tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28888547
Tiểu thuyết
05.11.2009
Nikos Kazantzakis
Zorba tay chơi Hy Lạp

2. Biển cả, cái êm ả mùa thu, những hải đảo chan hòa ánh sáng, cơn mưa nhẹ hạt dăng một tấm màn trong mờ lên sự lõa lồ bất hủ của Hy Lạp. Sung sướng thay kẻ nào trước khi chết còn được cái may mắn phiêu du trên biển Aegea.


Lạc thú trên cõi đời này kể cũng lắm - nào đàn bà, nào hoa trái, nào ý tưởng. Nhưng theo tôi, rẽ sóng lưới trên vùng biển này trong mùa thu êm dịu miệng thầm thì gọi tên từng cù lao nhỏ, đích thị là niềm vui mầu nhiệm nhất khả dĩ đưa tâm hồn người vào cõi Ihiên Đàng. Không ở nơi nào khác, người ta có thể chuyển từ thực tế vào mộng mơ dễ dàng và yên ả như thế. Những đường biển co lại và từ những cột buồm của những con tàu cổ xưa nhất, nảy ra cành lá hoa trái. Y như thể tại đây, ở Hy Lạp, sự cần thiết tất yếu nở ra thành phép mầu.


Vào khoảng trưa, mưa tạnh. Mặt trời rẽ mây hiện ra, dịu dàng, nõn nà, sạch bong và tươi mát, gửi những tia nắng xuống mơn man sóng nước cùng những dải đất thân yêu. Tôi đứng ở đằng mũi, thả mình say sưa ngây ngất với phép lạ được phơi bày đến tận cuối tầm mắt.


Trên tàu có những gã Hy Lạp yêu ma quỷ quái, mắt cú vọ, đầu óc như thứ hàng dởm hào nhoáng ở hiệu tạp hóa, giật dây người khác và gây lộn; một cái pianô sai dây; những phụ nữ nanh nọc mà trung thực. Tự dưng, ta cảm thấy muốn nắm lấy hai đầu con tàu, dìm nó xuống biển, lắc đến kỳ cùng để trút hết mọi sinh vật làm ô nhiễm nó - người, chuột, rệp rồi lại thả nó nổi trên mặt nước, gột rửa tinh tươm, không còn gì trong ruột.


Nhưng đôi khi, tôi bỗng thấy thương cảm. Một nỗi thương cảm của nhà Phật, lạnh lùng như kết luận của một tam đoạn luận siêu hình. Một nỗi thương cảm không những đối với con người, mà đối với toàn bộ cuộc sống đang vật lộn, kêu khóc, hy vọng, mà không thấy rằng mọi sự chỉ là ảo ảnh của hư không. Thương những người Hy Lạp, thương mỏ than bùn, thương bản thảo dở dang của tôi về Đức Phật, thương tất cả những kết hợp hão huyền của ánh sáng và bóng tối đột nhiên làm xáo động và ô nhiễm bầu không khí trong lành.


Tôi nhìn bộ mặt dài thượt và vàng như sáp của Zorba. Lão đang ngồi trên một cuộn dây thừng ở đằng mũi vừa hít hít một quả chanh, vừa dỏng đôi tai to tướng nghe một số hành khách cãi nhau, người tranh luận về đức vua, kẻ về Venizelos (Eleutherios Venizelos, 1864-1936, ba lần làm Thủ tướng Hy Lạp. năm 1935, sau khi xúi giục bạo loạn thất bại, phải lưu vong, bị kết án tử hình vắng mặt. Tháng 11-1935, được ân xá sau khi vua Georges II trở lại ngôi báu ở Hy Lạp). Lão lắc đầu và nhổ nước bọt.


- Chuyện tào lao! - Lão lẩm bẩm, miệt thị. - Họ không biết xấu hổ!


- Bác bảo cái gì là chuyện tào lao, Zorba?


- À, tất cả những cái đó: vua chúa, dân chủ, trưng cầu dân ý, dân biểu, ba láp hết.


Zorba đã bỏ xa những sự kiện đương đại tới mức chúng chỉ còn là những chuyện nhảm nhí lỗi thời. Chắc chắn, đối với lão, điện tín, tàu thủy và đầu máy xe lửa, đạo đức và tôn giáo hiện hành, hẳn cũng tương tự như những cây súng trường han gỉ. Tâm trí lão tiến bộ nhanh hơn thế giới nhiều.


Những dây chão kèn kẹt trên cột buồm, những bờ biển như nhảy múa và đám phụ nữ trên tàu đâm nhợt nhạt, mặt vàng vọt hơn vỏ chanh. Họ đã buông vũ khí: son phấn, áo lót, cặp tóc, lược. Môi tái đi, móng tay xanh lét. Những mụ mồm loa mép giải như những con chim mà là rơi rụng mất bộ lông mượn: ruy băng, lông mi giả, nốt ruồi giả, xu chiêng và nom thấy họ sắp sửa nôn ọe thật vừa tởm vừa rất đáng thương.


Zorba cũng mặt xanh nanh vàng. Đôi mắt long lanh của lão đờ đẫn đi. Mãi đến chiều, mắt lão mới sáng trở lại. Lão chỉ hai con cá heo nhảy vọt lên khỏi mặt nước, dọc theo sườn tàu.


- Cá heo! - Lão vui vẻ reo lên.


Lần đầu tiên tôi nhận thấy bàn tay trái của lão mất gần nửa ngón trỏ. Tôi giật mình và cảm thấy nôn nao.


- Ngón tay bác làm sao thế, Zorba? - Tôi kêu lên.


- Chả sao cả, lão đáp, phật ý thấy tôi không tỏ ra thích thú hơn với đôi cá heo.


- Có phải bị máy nghiến không? - Tôi gặng hỏi.


- Máy với móc quái gì! Tự tôi chặt nó đi đấy.


- Tự bác ư? Tại sao thế?


- Sếp không thể hiểu được đâu, sếp ạ! - Lão nhún vai nói. - Tôi đã nói với sếp là tôi đã làm đủ mọi nghề mà. Có dạo, tôi làm thợ gốm. Tôi mê nghề này như điên. Sếp có hiểu nổi ý nghĩa của việc lấy một cục bùn nặn thành bất kỳ cái gì mình thích, là thế nào không? Chà, anh quay cái bàn xoay và cục bùn đảo tròn như bị ma làm trong khi anh đứng cúi mình trên nó và nói: ta sẽ làm một cái bình, ta sẽ làm một cái đĩa, ta sẽ làm một cây đèn và những gì những gì nữa có quỷ biết! Đó chính là điều mà ta gọi là cái sự làm người: Tự do.


Lão đã quên phắt cả biển, lão không nhai chanh nữa, mắt lão trở lại trong sáng.


- Thế à? - Tôi hỏi. - Còn ngón tay bác thì sao?


- Ồ, nó làm vướng tôi trong khi sử dụng bàn xoay. Nó luôn luôn ngay đuồn đuỗn giữa lúc đang làm việc và làm đảo lộn các dự định của tôi. Cho nên một hôm, tôi vớ lấy cái rìu...


- Bác có đau không?


- Sếp nói gì vậy? Tôi đâu phải gỗ đá, tôi là một con người. Cố nhiên là đau chứ. Nhưng nó làm tôi vướng víu khi sử dụng bàn xoay cho nên tôi chặt nó đi.


Mặt trời xuống và biển lặng dần, mây tan, sao hôm lấp lánh. Tôi nhìn biển, nhìn trời và bắt đầu suy nghĩ... Say mê đến mức ấy, vớ lấy rìu và chặt ngón tay mình, chịu đau... Nhưng tôi không để lộ cảm xúc của mình.


- Biện pháp ấy thật tệ hại, Zorba! - Tôi mỉm cười nói. Nó làm tôi nhớ đến ông thầy tu khổ hạnh trong Thánh Tích, có lần thấy một phụ nữ làm ông động xuân tình, bèn lấy rìu...


- Cho ông ta đi với quỷ! - Zorba cắt ngang, đoán trước tôi sắp nói gì. - Ai lại chặt cái của ấy đi bao giờ! Quỷ bắt cái đồ ngu ấy! Đồ ngây thơ u mê đáng thương, cái ấy không bao giờ là trở ngại cả!


- Nhưng nó có thể là một trở ngại rất lớn, - tôi cãi cố.


- Trở ngại cho cái gì?


- Cho việc nhập Thiên Đàng.


Zorba liếc nhìn tôi, vẻ giễu cợt và nói:


- Nhưng sếp thật ngốc, đó chính là chìa khóa mở cửa Thiên Đàng.


Lão ngẩng đầu lên, nhìn tôi thật kỹ như muốn thấy những ý nghĩ đang triển diễn trong óc tôi: kiếp sau, Thiên Đàng, đàn bà, thầy tu. Nhưng xem chừng lão không nắm được mấy. Lão kín đáo lắc cái đầu nhuốm bạc to tướng:


- Những kẻ khuyết tật không vào được Ihiên Đàng, lão nói rồi im bặt.


Tôi vào ca bin nằm và lấy một quyển sách ra đọc. Đức Phật vẫn còn chiếm lĩnh tâm trí tôi. Tôi đọc Đối thoại giữa Đức Phật và người mục đồng, câu chuyện đã làm cho lòng tôi yên ổn và thanh thản trong mấy năm nay.


MỤC ĐỒNG: Bữa ăn đã dọn, tôi đã vắt sữa bầy cừu. Cửa lều tôi đã cài then, lửa đang cháy bùng bùng. Tha hồ cho trời muốn mưa bao nhiêu tùy thích!


ĐỨC PHẬT: Ta không còn cần đến lương thực hoặc sữa nữa. Gió là chốn nương náu của ta, lửa ta đã tắt. Tha hồ cho trời muốn mưa bao nhiêu tùy thích!


MỤC ĐỒNG: Tôi có cả bò đực lẫn bó cái. Tôi có những đồng cỏ của cha tôi. Có một con bò mộng để phủ lũ bò cái. Tha hồ cho trời muốn mưa bao nhiêu tùy thích!


ĐỨC PHẬT: Ta không có bò đực cũng chẳng có bò cái. Ta không có đồng cỏ. Ta chẳng có gì. Ta chẳng sợ gì. Tha hồ cho trời muốn mưa bao nhiêu tùy thích!


MỤC ĐỒNG: Tôi có một nữ mục đồng ngoan ngoãn và trung thành. Hàng bao năm nay, nàng là vợ tôi, tôi cảm thấy hạnh phúc những khi vui chơi với nàng ban đêm. Tha hồ cho trời muốn mưa bao nhiêu tùy thích!


ĐỨC PHẬT: Ta có một linh hồn tự do và ngoan ngoãn. Bao năm nay, ta đã rèn luyện nó và dạy nó vui chơi với ta. Tha hồ cho trời muốn mưa bao nhiêu tùy thích!


Hai tiếng nói đó vẫn còn vang lên khi giấc ngủ chụp xuống tôi. Gió lại nổi và sóng xô vào khuôn cửa kính dày ở thành tàu. Tôi bồng bềnh như một làn khói giữa ngủ và thức. Một trận bão lớn nổ ra, những cánh đồng cỏ biến dưới giữa làn nước, bò cái và cả con bò mộng nọ chìm nghỉm. Gió cuốn đi mái lều, lửa tắt ngấm, người đàn bà thét lên và chết gục trong bùn, và người mục đồng bắt đầu than khóc. Tôi không nghe thấy gã nói gì nhưng gã kêu rõ to và tôi chìm sâu thêm vào giấc ngủ, truội như con cá lặn xuống đáy nước.


Rạng sáng, tôi tỉnh dậy và kìa, bên phải chúng tôi, trải dài hòn đảo kiêu sang và hoang dã. Rặng núi hồng nhạt đang mỉm cười qua màn sương dưới mặt trời mùa thu. Quanh con tàu của chúng tôi, biển xanh một màu xanh chàm vẩn còn sôi sục chưa nguôi.


Ủ mình trong tấm mền nâu, Zorba hau háu nhìn đảo Crete. Luồng mắt lão nhanh chóng chuyển từ núi sang đồng bằng, lướt theo thám sát bờ biển như thể toàn bộ vùng duyên hải và đất này vốn quen thuộc với lão và lão sung sướng lại được lang thang ở đó trong trí tưởng tượng của mình.


Tôi tới bên lão, đặt tay lên vai và nói:


- Zorba, chắc chắn đây không phải lần đầu bác đến Crete! Bác nhìn nó đăm đăm như nhìn một người bạn cũ vậy. - Zorba ngáp như chán ngấy. Tôi cảm thấy lão không muốn nói chuyện tí nào. Tôi mỉm cười: - Bác ớn trò chuyện rồi, phải không, Zorba?


- Không hẳn thế sếp à, - lão đáp. - Có đều là trò chuyện lúc này thật khó.


- Khó ư? Tại sao?


Lão không trả lời ngay. Mắt lão lại phiêu diêu dọc theo bờ biển. Lão đã ngủ ngay trên boong: mái tóc hoa râm loăn xoăn của lão đẫm sương đêm. Mặt trời vừa mọc chiếu thẳng vào những vết nhăn sâu hằn trên má, cằm và cổ lão. Cuối cùng lão mấp máy môi, đôi môi dày và trễ xuống như môi dê.


- Buổi sáng, tôi thấy khó mở miệng. Rất khó. Xin lỗi.


Lão lại ngụp vào im lặng và một lần nữa lại dán cặp mắt tròn nhỏ vào đảo Crete.


Chuông rung, báo giờ điểm tâm. Những bộ mặt vàng ợt, rúm ró bắt đầu ló ra khỏi các ca bin. Những phụ nữ đầu tóc xoã xượi, lảo đảo lết bàn tay này sang bàn kia. Họ sực mùi ói mửa lẫn mùi nước thơm Cologne và mắt họ u ám, sợ hãi và đờ dại.


Ngồi trước mặt tôi, Zorba hít hít tách cà phê của mình với vẻ hưởng lạc rất Đông Phương. Lão phết bơ với mật ong lên lát bánh mì và ăn ngon lành. Mặt lão dần dà trở nên sáng hơn, bình thản hơn, nét miệng dịu hơn. Tôi bí mật quan sát lão từ từ thoát ra khỏi cơn ngái ngủ và thấy mắt lão mỗi lúc một thêm long lanh.


Lão châm một điếu thuốc lá, khoan khoái rít và thở khói xanh qua hai lổ mũi đầy lông. Lão gập cẳng chân phải dưới thân, ngồi xếp bằng thoải mái theo kiểu phương Đông. Bây giờ, lão có thể nói chuyện được rồi.


- Đây có phải là lần đầu tiên tôi tới Crete không ư? - Lão mào đầu (lão lim dim mắt nhìn qua cửa sổ thành tàu về phía ngọn núi Ida đang khuất xa dần sau lưng chúng tôi). Không, đây không phải lần đầu. Năm 1896 tôi đã thành người lớn hẳn hoi. Ria và tóc tôi đã thật màu đen như mun. Tôi đã có đủ ba mươi hai răng và những khi say, tôi chén các món nguội khai vị trước rồi mới đả đến món ăn chính. Phải, tôi cứ hưởng thụ hoài hoài. Nhưng bỗng nhiên, ma quỷ nhúng tay can thiệp vào thế sự. Một cuộc cách mạng mới nổ ra trên đảo Crete.


“Dạo ấy, tôi là một gã bán rong. Tôi đi từ làng này sang làng khác ở Macedonia, bán đồ kim chỉ. Tôi không nhận tiền mà thường đổi lấy pho mát, len, bơ, thỏ và ngô, sau đó bán tất cả những thứ đó, lãi gấp đôi. Đến làng nào vào chập tối, tôi cũng biết kiếm ra nơi ngủ đỗ. Làng nào chả có một nàng góa có trái tim dễ xúc động, cầu Chúa phù hộ cho họ! Tôi cho nàng một cuộn chỉ, hay một cái lược, hay một chiếc khăn quàng - cố nhiên là khăn đen, vì đức ông chồng quá cố mà - thế là tôi ngủ với nàng. Tôi chả tốn gì mấy! Không, sếp ạ, tôi chả tốn kém bao nhiêu vào những vui thú đã được hưởng. Song như tôi vừa nói, ma quỷ đã dây vào chuyện đời và Crete lại cầm vũ khí. Chao, tôi những muốn, cho lửa hỏa ngục thiêu cháy vận mệnh cái đảo Crete chết băm chết vằm này đi, nó không bao giờ để ta yên chăng? Tôi dẹp kim chỉ gương lược lại, cầm súng và lên đường, nhập bọn với quân phiến loạn ở Crete.”


Zorba ngừng lại. Lúc này, tàu chúng tôi đang men theo cái dải cong của một vịnh có bờ cát bình lặng. Sóng ở đây không xô ào mà trải ra nhẹ nhàng, chỉ để lại một vệt bọt mỏng ven bờ. Mây đã tan, mặt trời lấp lánh và những đường viền lô sô của đảo Crete trở nên thanh bình.


Zorba quay lại nhìn tôi, giễu cợt:


- Và bây giờ, tôi chắc sếp đang nghĩ rằng tôi sắp kể cho sếp nghe tôi đã chặt đầu bao nhiêu tên Thỗ Nhĩ Kỳ và ngâm rượu bao nhiêu cái tai của chúng - tục lệ ở Crete là thế mà. Này, tôi sẽ không kể đâu! Tôi không thích thế, tôi xấu hổ. Cái cơn điên khùng nào ốp vào ta vậy? Giờ đây, tôi điềm đạm hơn chút ít và tôi tự vấn: cái cơn điên khùng nào đã ốp vào ta, khiến ta bổ nhàu vào một kẻ chẳng làm gì mình hết mà cắn xé, cắt mũi, cắt tai, mổ bụng moi ruột hắn... Trong khi không ngừng cầu Thượng Đế Toàn Năng phù trợ! Phải chăng thế có nghĩa là ta muốn Thượng Đế cắt mũi, xẻo tai và phanh thây mọi người? Nhưng hồi đó, sếp thấy đấy, tôi còn đầy một bầu nhiệt huyết! Làm sao tôi có thể dừng lại mà xem xét mọi thứ nguyên cớ, lý do này nọ? Muốn suy xét sự việc cho đúng đắn, công bằng, phải chờ đến lúc về già, rụng hết răng và bình tĩnh lại. Khi anh là một lão khọm chẳng còn một cái răng, anh có thể dễ dàng nói: “Mẹ kiếp, các chú nhỏ đừng có cắn!” Nhưng khi anh còn nguyên ba mươi hai cái răng thì... Con người khi trẻ, là một con thú man rợ, phải sếp ạ, một con dã thú ăn thịt người!


Lão lắc đầu.


- Ờ, hắn cũng ăn cả cừu, lợn, gà nữa, song nếu chưa ăn thịt người thì hắn chưa thỏa mãn cái bụng.


Vừa dụi mẩu thuốc lá vào cái đĩa đựng tách cà phê, lão vừa nói thêm:


- Phải, hắn chưa thỏa mãn cái bụng. Thế đấy, con người đạo mạo có ý kiến gì về điều đó, hả?


Lão không chờ tôi trả lời.


- Tôi tự hỏi không biết các hạ có thể nói gì về điều đó? - Lão nói tiếp, vẻ như đánh giá tôi. - Trong chừng mực tôi có thể nhìn nhận thấy thì các hạ chưa bao giờ đói, chưa bao giờ giết chóc, chưa bao giờ trộm cắp, chưa bao giờ phạm tội ngoại tình. Vậy các hạ biết quái gì về thế sự? Đầu óc các hạ ngây thơ, da thịt thậm chí chưa bao giờ biết mùi nắng... - lão lẩm bẩm, coi khinh ra mặt.


Tôi đâm xấu hổ với đôi bàn tay thanh tú, bộ mặt xanh xao của mình, với cuộc đời chưa từng vấy bùn và máu của mình.


- Thôi được! - Zorba nói, quét bàn tay nặng nề trên mặt bàn, như thể lau nó bằng một miếng bọt biển. - Thôi được! Tuy nhiên, có một điều tôi muốn hỏi sếp, sếp hẳn đã đọc thiên kinh vạn quyển, có lẽ sếp biết.


- Nói đi, Zorba, điều gì?


- Có một thứ phép lạ xảy ra ở đây, sếp ạ. Một thứ phép lạ kỳ cục khiến tôi không hiểu ra sao nữa. Toàn bộ vụ việc đó - những thủ đoạn bẩn thỉu, trộm cắp, tàn sát của chúng tôi, tức là bọn phiến loạn chúng tôi ấy - toàn bộ vụ việc đó đã dẫn tới việc hoàng tử George đến Crete. Tự do!


Lão nhìn tôi với cặp mắt giương to vì ngạc nhiên:


- Thật là bí ẩn, - lão thầm thì, - một điều bí ẩn hết sức! Vậy ra nếu muốn có tự do trên cái thế giới tồi tệ này, thì phải giở mọi trò tàn sát ấy, mọi thủ đoạn bẩn thỉu ấy ư? Xin nói để sếp biết, nếu tôi kể mọi chuyện hung ác gớm ghiếc và mọi cuộc giết chóc bọn tôi đã tiến hành thì sếp cứ gọi là dựng tóc gáy lên. Ấy thế mà kết quả của tất cả những cái đó là gì? Tự do! Thay vì giáng sét xuống diệt sạch bọn tôi, Thượng Đế lại cho chúng tôi tự do! Thật tôi chẳng còn hiểu ra sao nữa!


Lão nhìn tôi như cầu cứu. Tôi thấy rõ vấn đề này đã dằn dặt lão ghê gớm và lão không sao tìm ra ngọn nguồn.


- Sếp có hiểu không? - Lão đau đớn hỏi tôi.


Hiểu gì mới được chứ? Nói gì với lão đây? Hoặc khẳng định rằng cái mà ta gọi là Thượng Đế không hề tồn tại, hoặc bảo rằng cái mà ta gọi là giết chóc và hung bạo là cần thiết cho cuộc đấu tranh và cho việc giải phóng thế giới...


Tôi cố hết sức tìm cho Zorba một cách giải thích khác đơn giản hơn.


- Làm thế nào mà một cái cây đâm chồi và nở hoa trên phân, rác? Zorba ạ, hãy tự nhủ rằng phân, rác là con người và hoa là tự do.


- Nhưng còn hạt giống? - Zorba kêu lên, tay đấm bàn. - Muốn nảy mầm cây thì phải có hạt chứ. Ai đã gieo một hạt giống như vậy vào lòng chúng ta? Và tại sao cái hạt đó không trổ hoa từ sự tử tế và lương thiện? Tại sao nó lại cần có máu cùng rác rưởi?


Tôi lắc đầu.


- Tôi không biết. - Tôi nói.


- Vây ai biết?


- Chẳng ai biết cả.


- Nhưng nếu vậy thì sếp muốn tôi làm gì với tất cả những thứ tàu thuyền, máy móc, cà vạt cổ cồn này? - Zorba tuyệt vọng kêu lên, cặp mắt man dại đảo nhìn xung quanh.


Đôi ba hành khách đã bị biển quần cho thất điên bát đảo, giờ đang uống ca-phê ở một bàn bên, chợt linh hoạt lên: họ cảm thấy một cuộc cãi lộn và vểnh tai lên nghe.


Điều đó làm Zorba phát ớn. Lão hạ giọng:


- Nói chuyện khác đi, - lão nói. - Cứ nghĩ đến chuyện đó là tôi muốn đập phá bất cứ cái gì trong tầm tay - một cái ghế, một cây đèn, hoặc giả đâm đầu vào tường. Nhưng thế thì ích gì? Chỉ tổ phải bồi thường những đồ bị đập vỡ và đến bác sĩ băng đầu lại. Và nếu có Chúa thì lại còn tệ hại hơn nhiều: thôi thế là đi đứt! Từ trên trời cao kia, hẳn Người đang ngó tôi, ôm bụng mà cười.


Đột nhiên lão khua tay như để xua con ruồi phiền nhiễu.


- Thôi đừng bận tâm! - Lão nói, vẻ luyến tiếc. - Tôi chỉ muốn nói với sếp thế này. Khi vương thuyền trang hoàng đầy cờ xí đến đây, người ta bắt đầu nổ những loạt đại bác chào mừng và hoàng tử đặt chân lên đất Crete... Sếp đã bao giờ mục kích cả một dân tộc cuồng lên vì thấy mình được tự do chưa? Chưa à? Chà, sếp, vậy thì, sinh ra đã mù, sếp sẽ mù đến khi xuống lỗ. Cho dù tôi có sống đến nghìn năm, ngay cả nếu lúc đó tôi chỉ còn là một mẫu thịt sống, tôi cũng sẽ không bao giờ quên những gì tôi đã thấy trong ngày hôm ấy! Và nếu mỗi một chúng ta có quyền chọn thiên đường của mình trên trời theo sở thích riêng - mà đáng ra phải như thế, đó mới chính là cái tôi gọi bằng thiên đường - thì tôi sẽ thưa với Đấng Toàn Năng: (Lạy Chúa, xin hãy cho thiên dường của tôi là một cái đảo Crete giăng đầy cờ, hoa và để cho cài giây phút hoàng tử George đặt chân lên đất Crete kéo dài hàng thế kỷ!” Thế là hợp ý tôi.


Zonba lại im lặng. Lão vuốt bộ ria cho vểnh lên, rót nước đá đầy đến miệng cốc và nuốt ực một hơi.


- Điều gì đã xải ra ở Crete, Zorba, kể cho tôi nghe nào.


- Ta có cần phải khoa trương đại ngôn không? - Lão khó chịu nói. Này, tôi nói cho sếp nghe, tôi... cái thế giới này là một bí ẩn và con người chỉ là thú dữ.


“Vừa là thú dữ vừa là thánh thần. Một tên phiến loạn đê tiện từ Macedonia cùng đến với tôi - người ta gọi hắn là Yorga thì phải, một tên đầu trộm đuôi cướp đáng treo cổ, một con lợn thực sự, sếp ạ - ờ, hắn khóc sước mướt. “Tại sao mày khóc, Yorga, đồ chó ngoa?” Tôi hỏi, nước mắt cũng trào ra. “Tại sao mày khóc, con lợn già?” Nhưng hắn chỉ ôm choàng lấy cổ tôi mà thổn thức như một đứa trẻ. Thế rồi cái thằng con hoang keo kiệt rút túi tiền ra, dốc vào lòng tay những đồng tiền vàng hắn đã cướp của dân Thổ và vốc từng vốc tung lên trời! Sếp thấy không, tự do là như thế đấy!


Tôi đứng dậy và lên boong, phơi mình hứng ngọn gió biển rét buốt. “Tự do là như thế đấy”, tôi nghĩ. “Ôm ấp một đam mê, cóp nhặt hàng đống tiền vàng, rồi đùng một cái, dẹp nỗi đam mê ấy và tung hê kho vàng cho gió cuốn đi bốn phương.


Tự giải phóng mình khỏi một nỗi đam mê để rồi bị thống ngự bởi một đam mê khác cao cả hơn. Nhưng phải chăng cả cái đó cũng là một hình thức nô lệ? Hy sinh cho một lý tưởng, cho một giống nòi, cho Thượng Đế? Hay phải chăng điều đó có nghĩa là mẫu mực càng cao, dây buộc của vòng nô lệ càng được thả dài ra? Như vậy chúng ta có thể thích thú vui chơi, đú đởn trong một phạm vi rộng hơn, và đến khi chết vẫn chưa vận dụng hết tầm của dây buộc. Vậy phải chăng cái đó ta gọi là tự do?”


Về cuối chiều, chúng tôi bỏ neo bên bờ biển và nhìn thấy cát trắng mịn cùng mấy loại cây: nào trúc đào còn đang nở hoa, nào sung, nào vải, nào minh quyết, và xa hơn nữa về phía bên phải là một ngọn đồi trọc thấp, xam xám, nom giống như mặt một người đàn bà ngủ, mà dưới cằm, dọc theo cổ, vằn lên những mạch vỉa nâu sẫm của mỏ than bùn linhít.


Một ngọn gió thu đang thổi, những đám mây xơ xác từ từ trôi qua bên trên mặt đất, đổ bóng xuống làm dịu các đường nét. Những đám mây khác đang dâng lên, đầy đe dọa, trên bầu trời. Mặt trời lúc ẩn lúc hiện và mặt đất lúc sáng bừng, lúc tối sầm lại như một gương mặt sống động và xao xuyến.


Tôi dừng một lát trên bãi cát và ngắm nhìn. Một vẻ cô quạnh thiêng liêng trải ra trước mắt tôi, khủng khiếp mà mê hoặc như bãi sa mạc. Bài ca Phật giáo dâng lên từ chính lòng đất và thấm sâu vào đáy lòng tôi. “Bao giờ, chung cục, ta sẽ rút vào cô đơn, trơ trọi một mình, không bạn đồng hành, không vui mà cũng chẳng buồn, chỉ còn độc một niềm xác tín thiêng liêng rằng tất cả chỉ là một giấc mộng? Bao giờ, quần áo tả tơi, hết mọi dục vọng, ta sẽ mãn nguyện rút về ở ẩn trong núi? Bao giờ thấy thân xác mình chỉ là bệnh tật và tội ác, tuổi già và cái chết đến gần, ta sẽ rút vào rừng, không sợ gì nữa hết, tự do và ngất ngây hạnh phúc? Bao giờ, ôi bao giờ?”.


Cây đàn santuri cặp ở nách, Zorba tiến về phía tôi, chân bước còn chệnh choạng.


- Mỏ than bùn kia! - Tôi nói để giấu nỗi xúc động và vươn cánh tay về phía ngọn đồi giống mặt người đàn bà.


Zorba cau mày không ngoái lại nhìn.


- Để sau hẵng. Bây giờ chưa phải lúc đâu, sếp ạ, lão nói. Phải đợi cho trái đất đứng yên đã. Quỷ tha ma bắt nó, nó vẫn còn chòng chà chòng chành như cái boong tàu. Ta hãy đi vào làng đã.


Nói rồi, lão dấn những bước dài, quả quyết, cố ra vẻ chững chạc.


Hai đứa trẻ chân đất, đen như củ súng, chạy tới, đỡ lấy hành lý. Một nhân viên thuế quan to như hộ pháp hút một ống điếu trong trụ sở thuế quan. Đôi mắt xanh của y kín đáo soi dõi chúng tôi, uể oải liếc nhìn các bọc hành lý và trong một thoáng, y ngọ nguậy trên ghế như sắp sửa đứng dậy. Song, đó là một cố gắng quá lớn đối với thân hình y. Y chậm rãi giơ cái ống điếu lên và nói bằng một giọng ngái ngủ: “Xin chào!”


Một trong hai đứa trẻ đi đến bên tôi. Nó nháy đôi mắt màu đen ôliu và nói, giọng nhạo báng.


- Lão ấy không phải dân Certe. Lười như quỷ ấy.


- Chẳng phải dân Crete cũng lười nhác đó sao?


- Phải... phải, họ cũng lười nhác, - thằng bé người đảo Crele đáp, - nhưng lười cách khác.


- Làng có xa không?


- Từ đây đến đó, khoảng một tầm đạn. Kia kìa, đằng sau những khu vườn, trong khe ấy! Một ngôi làng đẹp, ông ạ. Có đủ thứ, thứ gì cũng ê hề - minh quyết, đậu, thóc lúa, dầu, rượu. Còn ở bãi cát đằng kia, nào dưa chuột và dưa hấu, nào cà và cà chua đều đơm hoa kết trái sớm nhất ở Crete. Chính nhờ gió từ Phi Châu nên cây trái mới tốt tươi như vậy. Ban đêm, trong vườn, có thể nghe thấy chúng chuyển mình răng rắc, lớn lên.


Zorba tiếp tục đi trước, đầu vẫn còn choáng váng. Lão nhổ nước bọt.


- Cất cao đầu lên, Zorba! - Tôi gọi với. - Chúng ta đã tai qua nạn khỏi. Không còn gì mà sợ nữa!


Chúng tôi rảo bước. Đất lẫn với cát và vỏ trai, sò, ốc... Đây đó, mọc lên một cây thánh liễu, một cây vả dại, một bụi lau, vài cây thảo bản hoa vàng. Thời tiết ngột ngạt, mây mỗi lúc một sà xuống thấp, gió tắt dần.


Chúng tôi đi qua một cây vả lớn thân kép cong queo đã bắt đầu rỗng ruột vì già cỗi. Một trong hai đứa bé đứng lại, hất hàm chỉ cây cổ thụ:


- Cây vả tình nương, - nó nói.


Tôi giật mình. Trên đất Crete này, mỗi hòn đá, mỗi cái cây đều có lịch sử bi thảm của nó.


- Tình nương à? Tại sao lại có cái tên ấy?


- Thời ông nội cháu, có con gái một điền chủ phải lòng một anh mục đồng. Người cha không chịu. Cô gái la khóc, van nài, song ông già vẫn một mực không thay đổi ý kiến! Một đêm, đôi trai gái biến mất. Người ta cho lùng sục khắp vùng quê, nhưng một ngày, hai ngày, ba ngày, rồi một tuần, vẫn chẳng thấy tăm hơi. Sau đó, bắt đầu có mùi, nên người ta lần theo mùi hôi thối, tìm thấy xác họ thối rữa dưới gốc cây vả này, vẫn ôm ghì lấy nhau. Ông thấy đấy, nhờ mùi hôi thối mà người ta tìm thấy họ.


Thằng bé phá lên cười. Đã nghe thấy tiếng xôn xao trong làng. Chó bắt đầu sủa, đàn bà léo nhéo, gà gáy báo hiệu chuyển thời tiết. Trong không khí, phảng phất mùi nho từ những thùng cất rượu raki.


- Làng đấy! - Hai thằng nhỏ kêu to và lao vút đi.


Chúng tôi vừa quành ngọn đồi cát, ngôi làng nhỏ đã hiện ra, nom như leo ngược sườn khe núi. Những cụm nhà quét vôi trắng, đắp nền cao, túm tụm vào nhau. Với những cửa sổ làm thành những mảng đen, nom chúng giống những sọ người trắng phếch kẹt giữa những tảng đá.


Tôi đi lên ngang Zorba.


- Bác chú ý cư xử cho đúng mực nhé, chúng ta sắp vào làng rồi, - tôi dặn lão. - Chớ để họ bắt thóp được ta. Chúng ta sẽ hành động như những nhà kinh doanh nghiêm chỉnh. Tôi là giám đốc, còn bác là đốc công. Dân Crete không coi nhẹ điều gì đâu. Vừa để mắt tới mình là họ nhắm ngay vào bất kỳ nét dị dạng nào và đặt luôn cho mình một cái biệt hiệu. Sau đó thì đừng hòng rứt bỏ, đi đâu cũng dính chặt với nó như con chó với cái xoong cột vào đuôi vậy.


Zorba đưa tay lên nắm chặt bộ ria, trầm ngâm suy nghĩ. Cuối cùng, lão nói:


- Sếp này, nếu ở đây có một bà góa thì sếp khỏi phải lo. Bằng không...


Đúng lúc ấy, vào tới cổng làng, một mụ ăn mày quần áo rách rưới chạy tới chúng tôi, chìa tay ra. Mụ đen đúa, bẩn thỉu và có một hàng ria mép nhỏ đen và cứng.


- Này, người anh em, - mụ suồng sã gọi Zorba. - Này người anh em có linh hồn không đấy?


Zorba dừng lại.


- Có chứ, - lão nghiêm trang đáp.


- Vậy thì người anh em hãy cho đây năm đrắcma (đơn vị tiền tệ Hy Lạp) đi!


Zorba rút trong túi ra một cái ví da rách bươm.


- Đây, - lão nói và một nụ cười làm dịu cặp môi còn hằn vẻ chua chát.


Lão nhìn quanh và nói với tôi:


- Xem ra ở vùng này, linh hồn thật là rẻ, sếp ạ. Có năm đrắcma một linh hồn!


Lũ chó trong làng xô về phía chúng tôi, cánh phụ nữ cúi mình trên gờ mái bằng nhòm chúng tôi, trẻ con chạy theo la hét, đứa kêu ăng ẳng, đứa bìm bom làm còi ôtô, lại có đứa chạy lên trước, ngoái cổ lại nhìn chúng tôi, mắt thao láo kinh ngạc.


Chúng tôi tới bãi rộng giữa làng. Ở đây, có hai cây bạch dương lớn, xung quanh đặt những thân cây đẽo thô sơ làm ghế ngồi. Đối diện là tiệm cà phê có treo tấm biển lớn lợt màu: Tiệm Cà phê và Hàng thịt Khiêm Tốn.


- Tại sao sếp cười? - Zorba hỏi.


Nhưng tôi không kịp trả lời. Từ cửa tiệm cà phê và hàng thịt, năm sáu gã hộ pháp vận quần xanh sẫm, thắt lưng đỏ, chạy ra kêu lớn: “Chào các bạn! Vào đây làm một ly raki vừa trong thùng ra, còn nóng sốt”.


Zorba chẹp lưỡi nói:


- Thế nào, sếp? - Lão quay lại nháy tôi. - Ta làm một ly chăng?


Chúng tôi uống mỗi người một ly, nóng ran cả ruột. Chủ tiệm cà phê kiêm hàng thịt, một ông già lanh lợi, mạnh mẽ, còn giữ được thân hình tráng kiện, mang ghế ra cho chúng tôi.


Tôi hỏi: chúng tôi có thể trọ ở đâu?


- Đến quán Mađam Hortense, - có người lớn tiếng mách.


- Một phụ nữ Pháp ở đây ư? - Tôi ngạc nhiên thốt lên.


- Có quỷ biết mụ ta từ đâu tới, mụ đã ở khắp vùng này. Mụ đã xoay xở tránh được mọi gian truân trên đời và giờ đây mụ bám lấy cái bến cuối cùng này, mở một quán trọ làm ăn.


- Bà ấy bán cả kẹo nữa, - một đứa bé xen vào.


- Tô son trát phấn lòe loẹt, - một đứa khác nói. - Quấn ruy băng quanh cổ... Lại có cả một con vẹt nữa.


- Góa chồng à? Zorba hỏi. Bà ta có góa chồng không?


Lão chủ tiệm cà phê nắm bộ râu nhuốm bạc.


- Ông bạn thử đếm xem chỗ này có bao nhiêu sợi râu? Bao nhiêu? Ấy, bà ta đã góa ngần ấy đời chồng đó. Hiểu chưa?


- Hiểu, - Zorba đáp, liếm môi thèm thuồng.


- Bà ta cũng có thể biến ông thành lão góa nữa đấy!


- Liệu chừng đấy, ông bạn! - Một lão già nói lớn và tất cả cười phá.


Người ta đãi chúng tôi một chầu rượu nữa và chủ tiệm bưng ra trên một cái khay cùng với ổ bánh lúa mạch, pho mát dê và mấy trái lê.


- Thôi, để các vị ấy yên. Khỏi phải đến quán Mađam! Hai vị ấy sẽ nghỉ lại ngay tại đây đêm nay!


- Họ sẽ là khách của tôi, Kondomanolio! - Lão già kia nói. - Nhà tôi rộng, không có trẻ con, tha hồ nhiều chỗ.


- Xin lỗi, bác Anagnosti, - chủ tiệm cà phê hét vào tai lão già. - Tôi nhận trước rồi.


- Bác nhận một, - lão Anagnosti nói. - Người kia phần tôi, cái tay già ấy.


- Tay già nào? - Zorba chạm nọc, vặn lại.


- Chúng tôi gắn bó keo sơn với nhau, - tôi nói và ra hiệu cho Zorba đừng bực bội. - Chúng tôi gắn bó với nhau và chúng tôi sẽ đến quán Mađam Hortense...


- Hoan nghênh! Hoan nghênh quý khách!


Một phụ nữ béo lùn bè bè, tóc màu gai đã lợt, hiện ra dưới hàng bạch dương, lạch bạch trên đôi chân vòng kiềng. Cằm bà ta điểm một nốt ruồi tua tủa mấy sợi lông cứng như lông lợn. Bà ta quấn một dải ruy băng bằng nhung đỏ quanh cổ, đôi má héo úa trát bự phấn màu hoa cà. Một lọn tóc nhỏ nhún nhảy vui tươi trên trán khiến bà ta có phần nào từa tựa như Sarah Bernhardt (Nữ diễn viên lỗi lạc sân khấu Pháp, 1844- 1923, được mệnh danh là Sarah thần diệu; về già đóng trong Đại bàng con, tác phẩm của Edouard Rostand, 1868-1918, kịch tác gia Pháp).


- Hân hạnh được gặp bà, Mađam Hortense! Tôi đáp, chuẩn bị hôn tay bà ta, cuốn theo một tâm trạng hoan hỉ đột ngột.


Đùng một cái, cuộc đời chợt hiện ra như một câu truyện thần tiên hay màn giáo đầu của vở Bão táp (hài kịch của Shakespeare). Chúng tôi vừa đặt chân lên đảo, ướt thấu xương sau một tai nạn đắm tàu tưởng tượng. Chúng tôi đang thám hiểm miền bờ biển kỳ diệu và trịnh trọng chào mừng cư dân địa phương. Người đàn bà này, Hortense, đối với tôi, dường như là nữ chúa của đảo, một thứ hải cẩu tóc vàng, mình bóng nhẫy bị xô dạt lên bờ cát này. Đằng sau bà ta, hiện ra bao bộ mặt lông lá, bẩn thỉu, tỏa ngời niềm hân hoan chung của dân chúng - hay của Caliban (Nhân vật trong vở Bão táp, một tên Xlavơ man rợ) - đăm đăm nhìn nữ chúa, vừa tự hào vừa giễu cợt.


Zorba, vị hoàng tử cải trang, cũng chăm chú nhìn nữ chúa, như thể đó là một cố chiến hữu, một chiến thuyền xưa đã từng chinh chiến ở những vùng biển xa xôi, từng nếm mùi chiến thắng và chiến bại, với những cửa hầm tàu dập nát, những cột buồm gãy, cánh buồm tơi tả - và giờ đây, mặt hằn những luống nhăn sâu có trét bằng kem, phấn, mụ rút lui về bờ biển này, chờ đợi. Rành là mụ chờ Zorba, người thuyền trưởng mang ngàn vết sẹo. Và tôi thích thú thấy hai diễn viên ấy, rút cục, gặp nhau trong một cảnh trí ở Crete được vẽ và thể hiện rất đơn giản bằng mấy nét bút khoáng đạt.


- Hai giường, thưa Mađam Hortense, - tôi nói và nghiêng mình trước bậc chuyên gia lão luyện trong nghệ thuật diễn những màn tình ái. - Hai giường không rệp.


- Không rệp! Làm gì có được! - Mụ kêu lên, phóng vào mặt tôi một cái nhìn khiêu khích.


- Ồ bậy! - Những cái miệng nhạo báng của Caliban gào.


- Không có! Không có! - Mụ quặc lại, bàn chân béo mập giậm trên phiến đá. Mụ đi tất dày màu xanh da trời, xỏ trong một đôi giày cao gót rúm ró với những cái nơ lụa cầu kỳ.


- Đủ rồi, đào nhất! Ma bắt mụ đi! - Caliban lại hú lên lần nữa.


Nhưng rất trịnh trọng, Mađam Hortense đã cất bước đi lên trước dẫn đường chúng tôi. Mụ sực mùi phấn và xà phòng rẻ tiền.


Zorba đi theo, mắt hau háu nhìn mụ.


- Nhìn kỹ kìa sếp, - lão thầm thì. Nom mụ ta đánh mông kìa, nhóp nhép! Nhóp nhép! Như con cừu lắc cái đuôi núc ních mỡ ấy!


Hai ba hạt mưa lớn rơi xuống trời tối sầm. Những làn chớp xanh lóe lên trên ngọn núi. Những cô gái, choàng áo da dê trắng, hối hả lùa dê, cừu từ đồng cỏ về. Các bà chủ gia đình, ngồi xệp trước lò sưởi, đang nhóm lửa ban chiều.


Zorba nhấm nhấm đầu ria, vẻ nôn nóng, mắt không rời đôi mông núng nính của người đàn bà.


- Hừm! Đột nhiên lão thở dài lẩm bẫm! Mẹ kiếp con đĩ đời! Nó không thôi chơi khăm mình!


(còn tiếp)


Nguồn: Zorba Tay chơi Hy Lạp. Tiểu thuyết của Nikos Kazantzakis. Dương Tường dịch theo bản tiếng Anh ZORBA THE GREEK của Carl Wildman. Ballantine, 1965. NXB Văn học, 2011.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »