưỡng lự và ngẫm ngợi. Rồi lão nói:


- Có một điều tôi thấy được.


- Điều gì? Nói ra đi!


- Tôi không biết, nhưng tôi nghĩ tôi có thể thấy điều ấy, thế thôi. Song nếu tôi cố nói ra với sếp, tôi sẽ làm rối tinh rối mù lên mất thôi. Để hôm nào phấn hứng, tôi sẽ nhảy múa để diễn tả điều đó sếp coi.


Mưa bắt đầu xối xả hơn. Chúng tôi tới làng. Những bé gái lùa cừu từ bãi cỏ về, những thợ cày tháo ách khỏi cổ bò và rời cánh đồng cày dở dang, những thiếu phụ chạy theo con trên đường làng nhỏ hẹp. Một cơn nháo nhác vui vẻ òa ra trong làng khi trận mưa rào ập xuống. Phụ nữ kêu the thé, mắt cười lấp lánh, những hàng ria vểnh của cánh đàn ông. Một mùi hăng hắc bốc lên từ đất đá và cây cỏ.


Chúng tôi nhào vào tiệm Cà phê - hàng thịt - Khiêm Tốn, ướt như chuột lột. Tiệm đông nghịt. Mấy gã đàn ông đang chơi bài bơlốt, một số khác oang oang tranh luận, mở hết cỡ giọng như gọi nhau từ núi nọ qua núi kia. Quanh một cái bàn nhỏ ở đầu đàng kia, các bô lão trong làng đang ngồi uy nghi: bác Anagnosti với chiếc áo sơ mi trắng ống rộng. Mavrandoni nghiêm nghị và lặng lẽ, hút chiếc ống điếu, mắt dán xuống sàn, ông giáo làng đứng tuổi gầy gò và khá trịnh trọng, tì trên chiếc can gộc và mỉm một nụ cười kẻ cả lắng nghe một gã hộ pháp tóc tai râu ria bù xù vừa ở Candia về đang mô tả những điều kỳ diệu của thành phố lớn đó. Chủ tiệm đứng sau quầy vừa nghe chuyện vừa cười, trong khi vẫn để mắt trông những bình đun cà phê đặt thành một dãy trên lò:


Vừa trông thấy chúng tôi, bác Anagnosti liền đứng dậy.


- Đồng bào, lại đây ngồi với chúng tôi, - ông già nói. - Sfakianonikoli đang kể cho chúng tôi nghe mọi điều mắt thấy tai nghe ở Candia. Anh chàng đến là ngộ. Lại đây nào.


Ông quay lại chủ tiệm.


- Cho hai ly raki, Manolaki, - ông nói.


Chúng tôi ngồi xuống. Gã chăn cừu hoang dã thấy có người lạ, rút vào vỏ ốc và nín lặng.


- Này, sếp Nikoli, anh cũng đến cả nhà hát nữa ư? - Ông giáo nói để gợi chuyện. - Anh thấy thế nào?


Sfakinanonikoli vươn bàn tay hộ pháp ra vớ lấy ly rượu vang, nốc một hơi để lấy can đảm.


- Sao lại không đến nhà hát? - Gã la lên. - Dĩ nhiên là có chứ lị! Ai cũng nói Kotopouli thế này, Kotopouli thế kia. Cho nên, một buổi tối, tôi mới làm dấu Thánh giá và biểu: “Được rồi, tại sao mình không đến coi tận mắt cho biết? Xem cô ta là cái quái quỷ gì mà họ cứ nhặng xị lên về Kotopouli( 1).


- Thế chú thấy gì, chú nhiêu? - Bác già Anagnosti hỏi. - Như thế nào? Vì lòng kính Chúa, kể bọn ta nghe nào.


- Chà, thề trên linh hồn tôi, chả có gì ghê gớm cả. Cứ nghe họ nói về cái “nhà hát” í, đâm sốt ruột, bụng bảo dạ: “Mình phải đến xem có cái gì mới được”. Cơ mà, tôi xin nói, chỉ phí tiền. Nó là một chỗ giống như cái quán rượu lớn, cơ mà tròn xoay như cái sân đập lúa, đầy những ghế, những người và đèn. Tôi không còn biết là mình ở đâu, đèn đóm làm tôi lóa mắt không trông thấy gì. “Ma quỷ” tôi tự nhủ “họ sắp sửa bỏ bùa cho mình đấy. Phải chuồn thôi”. Nhưng vừa lúc ấy, một cô ả, ngúng nga ngúng nguẩy như con chim chìa vôi, nắm lấy tay tôi, “Kìa, cô đưa tôi đi đâu thế này?” Tôi kêu lên nhưng ả cứ kéo tôi đi, cuối cùng, ả quay lại và bảo tôi ngồi xuống. Thế là tôi ngồi xuống. Chư vị thử nghĩ coi. Toàn người là người, trước mặt sau lưng tôi, bên trái bên phải và lên tận trần nhà. “Mình sắp chết ngạt mất thôi” tôi tự bảo. “Mình toi đến nơi rồi. Chẳng có tí không khí nào cả”. Rồi tôi quay sang người ngồi bên cạnh, hỏi: “Ông bạn có thể cho tôi biết những “đảo chính”( 2) đi từ đâu ra không? - “À, từ trong kia”, y nói, tay chỉ tấm màn. Và y nói đúng, vì tiếp đó có tiếng chuông rung, màn mở ra và kìa, cái cô ả Kotopouli, như họ gọi, đã đứng trước mặt mọi người, trên sâu khấu. Cơ mà chư vị đừng có hỏi tôi tại sao họ lại gọi cô ả là gà tơ: cô ta là đàn bà rành rành, đủ cả các bộ phận từ đầu đến chân. Thế, cô ả cứ quay tròn và vẫy đuôi lia lịa và khi mọi người phát chán, họ bắt đầu vỗ tay và cô ả chạy mất.


Dân làng cười ngặt nghẽo. Sfakianonikoli phật ý và có vẻ ngượng. Gã ngoảnh ra phía cửa.


- Nhìn kìa, trời đang mưa, - gã nói lảng.


Mọi người nhìn theo. Đúng lúc ấy, một người đàn bà chạy qua, tóc xõa xuống vai, váy đen xắn lên tận đầu gối. Chị ta có vóc dáng đẹp, tròn trặn, quần áo dán vào người để lộ một thân hình rắn chắc, hấp dẫn.


Tôi giật mình. Loài thú săn mồi nào đây? Tôi nghĩ thầm. Tôi thấy chị ta có vẻ mềm mại và nguy hiểm, một con thú có thể ăn tươi nuốt sống đàn ông.


Người đàn bà quay đầu lại một thoáng và ném nhanh một tia nhìn chói lòa vào trong tiệm cà phê.


- Lạy Đức Mẹ Đồng Trinh! Một cậu choai choai, râu lún phún như lông tơ, ngồi bên cửa sổ, lẩm bẩm.


- Trời đánh con mụ mồi chài đàn ông, lão trương tuần Manolakas gầm gừ. Trời đánh mi, mi châm lửa thiêu cháy đàn ông!


Cậu chàng ngồi bên cửa sổ bắt đầu ầm ừ hát, mới đầu nhỏ nhẹ và do dự. Dần dần, giọng cậu khàn đi:


Chiếc gối sương phụ ngát thơm hương mộc qua


Từ độ bén mùi, chẳng đêm nào tôi ngủ được.


- Câm mồm! Mavrandoni quát, tay vung cái ống điếu.


Cậu thanh niên im bặt. Một ông già cúi xuống nói với trương tuần Manolakas:


- Này, ông chú anh đang nổi giận đấy, - ông thì thầm. - Nếu mụ ta rơi vào tay lão, hẳn lão sẽ băm mụ ra làm trăm mảnh. Cầu Chúa rủ lòng thương mụ!


- À, già Androulio, - Manolakas nói, - tôi chắc bác cũng bám theo váy mụ góa ấy. Bác, một người cai quản giáo đường, bác không xấu hổ sao?


- Này, nghe đây. Cầu Chúa rủ lòng thương mụ! Lẽ nào anh không nhận thấy những trẻ mới sinh gần đây ở làng ta đẹp như thế nào? Cầu Chúa ban phước cho mụ góa, chính là nhờ mụ đấy! Có thể nói mụ là người tình của cả làng: anh tắt đèn, anh tưởng tượng là đang ôm mụ góa trong tay chứ không phải vợ mình. Và chính vì thế, xin anh nhớ cho, mà ngày nay làng ta cho ra đời những đứa trẻ kháu khỉnh như vậy!


Sau một lát im lặng, già Androulio lẩm bẩm:


- Sung sướng thay những cặp đùi được quắp lấy mụ! Ôi, anh bạn, giá tôi mới hai mươi như thằng Pavli, con trai Mavrandoni!


- Nó sắo nhào tới bây giờ đấy! - Một người nào đó vừa cười vừa nói.


Tất cả mọi người quay về phía cửa. Mưa trút xuống như thác. Nước chảy ùng ục trên những phiến đá.


Thỉnh thoảng, chớp lóe trên bầu trời. Từ lúc nàng góa đi qua, Zorba cứ hào hển. Không thể kìm mình lâu hơn nữa, lão thở dài với tôi:


-          Tạnh mưa rồi, sếp ạ, - lão nói. - Ta đi thôi.


(còn tiếp)


Nguồn: Zorba Tay chơi Hy Lạp. Tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis. Dương Tường dịch theo bản tiếng Anh ZORBA THE GREEK của Carl Wildman. Ballantine, 1965. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »