tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29895181
Tiểu thuyết
12.11.2009
A. Dumas
Hai mươi năm sau

Mười phút sau đến một tòa lâu đài cổ hoang tàn, nó bao quanh ngọn một quả đồi, đứng trên đó nhìn được bao quát cả vùng chung quanh. Cách xa độ một phần tư dặm trông thấy rõ Lens đang ở thế nguy, và phía trước Lens là cả đạo quân thù.


Nhìn thoáng một cái, hoàng thân đã bao quát khoảng không gian mở ra trước mắt ông từ Lens cho đến Vitry. Một lát sau đã díễn ra trong trí óc ông tất cả kế hoạch của một trận đánh vào ngày hôm sau ắt là nó sẽ cứu nước Pháp lần thứ hai khỏi cuộc xâm lăng.


Ông lấy bút chì, xé một tờ giấy trong cặp và viết.


“Ông thống chế thân mến,


Trong một giờ nữa Lens sẽ rơi vào tay quân địch.


Ông hãy đến chỗ tôi, mang theo tất cả quân đội. Tôi sẽ tới Vendin để bố trí quân. Ngày mai chúng ta sẽ chiếm lại Lens và đánh bại quân thù!”


Rồi quay lại phía Raoul, ông bảo:


– Đi đi, phi thật nhanh và trao bức thư này cho ông De Grammont


Raoul cúi mình cầm mảnh giấy đi nhanh xuống núi, nhảy phốc lên ngựa và phi nước đại.


Mười lăm phút sau anh đa về tới chỗ thống chế.


Một phần lực lượng đã tới nơi. Người ta đợi phần còn lại từng giây từng phút.


Thống chế De Grammont dẫn đầu tất cả số lục quân và kỵ binh có sẵn và đi theo đường Vendin, để lại quận công De Châtillon để chờ số quân còn lại và đưa họ đi sau.


Tất cả pháo binh đều đã sẵn sàng và lên đường.


Bảy giờ tối thì thống chế đến chỗ hẹn. Hoàng thân đang đợi. Như ông đã đoán trước, Lens rơi vào tay quân địch gần như ngay sau khi Raoul đi. Việc ngừng pháo kích cũng đã nói lên sự kiện đó.


Người ta chờ đêm tới. Trời càng tối dần thì những toán quân mà Hoàng thân gọi cũng lần lượt tới nơi. Họ đã được lệnh là tuyệt đối không đánh trống thổi kèn.


Chín giờ thì tối hẳn. Tuy nhiên một ánh hoàng hôn cuối cùng còn chiếu sáng cánh đồng.


Đoàn quân do hoàng thân dẫn đi bắt đầu hành quân lặng lẽ.


Đi tới bên kia Annay thì trông thấy Lens; vài ba ngôi nhà đang cháy và một tiếng xôn xao âm thầm chỉ rõ sự hấp hối của một thành phố bị chiếm lĩnh dội đến tai những người lính.


Hoàng thân cắt đặt vị trí cho mỗi người; thống chế De Grammont giữ đầu cánh trái và phải dựa vào Méricourt; quận công De Châtillon ở trung tâm; cuối cùng hoàng thân ở phía trước Annay hình thành cánh phải.


Trật tự của trận đánh ngày hôm sau phải giữ nguyên như trật tự các vị trí đã bố trí đêm hôm trước. Mỗi người khi tỉnh giấc phải ở đúng nơi mà mình cần hành động.


Cuộc vận động được thực hiện trong yên lặng như tờ và với sự chính xác cao nhất. Mười giờ ai nấy đã giữ vị trí của mình, mười giờ rưỡi hoàng thân đi kiểm tra các vị trí và ban mệnh lệnh cho ngày hôm sau.


Ba điều được căn dặn kỹ càng nhất cho tất cả các chỉ huy, và họ phải lo sao cho tất cả binh sĩ tuân theo nghiêm ngặt. Thứ nhất là các đơn vị phải trông nhau mà hành quân cho đúng, sao cho kỵ binh và bộ binh ở trên cùng một tuyến, và mỗi đơn vị giữ đúng các khoảng cách của mình.


Thứ hai là đi công kích chỉ đi bước thường.


Thứ ba là để quân địch nổ súng trước.


Hoàng thân giao De Guiche cho cha anh, và giữ Bragelonne ở với mình; nhưng hai thanh niên xin cho ngủ cùng với nhau đêm nay và được chấp thuận.


Một tấm lều được dựng lên cho họ bên cạnh lều của thống chế. Ban ngày mệt nhọc thế, mà chẳng cậu nào buồn ngủ.


Vả chăng đêm trước của một trận đánh bao giờ chẳng là một điều trang nghiêm và trịnh trọng, ngay cả đối với những người lính già cũng vậy, huống hồ là cả hai thanh niên lần đầu tiên đi ra nơi chiến trường khủng khiếp ấy.


Đêm trước một trận đánh, người ta nghĩ đến trăm điều lãng quên cho đến lúc ấy lại vụt lên trong trí óc. Đêm trước một trận đánh, những người dưng trở thành bạn bè, và bạn bè trở thành anh em.


Chẳng cần phải nói rằng nếu như người ta giữ ở trong tim một tình cảm nào đó trìu mến hơn, thì dĩ nhiên tình cảm ấy sẽ đạt tới mức phấn khích cao nhất mà nó có thể đạt.


Chắc rằng hai thanh niên ấy mỗi người đều cảm thấy một tình cảm nào đó, vì rằng một lát sau mỗi người ra ngoi ở một góc lều và tì lên đầu gối để viết.


Thư văn lai láng, bốn trang giấy lần lượt đầy những dòng chữ nhỏ li ti và sít nhau. Chốc chốc hai thanh niên lại nhìn nhau mỉm cười. Họ hiểu nhau mà không nói gì cả; hai tư cách phong nhã và dễ thương ấy sinh ra để thông cảm với nhau mà chẳng nói thành lời.


Viết thư xong, mỗi người bỏ thư của mình vào hai lần phong bì, chỉ khi nào xé phong bì ngoài cùng ra người ta mới biết được thư viết cho ai. Rồi cả hai tiến lại gần nhau, trao đổi các phong thư và mim cười.


– Nếu như sự bất hạnh đến với tôi. – Bragelonne nói.


– Nếu như tôi bị giết, – De Guiche nói.


– Cứ yên trí, – cả hai cùng nói.


Rồi họ ôm hôn nhau như hai anh em; xong mỗi người trùm áo choàng mà ngủ cái giấc ngủ trẻ trung và duyên dáng của những cánh chim, những bông hoa và những em bé.


37.
Một bữa ăn ngày xưa


Cuộc hội kiến thứ hai của bốn chàng ngự lâm quân cũ không long trọng và hầm hè như cuộc đầu tiên. Với lý lẽ bao giờ cũng trội hơn của mình, Athos phán đoán rằng bàn ăn sẽ là trung tâm tụ họp nhanh chóng nhất và đầy đủ nhất. Và vào cái lúc mà bạn bè anh kiêng nể sự tao nhã và tiết đo của anh, chẳng dám đá động đến một trong số những bữa thịnh soạn ngày xưa ăn ở quán Quả Thông hoặc quán Parpaillot, thì anh là người đầu tiên đề nghị gặp nhau quanh một bàn ăn thật đàng hoàng và mỗi người có thể buông theo tính tình và phong cách của riêng mình, sự buông thả tự nhiên ấy đã duy trì sự thông cảm và hòa hợp nó khiến các anh được người ta gọi là những người bạn nối khố.


Lời đề nghị thật là thú vị đối với mọi người, nhất là D’Artagnan, anh đang khao khát thấy lại những bữa ăn ngon và niềm vui vẻ chuyện trò của thời trai trẻ; bởi vì đã từ lâu, tâm hồn tinh tế và khoái hoạt của anh chỉ toàn gặp những thỏa mãn nửa vời, những thức ăn tồi, như anh thường nói. Porthos vào lúc có cơ làm nam tước rất vui mừng có được cơ hội để nghiên cứu ở Athos và Aramis lời ăn tiếng nói và các cung cách của những người cao sang. Aramis muốn qua D’Artagnan và Porthos để biết tin tức trong hoàng cung và trong mọi cơ hội muốn giành cho mình những người bạn thật là tận tụy ngày xưa và từng hỗ trợ anh trong các cuộc quyết đấu với những đường kiếm đến là lanh lẹn và không ai có thể thắng nổi.


Còn về Athos, anh là người duy nhất không có chút gì chờ đợi hoặc thu nhận ở những người kia, mà chỉ được thúc đẩy bằng một tinh thần cao thượng giản đơn và tình bạn bè thuần túy.


Thế là họ thỏa thuận với nhau rằng mỗi người sẽ cho biết địa chỉ rất rõ ràng của mình và khi nào một người cần đến thì cuộc hội họp sẽ được triệu tập tại nhà một chủ quán nổi tiếng ở phố Đồng Tiền có tấm biển đề Nhà Ẩn Sĩ. Cuộc hẹn dầu tiên ấn định vào thứ tư sau, đúng tám giờ tối.


Đúng ngày hôm ấy, bốn người bạn đến rất đúng giờ và mỗi người từ một phía. Porthos cần thử một con ngựa mới, D’Artagnan rời phiên gác ở cung Louvre, Aramis đã phải đi thăm một bà sám hối của mình trong xóm, còn Athos đã thuê nhà ở phố Guénégaud, hầu như ở sát gần, họ rất bất ngờ gặp nhau ở ngay cửa quán Nhà Ẩn Sĩ, Athos từ Cầu Mới ra, Porthos từ phố Gỗ Xẻ đến, D’Artagnan từ phố Hào Saint-Germain-l’Auxerrois – va Aramis từ phố Béthisy tới.


Những lời lẽ đầu tiên trao đổi giữa bốn người bạn đúng là do cố ý làm bộ dạng cho nên có phần hơi gượng gạo, và ngay bữa ăn cũng bắt đầu với một vẻ cứng nhắc thế nào ấy. Người ta thấy rõ là D’Artagnan cố gượng để cười, Athos để uống, Aramis để kể chuyện và Porthos để im tiếng. Athos nhận thấy sự lúng túng ấy và để có phương thuốc cứu chữa ngay, anh gọi mang đến bốn chai rượu champagne.


Trước tiếng gọi ấy ban ra với vẻ điểm tĩnh thông thường của Athos, người ta thấy khuôn mặt chàng Gascon dãn ra, và vầng trán Porthos rạng rỡ hẳn.


Aramis ngạc nhiên. Anh biết rằng Athos không những không uống rượu nữa, mà còn cảm thấy phần nao ghê sợ rượu.


Aramis càng ngạc nhiên gấp bội khi thấy Athos rót rượu đầy phè và uống với niềm hào hứng xưa kia. D’Artagnan rót rượu ra cốc và cạn ngay; Porthos và Aramis chạm cốc nhau. Loáng một cái, bốn chai rượu đã rỗng không. Dường như các thực khách vội vã tuyệt giao với những ẩn ý của mình.


Loáng một cái môn thuốc đặc hiệu ấy đã xua tan đến những bóng mây nhỏ nhất còn đọng lại trong lòng họ. Bốn người bạn bắt đầu nói to hơn, chang đợi người này dứt lời, người kia đã lên tiếng, và mỗi người ngồi ăn theo kiểu mình thích. Chẳng mấy chốc, thật là điều ghê gớm. Aramis tháo hai sợi dây ngù buộc áo chẽn của mình, thấy vậy Porthos cởi phăng tất cả day áo của anh.


Những trận đánh, những chặng đường dài, những nhát gươm nhận được và ban đi là những điều tươi mát đầu tiên của cuộc chuyện trò. Rồi người ta chuyển sang những cuộc đấu tranh ngấm ngầm chống lại người mà bây giờ người ta gọi là vị giáo chủ vĩ đại.


– Thực tình – Aramis cười nói, – là đã khá nhiều lời ca tụng những người đã chết rồi, bây giờ ta hãy chê bai người sống một chút. Tôi muốn chê bai lão Mazarin một tí, có được không?


– Được chứ! – D’Artagnan bật cười nói – được chứ. Cậu cứ kể chuyện đi, nếu hay tôi sẽ tán thưởng.


Aramis bắt đầu kể:


– Mazarin đang cần liên minh với một vị đại hoàng thân. Lão yêu cầu ông ta gửi cho lão bản liệt ke những điều kiện theo đó hai người có thể kết giao được. Hoàng thân vốn ghét thương lượng với một kẻ thô bỉ như lão, đành miễn cưỡng làm bản liệt kê và gửi cho lão. Trong bản đó có ba điều kiện không vừa lòng Mazarin, lão đề nghị ông từ bỏ ba điều kiện ấy để đổi lấy mười nghìn écu.


– A, a! – Cả ba người bạn reo lên, – chẳng đắt đâu, và lão chẳng sợ bị cột vào lời nói hớ đâu. Thế hoàng thân bảo sao?


– Hoàng thân lập tức gửi ngay năm mươi nghìn livre cho Mazarin và yêu cầu lão đừng bao giờ viết cho ông nữa, và còn sẵn sàng biếu thêm hai mươi nghìn livre nếu như lão cam kết là không bao giờ nói gì với ông nữa.


– Thế Mazarin làm gì?


– Lão tức giận chứ? – Athos hỏi.


– Chắc là lão cho đánh đòn người đưa thư? – Porthos hỏi.


– Lão nhận số tiền phải không? – D’Artagnan nói.


– Cậu đoán đúng, Artagnan ạ, – Aramis bảo.


Và tất cả phá ra cười ầm ĩ đến nỗi chủ quán chạy lên và hỏi xem các ông ấy cần gì. Gã cứ tưởng họ đánh nhau.


Trận cười rồi cũng yên.


– Có thể cho ông De Beaufort một đòn không nhỉ? – D’Artagnan hỏi, – tôi rất muốn đấy.


– Cứ làm đi, – Aramis nói, anh biết đến tận gan ruột cái anh chàng Gascon thật là tinh ma và thật là dũng cảm này, hắn không bao giờ chịu lùi một bước trên bất cứ đấu trường nào.


– Anh thấy thế nào, Athos? – D’Artagnan hỏi.


– Tôi lấy danh dự quí tộc mà thề, – Athos đáp, – nếu cậu nói dam dớ thì chúng tôi sẽ cười cho đấy.


– Tôi xin bắt đầu, – D’Artagnan nói: – Một hôm trong lúc chuyện trò với một người bạn của Ngài Hoàng thân, ông De Beaufort kể với người ấy rằng; có một lần ông tranh luận với De Chavigny về những cuộc tranh chấp đầu tiên giữa Mazarin và nghị viện. Thấy Chavigny gắn bó với tể tướng mới, mà chính hắn xưa kia đã từng ra sức ôm chân tể tướng cũ, ông De Beaufort bực lắm và đã thụi cho hắn một trận ra trò.


“Người bạn ấy biết ông De Beaufort vốn có bàn tay rất nhẹ nhàng, nên sửng sốt về việc đó và vội chạy đến kể lại cho Ngài Hoàng thân nghe. Câu chuyện lan rộng ra ngay và ai nấy đều quay lưng lại Chavigny. Hắn rất thắc mac về thái độ lạnh nhạt chung ấy của mọi người, nhưng người ta ngại cho hắn biết nguyên do. Cuối cùng có một người đánh bạo nói với hắn rằng mọi người rất lấy làm lạ vì sao hắn để cho ông De Beaufort thụi hắn, dù ông ta có là hoàng thân chăng nữa.


“– Thì ai nói là Hoàng thân De Beaufort thụi tôi? – Chavigny hỏi.


“– Thì chính Hoàng thân chứ ai, – người bạn đáp.


“Người ta bèn đi ngược nguồn tin và tìm thấy người mà hoàng thân đã kể cho nghe chuyện ấy, ông ta lấy danh dự ra thề là đã nói sự thật, lại còn nhắc lại và khẳng định nữa.


“Chavigny phẫn uất về một chuyện vu cáo như vậy mà hắn chẳng hiểu tí gì, tuyên bố với bạn bè là hắn thà chết, chứ không thể chịu đựng một sự lăng nhục đến thế. Cho nên hắn cử hai người làm chứng đến gặp hoàng thân, với nhiệm vụ là hỏi ông xem có đúng là ông có nói rằng ông đã thụi De Chavigny không.


“– Tôi đã nói như thế, – hoàng thân đáp, – và tôi xin nhắc lại, vì đó là sự thật.


“– Thưa Đức ông, – một người nhà Chavigny bèn nói, – Xin phép cho tôi được thưa với Điện hạ rằng, những cú đánh vào một người quí tộc làm hạ phẩm giá của cả người đánh lẫn người bị đánh. Vua Louis XIII trước kia đã không muốn dùng những người quí tộc làm hầu phòng để có quyền đánh đập hầu phòng.


“– Ơ kìa, – ông De Beaufort ngạc nhiên hỏi, – nhưng mà ai đã bị đánh đòn và ai nói đến chuyện đánh đòn cơ chứ?


“– Thì chính Đức ông bảo là đã đánh...


“– Đánh ai?


“– Ông De Chavigny.


“– Tôi ấy à?


“– Thì ngài đã chẳng thụi ông De Chavigny rồi sao, ít ra là theo như ngài nói.


“– Đúng vậy.


“– Ồ! Nhưng ông ta cải chính.


“– À ra the, – hoàng thân nói, – tôi đã thụi cho ông ta ra trò, mà nguyên văn lời tôi nói như thế này. – Ông De Beaufort nói với tất cả vẻ oai nghiêm mà các cậu đã biết đấy!


“– Ông Chavigny thân mến ơi, ông thật là đáng chê trách vì đã giúp sức cho một tên vô lại như lão Mazarin kia”.


“– A! Thưa Đức ông, – nhân chứng thứ hai reo lên, tôi hiểu rồi, chắc là ý ngài muốn nói quở trách.


“– Quở trách với thụi ([1]) thì có sao nào? – Hoàng thân nói: – chang phải cũng rứa cả ư? Quả tình các nhà soạn chữ nghĩa của các ông thực là thông thái rởm!


Mọi người cười đến vỡ bụng về điều sai lầm ngôn ngữ học đó của ông Beaufort mà những sai lầm loại ấy bắt đầu trở thành truyền thuyết. Cũng như thừa nhận rằng ý thức đảng phái đã bị loại trừ lẫn nhau ra khỏi các cuộc hội họp thân mật này, D’Artagnan và Porthos có thể chế giễu các ông hoàng với điều kiện là Athos và Aramis có thể thụi cho lao Mazarin.


– Thực tình – D’Artagnan nói với hai bạn, – các anh muốn điều ác cho Mazarin cũng đúng thôi, bởi vì về phía lão ta, tôi xin thề rằng lão cũng chẳng muốn điều lành cho các anh.


– Lạ nhỉ! Thật không? – Athos nói. – Nếu tôi biết rằng, cái lão đê tiện ấy biết tên tôi, thì có lẽ tôi sẽ phải đổi tên, vì sợ rằng người ta sẽ tưởng là tôi quen biết hắn.


– Lão ta không biết anh do tên tuổi, mà do việc làm của anh. Lão biết rằng có hai người quí tộc tham gia một cách đặc biệt vào vụ vượt ngục của ông De Beaufort và đang ráo riết cho tìm kiếm; tôi xin bảo đảm với anh như vậy.


– Cho ai đi tìm kiếm?


– Tôi.


– Sao, cậu à?


– Phải, mới sáng nay thôi lão cho gọi tôi đến để hỏi xem có tin tức gì chưa?


– Về hai người quí tộc ấy à?


– Phải.


– Thế cậu trả lời thế nào?


– Là tôi chưa có tin tức gì, nhưng tôi ăn cùng với hai người họ có thể cung cấp tin cho tôi.


– Cậu bảo lão ta thế à? – Porthos hỏi với cái cười hô hố nở nang trên khuôn mặt to bè của anh. – Hoan hô! Thế việc ấy không làm cho anh lo sợ à, Athos?


– Không! – Athos nói, – chẳng phải tôi sợ việc tìm kiếm của Mazarin.


– Thế anh hãy cho tôi biết mot chút anh sợ cái gì nào? – Aramis hỏi.


– Chẳng sợ gì đâu, ít ra là trong hiện tại, thật đấy.


– Thế còn trong quá khứ? – Porthos vặn lại.


– A! Trong quá khứ lại là chuyện khác, – Athos thở dài nói, – trong quá khứ và trong tương lai...


– Phải chăng anh lo sợ cho Raoul của anh? – Aramis hỏi.


– Không! – D’Artagnan nói: – chẳng ai chết trong trận đầu tiên đâu.


– Trận thứ hai cũng vậy, – Aramis nói.


– Cả trận thứ ba cũng thế thôi, – Porthos nói. – Vả lại, khi người ta bị giết thì người ta khỏi chết, chứng cớ là chúng ta vẫn còn cả đây.


– Không, – Athos nói, – cũng không phải chuyện Raoul làm tôi lo ngại; bởi vì tôi hy vọng rằng nó sẽ cư xử như người quí tộc, và nếu nó bị giết thì chắc là chết một cách dũng cảm; nhưng này, nếu như tai họa ấy đến với nó, thì...


Athos đưa bàn tay lên vầng trán tái xanh.


– Thì sao? – Aramis hỏi.


– Thì tôi sẽ coi cái tai họa ấy như một sự chuộc tội.


– A, a! – D’Artagnan nói, – tôi biết anh định nói gì rồi.


– Và tôi cũng vậy, – Aramis nói – nhưng không nên nghĩ đến chuyện đó, Athos ạ: quá khứ đã qua rồi.


– Tôi không hiểu, – Porthos nói.


– Chuyện ở Armentières ấy mà, – D’Artagnan khẽ nói.


– Chuyện ở Armentières nào nhỉ? – Porthos hỏi.


– Milady...


– A! Phải rồi, – Porthos nói, – tôi quên bẵng đi mất rồi.


Athos nhìn anh bằng con mắt sâu xa và hỏi:


– Cậu đã quên chuyện ấy rồi ư?


– Thực tình, – Porthos đáp, – chuyện ấy cũng xa xôi lắm rồi.


– Điều ấy chẳng đè nặng lên lương tâm cậu hay sao?


– Quả là không! – Porthos nói.


– Thế, còn cậu, Aramis?


– Ấy thỉnh thoảng tôi cũng có nghĩ đến, nhưng giống như một trong những điều khó xử nó có tính cách giúp cho sự nghị luận nhiều hơn.


– Còn cậu thì sao, D’Artagnan?


– Tôi thú thật là khi nào nghĩ lại thời kỳ khủng khiếp ấy, tôi chỉ nhớ đến kỷ niệm về tấm thân lạnh giá của bà Bonacieux tội nghiệp mà thôi. Đúng, đúng, biết bao lần tôi thương tiếc nạn nhân, nhưng không bao giờ hối hận đối với kẻ ám sát nàng.


Athos lắc đầu, vẻ hoài nghi.


– Anh hãy nhớ rằng, – Aramis nói, – nếu như anh chấp nhận công lý của Trời và sự tham gia của nó vào các việc ở trên đời này, thì người đàn bà ấy đã bị trừng phạt theo ý Chúa. Chúng ta chỉ là nhưng công cụ, có thế thôi.


– Thế còn sự tự do ý chí thì sao, Aramis?


– Quan tòa làm gì nào? Ông ta có tự do ý chí của mình và kết tội mà chẳng sợ hãi gì. Đao phủ làm gì nào? Hắn làm chủ cánh tay của hắn và chém mà không ân hận.


         Đao phủ... – Athos lẩm bẩm.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009 (sắp phát hành).


www.trieuxuan.info


 







[1]           De Beaufort có tật nói hay lẫn những từ gần giống nhau: Gourmer là thụi, đánh; còn Gourmander là quở trách, la mắng.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »