tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 26682358
Những bài báo
15.10.2008
Triệu Xuân
Tư liệu: Núi Bài Thơ ở thành phố Hạ Long

Núi Bài Thơ là ngọn núi đá vôi đẹp thuộc trung tâm Tp. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Trên núi này còn lưu lại các bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông khắc trên đá năm 1468, và của Trịnh Cương năm 1729. Các bài thơ này đã đem lại tên gọi cho núi. 
Đây là một di tích có giá trị văn hoá lịch sử quan trọng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều bài thơ khắc trên đá của một số vị vua đi kinh lý, cảm hứng trước vẻ đẹp thần tiên của Vịnh Hạ Long đã làm thơ.
Một ngọn núi đá vôi cao 108 m nằm ở trung  tâm  thành phố Hạ Long, kề ngay bên vịnh Hạ Long, nhìn xa trông như một toà lâu đài khổng lồ với ba ngọn tháp nhấp nhô trên những bức tường thành kiên cố. Đó là núi Bài Thơ. Xưa kia núi còn có tên là núi Truyền Đăng.


Lịch sử hình thành


Núi hình thành từ kỷ Đê-vôn, trong cuộc vận động tạo núi Indonesia. Đỉnh cao nhất của núi có hình ngọn mác chĩa lên trời, đấy là cốt + 168 m, phía dưới có nhiều ngọn, nhiều mỏm chông chênh, vách đá dựng đứng, những lèn đá tai mèo nhọn hoắt làm cho núi có một vẻ cổ kính, huyền bí.


Từ nhiều góc độ người ta nhìn thấy núi có lúc dáng như hổ phục, lúc có dáng như sư tử vờn mồi, lúc có dáng như con rồng sắp cất cánh.


Núi Bài Thơ thuở xưa có tên núi Rọi Đèn, tên chữ là Truyền Đăng Sơn. Tương truyền rằng, ngày xưa lính thú gác trên núi hễ có giặc giã đến thì đốt lửa báo về kinh thành. Từ đó xuất hiện tên núi Truyền Đăng.


Năm 1468, vào dịp mùa xuân, năm Quang Thuận thứ 9, đời vua Lê Thánh Tông, cháu nội của Lê Lợi, đưa quân đi tuần ở vùng biển Đông Bắc, có dừng thuyền ở chân núi Truyền Đăng, phía giáp với Vịnh Hạ Long, để uống rượu ngâm thơ. Xúc động trước cảnh đẹp sơn thủy hữu tình của thiên nhiên, nhà thơ - nhà vua Lê Thánh Tông đã cho khắc một bài thơ lên vách đá tạm dịch ý như sau:


Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào


Núi non, la liệt rải rác như quân cờ, vách đá liền trời


Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ


Hàm hào cửu tam (đã định)


Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió


Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên


Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt


Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững


Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn.


 


Bài thơ này được khắc trên một vách đá khá phẳng, cách mặt đất chừng 2,5 m, gồm 56 chữ Hán, khắc liền một mạch, không phân câu như hiện nay chép lại. Trong 56 chữ trên có 21 chữ đã mờ hẳn, không thể đọc nổi, những chữ còn lại rất mờ. Trước phần thơ có phần lạc khoản (đề tựa) gồm 49 chữ, cũng bị phân hóa gần như hoàn toàn. May mắn, bài thơ trên có chép trong thư tịch cổ, nên đó chính là chỗ dựa của các nhà nghiên cứu.


261 năm sau, vào năm 1729 chúa An Đô Vương Trịnh Cương, một nhà thơ có tiếng thời Lê - Trịnh, cũng đem quân đi tuần qua đây. Ông cho đóng quân đồn trú dưới chân núi Truyền Đăng. Đọc thấy bài thơ của vua Lê Thánh Tông, chúa Trịnh bèn họa lại bằng một bài thất ngôn bát cú, lấy theo vần "yên" của bài trước, dùng lại 4 chữ "thiên" "quyền" "yêu" "niên" trong bài của Lê Thánh Tông. Bản dịch của Hà Minh bài thơ họa của Trịnh Cương:


Biển rộng mênh mang, nước dâng đầy


Núi chìm xuống nước, nước tràn mây


Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng


Cảnh đẹp thần tiên một chốn này.


Mùi tanh giặc thác còn đâu đó


Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây


Ba quân tướng sĩ đều vui vẻ


Bữa tiệc biển khơi chén rượu đầy.


 


Bài thơ của Trịnh Cương được khắc theo lối chữ hành, trên một vách đá nghiêng xuống đất, nên tránh được hủy hoại của nước mưa, đến nay còn rõ nguyên, rất dễ đọc.


Đến đầu thế kỷ 20 nhiều tao nhân, mặc khách đi du ngoạn vùng Hạ Long, gặp bài thơ này lại cho khắc 7 bài thơ nữa, có bài chữ Hán, có bài chữ Quốc ngữ trên những vách đá lân cận. Tổng số bây giờ có chín bài thơ còn lưu truyền trên vách đá.


 (Nguồn: Wikipedia)

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chu Văn Sơn, người lụy…đẹp - Văn Giá 18.04.2019
Ngày sách Việt Nam: Những con số…lo sợ! - Nguyễn Quang Thiều 18.04.2019
Hữu Mai: Hành trình lao động sáng tạo đáng quý trọng - Đỗ Ngọc Yên 13.04.2019
Vì sao ông Trịnh Vĩnh Bình kiện Chính phủ đòi 1,25 tỷ USD? - Quốc Thắng 12.04.2019
“Kẻ sỹ thời loạn” hay thời loạn vắng kẻ sỹ? - Nguyễn Thị Tịnh Thy 04.04.2019
Mấy cảm nhận sau khi đọc "Kẻ sỹ thời loạn" - Nguyễn Mạnh Đẩu 04.04.2019
Nhà văn Lê Bầu và ba người đàn bà đức hạnh - Vũ Từ Trang 30.03.2019
Nhà văn Xuân Cang: Nhận diện mình qua kinh Dịch - Trần Hoàng Thiên Kim 23.03.2019
Tôi tin rằng đây không phải lần cuối tôi post lời tâm tình lên www.trieuxuan.info - Triệu Xuân 24.02.2019
Cố tình tiếp tục phủ nhận lịch sử Quốc gia Nam Việt đến bao giờ? - Vũ Bình Lục 11.02.2019
xem thêm »