tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30209066
17.11.2009
Vũ Công Hoan
Tản văn của Diêm Liên Khoa

                             


                             TRÔI DẠT VÀ VỀ NHÀ


Xem xong bản thảo lần đầu “PHONG NHÃ TỤNG”có người nói:


- Diêm Liên Khoa, anh đã nhổ lên khuôn mặt sáng sủa của nhà trí thức đương đại Trung Quốc một bãi đờm ghê tởm, anh đã đá vào đũng quần xấu xa của họ một cú nên thân”.


Tôi đáp:


- Đâu có. Tôi làm gì có tài lớn thế, cũng không có sức mạnh như thế. Tôi chỉ viết về tôi. Tôi chỉ miêu tả nội tâm trôi nổi của mình. Chỉ là thường xuyên cảm thấy một thứ buồn nôn tự đáy lòng đối với sự bất tài vô lực làm người của bản thân.


Tôi không quen thuộc đại học, giống như người đại học cũng chưa phải đã biết thế nào là đại học. Điều tôi viết trong “Phong nhã tụng” là “đại học của tôi”, “là thôn làng của tôi”. Nhưng thôn làng của tôi không phải thôn làng thuộc tầng lớp đáy, tận cùng của xã hôi như người ta nói. Thôn làng này cũng nối liền với truyền thống vĩ đại đằng sau đại học. Trong truyền thống này, hoặc trong sách kinh điển chịu trọng tải truyền thống, tôi đã tưởng tưởng ra đại học. Vì vậy, “thôn làng” và “đại học” của tôi đầu Ngô mình Sở, không ra ngô, chẳng ra khoai.


Tôi hiểu, tôi không coi mình là nhà trí thức. Nhưng tôi nhu nhược, ba hoa, sùng bái quyền lực, rất ít gánh vác, lảng tránh tai nạn rơi xuống, trốn tránh trách nhiệm cần phải có, thậm chí đều có lòng tôn kính và sợ hãi đối với khách làng chơi và bọn trộm cắp dám làm dám chơi trong đời sống. Tôi biết, so với bạn bè, đồng nghiệp mình quen thuộc, cả những nhà trí thức uyên bác thường hay qua lại, khuyết điểm họ có tôi có, khuyết điểm họ không có tôi cũng có. Chỗ khác nhau giữa tôi và họ chính là tin tường từ đáy lòng mình là một kẻ bất tài vô dụng, một người dư thừa, vô công rồi nghề. Bởi vì sự bất tài, bởi vì loại dư thừa và vô công rồi nghề, bởi vì kể ra tôi là một nhà văn, nhưng ngay đến năng lực sắp xếp cho cháu trai cháu gái mình ở thôn quê đi ra ngoài làm thuê cũng không có. Tôi cũng bỗng nhiên cảm thấy, nửa đầu đời của mình là không có ý nghĩa, chưa đến hai mươi tuổi đã ra đi bước vào đời, hơn ba mươi năm phấn đấu, ngoài thu về sự mệt mỏi và bệnh tật đầy người, tôi không có thứ gì khác, chỉ còn lại một ít sách và văn tự xưa nay chuyên gây sự tranh cãi lôi thôi.


 


Những năm tháng gần đây, trong đầu tôi lúc nào cũng có ý định phải đi khỏi Bắc Kinh, về sống những năm cuối đời ở quê nhà. Tôi biết “về nhà” chỉ là một thứ suy nghĩ nội tâm xiêu bạt quá lâu, với cá tính hèn yếu và do dự của mình, cách về nhà thật sự còn một khoảng xa vời vợi. Nhưng ý nguyện “về nhà” lại mọc rễ nở hoa trong lòng tôi tháng tháng năm năm. Mảnh đất của tiểu thuyết này chính là “ý nguyện về nhà” ấp ủ bao nhiêu năm nay. Thậm chí tên ban đầu của tiểu thuyết là “Về nhà”, chỉ có điều, bạn bè xem bản thảo đầu tiên, ai cũng bảo không ổn, lại do bạn bè dốc hết tâm tư, nên đã sửa giúp tôi thành cái tên Phong Nhã Tụng nghe hay hay, mà bề ngoài có vẻ ồn ào. Tôi biết, bởi vì mình không phải nhà trí thức, như vậy sẽ khó tránh khỏi bị chê là học đòi phong nhã, nhưng tạm thời chưa nghĩ ra tên nào sát thực hơn, đành phải gọi thế.


                     TỒN TẠI CỦA KHÔNG TỒN TẠI


            Có một chuyện tôi đã từng nói, cũng đã từng viết. Trong một số lớp ở trường đại học, trong một số trường hợp đối thoại văn học, tôi thường hay nhắc đi nhắc lại chuyện này, nay lại nói lại viết, không những lắm điều, mà còn khiến người ta phát ớn. Nhưng ở đây tôi vẫn phải kể lại nó lần nữa trong lời cuối sách này. Bởi vì đối với cấu tứ của cuốn tiểu thuyết này và việc sáng tác của tôi từ nay về sau đều có ý nghĩa không thể lẩn tránh.       


Cuối mùa đông đầu mùa xuân năm 2004, bác cả tôi tám mươi tuổi bị ốm qua đời. Tôi hối hả về quê đưa tang.Trong quá trình đưa tang đã xảy ra một chuyện:Người con trai thứ sáu của bác cả tôi, hai mươi mấy năm trước đi bộ đội đóng quân ở Tân Cương xa xôi. Trong quân ngũ, vì xảy ra tai nạn, anh đã chấm dứt mạng sống lúc chưa đầy hai mươi tuổi. Theo phong tục tập quán của quê tôi, bố mẹ còn sống, con cái bị chết sớm không được vào mộ tổ. Vậy là, đã tìm cho anh chàng chưa vợ này một cô gái cùng thôn bị chết đuối, cưới dưới cõi âm, chôn chung ở đầu làng. Hai mươi mấy năm sau, bác cả ốm bệnh qua đời, mới coi như được đưa người con trai vào mộ tổ một thể. Bởi vì anh kia lấy vợ dưới cõi âm hồi đó không tổ chức nghi thức “lễ cưới”, nên nhân đám tang lần này, muốn bù lại tổ chức cho hai người một lễ cưới dưới cõi âm. Cũng chính ngày đưa tang, quê tôi gió lạnh thấu xương, mưa tuyết rào rào, đâu đâu cũng tuyết phủ trắng xóa. Nhưng trong trong lều bạt đặt linh cữu của anh và “vợ”, người chủ táng chủ hôn đã phủ lên chiếc quan tài nhỏ một tấm vải đỏ tươi và dán câu đối chúc mừng lễ cưới. Trong quá trình đưa đám sáng hôm đó, trong lúc hàng trăm con cháu mặc áo hiếu chịu tang, đội gió tuyết, đang hành lễ vái lạy ba cái, khấu đầu chín cái, một em gái đi đến ghé vào tai tôi nói nhỏ, trên quan tài và trong lều linh cữu của anh chị ở đằng sau có rất nhiều bướm vàng bướm đỏ đang bâu kín.


            Tôi ngạc nhiên.


            Vội vàng lui về phía sau, tôi nhìn lều bạt đặt linh cữu, quả tình đã trông thấy hàng chục, hàng trăm con bươm bướm màu hồng nhạt, đỏ đỏ vàng vàng, to bằng đồng xu, đang bay đang đỗ trên quan tài phủ vải đỏ, trong khoảng không lều bạt, cả trên vải bạt che, chúng kéo đàn kéo lũ, con bay con đậu kín lều, còn trong lều đặt quan tài màu trắng tinh của bác tôi ở đằng trước lại không hề có bóng một con bướm. Đàn bướm màu hoa rực rỡ, sau vài phút bay đậu trong lều đặt linh cữu của anh tôi, lại lặng lẽ bay khỏi lều và mất hút trên bầu trời giá lạnh, tuyết bay trắng xóa trong ánh mắt kinh dị của đám đông.


           


Sau đó, đứng ngẩn tò te trong cảnh tượng kỳ dị vừa rồi, tôi nghĩ, trời đang tiết đại hàn, tuyết đang bay lả tả, đàn bướm từ đâu bay đến, rồi lại bay đi đâu? Tại sao chúng chỉ đỗ trong lều bạt đặt quan tài của anh chị tôi, chứ không bay sang lều bạt đặt quan tài bác tôi gần đó? Tại sao khi tôi bước sang tuổi trung niên, khi nhân sinh quan, thế giới quan và văn học quan đã hình thành và khó lòng thay đổi, đã khiến tôi phải chứng kiến một cảnh tượng “chân thực của không chân thực”, “tồn tại của không tồn tại”như thế? Cảnh tượng chân thực và kỳ dị này, sẽ có ảnh hưởng và tác dụng như thế nào đối với thế giới quan và văn học quan của tôi? Đây liệu có phải là một lần khởi ngộ cửa trời bắt đầu mở ra về văn học mà Thượng Đế giành cho tôi khi sáng tác của mình đã đi vào con ngõ cụt?


VÌ SAO PHẢI VIẾT VÀ PHẢI VIẾT TIỂU THUYẾT GÌ?


Tôi thường hỏi mình,vì sao phải viết.Tôi thường trả lời lúc đầu tôi biết vì sao phải viết, sau đó đi đôi với sự tăng trưởng về tuổi đời, lại không biết vì sao phải viết.


Bây giờ tôi không hỏi nữa. Về chuyện vì sao phải viết, tôi không còn truy hỏi mình, cũng không còn để tâm hỏi người khác.


Chào đời từ năm một ngàn chín trăm năm mươi tám của thế kỷ trước, đến mùa xuân của thế kỷ này viết xong “Phogn nhã tụng”, tôi đã bước vào ngưỡng cửa của tuổi năm mươi. Ở quê tôi trước kia, người nào năm mươi tuổi còn nói mình ở tuổi trung niên, sẽ bị người ta cười. Bước sang tuổi sáu mươi, ở quê tôi đã coi là người già. Bước sang tuổi bảy mươi đều đã xưa nay hiếm. Nghĩ đến độ tuổi này, tôi cảm thấy sờ sợ ở sau lưng, trên cột sống có một sự bất lực đến ớn lạnh. Nhưng sự tăng trưởng của tuổi đời, không vì bạn sợ hãi trước sự tiêu tan tất nhiên của mạng sống mà nó đi chậm lại, hoặc tạm dừng bước chân. Vậy là tôi không còn nghĩ đến vấn đề trừu tượng tại sao mình phải viết. Như thế sẽ tránh được quá nhiều chuyện đau đầu, phải suy nghĩ con người vì sao sống, vì sao chết. Dù sao, bạn đã năm mươi tuổi. Dù sao, bạn cũng chỉ có thể viết. Dù sao, chỉ có viết mới là mạng sống từ nay về sau của bạn. Vậy thì, cứ thế sống một cách hối hả, đọc và viết một cách từ từ, không thi thố với người khác ai viết hay viết dở, không so bì tác phẩm của ai bán được nhiều hay ít, không nghĩ đến danh tiếng và tiền tài của một nhà văn, cũng cố gắng không quá ư để ý đến sự bình phẩm nhận xét của người khác đối với bạn và tác phẩm của bạn.Chỉ nghĩ đến việc sáng tác từ nay về sau và bạn phải viết tiểu thuyết gì, viết như thế nào? Chỉ nghĩ, trong sáng tác của bạn, làm thế nào mới có thể biểu đạt hoàn chỉnh hơn cái “tôi” của bạn.


Đúng vậy, tôi không còn hỏi mình vì sao phải viết. Nhưng tôi không thể không hỏi mình phải viết tiểu thuyết gì. Lúc rảnh rỗi tĩnh lặng tôi thường truy hỏi mình, thẩm vấn mình như thế, y như một quan tòa oai vệ xét hỏi một cậu bé không điều khiển được mình đi ăn cắp. Có lẽ, vị quan tòa ấy sẽ được câu trả lời lý tưởng, có lẽ cậu bé kia bị bức hỏi đến chết cũng không trả lời được vì sao mình lại đi ăn cắp của người khác. Nhưng bị bản thân bức hỏi mãi, bạn sẽ dần dần như hiểu ra vấn đề:Té ra, sáng tác,viết truyện có lẽ là một thứ ăn cắp đối với cuộc đời, có lẽ là một quá trình ăn cắp mạng sống dưới sự bao phủ của cái chết. Té ra, tôi cặm cụi với cây bút, hình như đều là để viết ra một bộ tiểu thuyết người khác hình như đã đọc, lại xưa nay chưa từng đọc bao giờ, trước đó tôi hình như đã viết, lại xưa nay chưa từng viết bao giờ. Cuốn tiểu thuyết ấy, giống như một hòn đá từ trên trời rơi xuống trước kia, người ta không biết hòn đá ấy từ nơi nào đến cõi người, cảm thấy vừa quen vừa lạ. Cuốn tiểu thuyết ấy giống như một quái vật đến từ biển cả, hoặc rừng sâu, người ta trứơc kia hình như đã từng nghĩ đến hình hài của nó, lại hình như xưa nay chưa từng nghĩ đến bao giờ, hình như đã từng nhìn thấy hình dáng của nó, lại quả thật chưa nhìn thấy bao giờ. Té ra, tôi đã nghĩ một cách ngông cuồng phải viết một tiểu thuyết như thế. Té ra, tôi đã quá ư ngông cuồng tự đại, rõ ràng chuyện đó không thể xảy ra, mình vẫn cứ tưởng có năng lực thử làm gì đó. Dù sao, sự việc đã như thế, suy nghĩ cũng đã như thế, thì cứ để chuyện vĩnh viễn không thể xảy ra dẫn dắt sáng tác của mình. Còn người khác nói gì, thậm chí chửi bạn thế nào, cũng mặc kệ người ta, dù sao mình đã quen chuyện đó.


Bởi vì, tôi có thầm dự cảm, cuốn “Phong nhã tụng” ra đời sẽ bị chửi rủa om sòm, nhưng trên mạng sống đã chết, tôi đã thật sự nhìn thấy bươm bướm màu phấn hồng đang bay, nhìn thấy hoa tuyết giữa đất trời, cũng còn nhìn thấy một tia nắng đầu tiên sau cơn mưa tuyết.


 Bắc Kinh, ngày 1 tháng 3 năm 2008


 


Vũ Công Hoan dịch


Dịch giả gửi www.trieuxuan.info


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
xem thêm »