tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28857084
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
04.11.2009
FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX
Nghìn lẻ một ngày (30)

NGÀY THỨ BỐN MƯƠI BẢY


            Nhà vua trong cơn bực bội, sắp sửa lao mình xuống vực sâu. Hoàng tử Calap vội đưa hai tay ôm giữ vua cha:


            - Ôi ! Hỡi phụ vương, ngài làm gì vậy. Sao ngài lại có ý định tuyệt vọng như thế. Phải chăng cha định bằng cách ấy biểu hiện sự khuất phục trước ý dịnh của trời đất? Xin hãy tỉnh trí lại, phụ vương ôi!  Xin cha đừng mất hết kiên nhẫn, đừng cưỡng lại ý trời. Chúng ta phải kiên tâm chịu cơn hoạn nạn, chờ đến lúc trời đoái thương. Vâng đúng là tình cảnh chúng ta lúc này rất đáng buồn. Cô vượt qua dãy núi tai mèo này đúng là rất nguy hiểm. Nhưng biết đâu có một con đường nào khác có thể cho chúng ta xuống được cánh đồng bằng. Xin cha mẹ cho phép con đi tìm đường. Xin cha hãy tạm nguôi cơn bực bội, cha hãy ở lại đây trông nom mẹ con. Con sẽ quay trở lại ngay tức khắc.


- Vậy thì con hãy đi đi, - nhà vua đáp - Cha mẹ chờ con trở lại. Con chớ ngại rằng cha  tuyệt vọng, cha sẽ gắng sống cho đến lúc con trở về.


Chàng hoàng tử trẻ sục sạo khắp nơi mọi chốn hồi lâu trên dãy núi đá tai mèo mà không nhìn thấy một con đường nào. Hết sức buồn rầu, chàng quỳ xuống đất khẩn cầu trời đất hãy cứu giúp gia đình mình. Sau đấy, chàng đứng lên cố gắng tìm tòi lần nữa, cuối cùng nhận ra một con đường mòn. Hoàng tử tạ ơn trời đất về sự may mắn này. Rồi men theo con đường mòn ấy, chàng đến một cây cổ thụ, từ đây mở ra lối xuống đồng bằng. Dưới bóng mát cây cổ thụ, có một ngọn suối nước trong leo lẻo. Chung quanh còn có nhiều cây có quả, cành lủng lẳng trĩu  nhiều quả rất to. Bàng hoàng  trước sự phát hiện, hoàng tử  hớn hở quay trở lại báo tin cho nhà vua và hoàng hậu biết. Hai người mừng rỡ. và càng vui sướng thêm khi nghĩ chắc trời chỉ cho họ con đường khoát khỏi cơn khốn cùng đây. Hoàng tử Calap mời nhà vua và hoàng hậu đến bên con suối. Ba người rả mặt mũi tay chân, uống cho đã cơn khát khô họng đang dày vò. Tiếp đó nhà vua và hoàng hậu ăn những trái cây hoàng tử hái. Trong cơn đói, ai cũng thấy rằng những trái cây này tuyệt diệu hơnmọi thứ cao lương mỹ vị. Lúc này hoàng tử Calap  mới  thưa với cha:


- Giờ đây hẳn phụ vương thấy than van là không đúng. Chắc hồi nãy cha ngỡ trời đất bỏ mặc chúng ta. Con đã thành tâm khẩn cầu sự cứu giúp, và quả là trời đang cứu ta. Con ti khi những người bất hạnh có tấm lòng thành, thì trời ắt ắt nghe tiếng van xin của họ.


Ba người lưu lại dưới gốc cây, bên suối nước vài ba ngày để nghỉ ngơi và lấy lại sức. Sau đó họ hái mang theo một ít trái cây và đi về phía đồng bằng, hy vọng con đường mòn  sẽ dẫn đến một nơi có người ở. Họ không nhầm. Chẳng bao lâu trước mắt hiện ra một thành phố thoạt trông có vẻ lớn san sát nhiều nhà  cửa đẹp. Họ đi đến đấy. Vừa tới cổng thành ba người dừng lại chờ trời tối. Họ không muốn vào thành phố giữa ban ngày, ai nấy bụi bặm phủ từ đầu tới chân và mồ hôi ròng ròng, tren người lại gần như không có áo quần. Ba người ngồi nghỉ dưới  một cây to có nhiều bóng mát, rồi ngả lưng ra đám cỏ dưới gốc cây. Được ít lâu, chợt thấy một cụ già từ thành phố đi ra, đến gốc cây ấy hóng mát. Cụ già chào họ rất lịch sự ngồi xuống bên cạnh. Ba người vội đứng lên dậy đáp lễ, và cất lời hỏi thành phố này là đâu. Cụ già đáp:


- Thành phố này tên là Giaich. Đây chính là thủ phủ của vùng đất, nơi sông Giaich bắt nguồn. Đức Hãn Ilen hiện đóng đô nơi đây. Các vị hẳn là người từ nước ngoài moí đến, cho nên mới hỏi như vậy.


- Vâng, - nhà vua đáp - chúng tôi đến từ một đất nước rất xa. Sinh quán chúng tôi là vương quốc Carim. Chúng tôi sống bên bờ biển Caspi. Chúng tôi làm nghề buôn bán. Vừa qua, ba chúng tôi cùng nhiều thương gia khác đang đi trong vùng Capsac thì chẳng may gặp một bọn cướp rất đông. Chúng tấn công đoàn lữ hành của chúng tôi và cướp bóc hết của cải. May chúng để cho ba chúng tôi còn sống sót, nhưng trong tình trạng cụ đang nhìn thấy đây. Chúng tôi đã vượt qua dãy núi Capca, rồi dần lê bước đến tận đây, nên chẳng rõ mình đang ở chốn nào.


Cụ già vốn là một người có tính thương người. Cám cảnh nỗi bất hạnh của đồng loại, cụ nói cụ rất xúc động họ vừa gặp chuyện không may, và ngỏ lời mời ba người về nghỉ tạm tại nhà mình. Cụ già nói năng rất lịch sự. Trông thấy họ có vẻ ngại ngần, cụ cứ khẩn lhoản nhắc lại lời mời. Nhà vua nhận lời. Vậy là chờ đến đêm, ba người theo cụ già đi vào thành phố.


Nơi cụ già ở là một ngôi nhà nhỏ, đồ đạc giản dị nhưng đâu đâu cũng sạch sẽ gọn gàng, trông cơ ngơi toát ra vẻ thanh lịch hơn là bần hàn.


Vừa vào đến nhà, cụ già thầm truyền bảo gì đấy cho một người giúp việc. Lát sau người ấy quay trở lại, theo sau có hai chú trai mang hai gói hàng lớn. Mở ra, một túi đựng nhiều quần áo đàn ông, đàn bà đã may sẵn.  Túi kia đựng đầy các loại mạng che mặt, khăn đội đầu và vải thắt lưng. Hoàng tử Calap và nhà vua chọn cho mình mỗi người một chiếc áo khoác dài lót dạ cùng một chiếc áo ngắn bằng gấm và một khăn đội đầu đẹp may bằng vải Ấn Độ, còn hoàng hậu thì  chọn một bộ xiêm y  đầy đủ. Cụ già trả tiền mua hàng, và cho hai chú trai ra về. Sau đấy gọi  gia nhân dọn bữa. Hai người giúp việc  đẩy ra  một cái chạn trong  chạn xếp nhiều chén bát bằng sứ, đĩa bằng gỗ trầm hương và gỗ lô hội, cùng nhiều ly rượu làm từ san hô. Nhà vua, hoàng hậu, hoàng tử Calap cùng cụ già ngồi vào bàn dùng bữa. Thoạt tiên, dọn ra món súp suava(1), ăn kèm với hai đĩa trứng cá tầm. Tiếp đấy là thịt con linh dương xay nhỏ, một đĩa lớn cơm thập cẩm trộn nhiều loại thịt khác nhau thái nhỏ đầy có ngọn. Bốn người lại dùng tiếp món cá gibêra(2), một loài cá ngon sông Vônga. Họ uống ba chai lớn nước Camê, cùng mấy ly rượu cất từ quả chà là.


 


NGÀY THỨ BỐN MƯƠI TÁM


Cụ già sau vài chén rượu, dường như tỏ ra cởi mở hơn. Cụ cố gắng chuyện trò thoải mái cho các vị khách vui lên chút ít. Nhận thấy dù làm gì, ba người khách vẫn âu sầu, cụ liền nói với họ:


- Tôi thấy, tôi cố làm các vị đỡ buồn sau tai hoạ vừa xảy ra với các vị mà không đạt kết quả. Dường như các vị vẫn chưa khuây nguôi về nỗi bất hạnh của mình. Tôi xin phép được thưa, xin ba vị chớ nên buồn bã làm chi, hãy quên hết cả đi mọi việc. Các vị cứ nghĩ mất của còn người, thế là quý lắm rồi. Chuyện đã xảy ra làm các vị buồn, đâu có mới lạ gì. Có ngày nào những người du hành và các thương gia không phải chịu nạn cướp bóc. Bản thân tôi thời còn trai trẻ, trên đường đi từ thành phố Muxen về Batđa, tôi từng bị bọn cướp đoạt mất vô vàn tài sản, suýt nữa tôi cũng bỏ mạng luôn. Tôi từng lâm vào tình cảnh chẳng khác các vị hôm nay, và rồi tôi cũng phải tìm cách tự khuây nguôi mà sống. Quả thật vô cùng khó coi một người thuộc địa vị tôi  mà đến nỗi lâm vào cảnh ngửa bàn tay  ăn mày để kiếm miếng sống. Tôi cần phải kể các vị nghe câu chuyện của tôi. Tôi muốn dốc bầu tâm sự cùng các vị, may ra sẽ có ích phần nào cho các vị chăng. Nghe câu chuyện bất hạnh của đời tôi, may ra các vị cảm thấy phần nào đỡ tĩu nặng bất hạnh  của các vị.


Nói xong, cụ già tốt bụng ấy truyền bảo những người giúp việc lui ra, rồi bắt đầu kể chuyện như sau.


(1) Món xúp béo ăn cùng với bánh mì.


(2) Một giống cá dài chừng năm bộ, miệng rộng, thân có những đốm đen và trắng, có vị giống cá tầm.


 


 


 


 


Chuyện hoàng tử falala,


con trai quốc vương ben-ortoc, xứ muxen


            Tôi là con trai của nhà vua xứ Muxen, đức Ben-Ortoc vĩ đại. Tôi vừa tròn hai mươi tuổi, phụ vương tôi đã muốn cưới vợ cho tôi. Người sai dẫn đến cho tôi xem mặt nhiều cung nữ  trẻ, trong số ấy có lắm cô khá đẹp. Tôi dửng dưng nhìn tất cả một loạt, chẳng thấy cô nào gây ấn tượng gì. Các cô cũng nhận ra điều đó. Mọi người đều đỏ mặt và cùng ra về. Ai nấy đều không vui vì chẳng một ai trong bọn họ chinh phục được trái tim hoàng tử.


 Phụ thân tôi cũng khá ngạc nhiên sao con trai mình dửng dưng trước gái đẹp như vậy. Trước đây người không hề hình dung điều đó. Ngược lại cha tôi vẫn tưởng, một khi trông thấy bấy nhiên thiếu nữ xinh đẹp mỗi người một vẻ, chắc hẳn tôi sẽ gặp khó khăn trong sự lựa chọn. Tôi tâu với phụ vương, tôi chưa muốn lấy vợ. Nguyên nhân có lẽ tại tôi đang cực kỳ mơ ước được đi du ngoạn đó đây. Tôi xin phép người cho tôi được một mình sang thành phố Batđa chơi, chắc sau chuyến đi ấy trở về, tôi sẽ đi đến quyết định lập gia thất. Cha tôi không muốn trái ý con trai. Người cho phép  tôi làm một chuyến du hành về thành phố vĩ đại ấy. Và để cho tôi có điều kiện đến thành phố lớn ấy với tư cách một hoàng tử con vua, phụ vương tôi truyền lệnh chuẩn bị cho một đoàn tuỳ tùng thật sang trọng. Người sai mở kho tàng lấy tiền vàng ra chất đầy lưng bốn con lạc đà. Người lại  cắt cử nhiều gia nhân vốn quen hầu hạ trong cung đi theo phục dịch tôi, đồng thời cử một trăm binh sĩ lấy từ đội cấm vệ của người cho tháp tùng để bảo vệ tôi.


            Vậy là với đám tuỳ tùng đông đảo ấy tôi rời thành phố Muxen, lên đường đi về thành phố Batđa. Những ngày đầu dọc đường bình yên vô sự, chẳng có việc gì xảy ra. Nhưng một đêm, trong khi chúng tôi hạ trại nghỉ giữa một đồng cỏ, đột nhiên bị một toán người Bêđuin rất đông đảo xông vào tấn công. Phần lớn những người tuỳ tùng của tôi bị chúng giết hại ngay giờ phút đầu. Khi nhận ra mình đang lâm vào một thế hiểm nghèo ghê gớm, tôi vội tập hợp những binh sĩ cha tôi đã phái theo bảo vệ, dũng cảm đánh trả bọn cướp Bêđuin. Chúng tôi đánh chúng dữ dội đến nỗi hơn ba trăm tên cướp ngã gục trước đường gươm mũi giáo của chúng tôi. Nhưng đến sáng, cậy vào thế đông, bọn cướp đông đảo vẫn bao vây được chúng tôi. Bực bội và xấu hổ trước sự đề kháng của một nhóm nhỏ người, chúng liền dốc toàn lực đánh mạnh hơn nữa. Cho dù chúng tôi cố gắng chống trả, cuối cùng vẫn bị chúng đánh bại. Chúng thu hết vũ khí và lột áo quần chúng tôi đang mặc trên người. Thông thường bọn giặc bắt sống những người bị chúng chặn đường cướp của mang đi bán làm nô lệ, hoặc là để mặc tại chỗ cho chết đói chết khát bên đường. Lần này chúng muốn trả thù cho đồng đội bị bỏ mạng, chúng đang tâm giết chết tất cả những người giờ đây không còn có khả năng tự bảo vệ. Tất cả đoàn tuỳ tùng của tôi đều bỏ mạng trước lưỡi gươm tàn bạo của bọn cướp. Tôi sắp chịu chung số phận với mọi người  thì chợt nảy ra ý nên tự xưng mình là ai, tôi liền bảo chúng:


            - Hãy dừng tay lại, hỡi những người bạo gan kia. Các người phải biết tôn trọng dòng máu quân vương chứ. Ta chính là hoàng tử Falala, con trai duy nhất của đức Ben-Ortoc, quốc vương xứ Muxen. Ta là người thừa kế ngai vàng xứ  ấy.


            Tên Bêđuin thủ lĩnh bọn cướp đáp:


            - Ta thật hài lòng nghe anh nói rõ anh là ai. Bởi ta có mối thù không đội trời chung với cha anh từ lâu. Cha anh đã cho treo cổ không ít bạn bè ta chẳng may sa cơ bị bắt. Giờ đây ta sẽ đối xử với anh theo cách cha anh đã đối xử với đồng bọn ta.


 


            Nói xong, nó sai trói gô tôi lại. Bọn cướp đoạt nốt đoàn ngựa và lạc đà của chúng tôi, rồi dẫn tôi đi bộ đến chân một quả núi nằm giữa hai cánh rừng, ở đấy có vô số lều trại nhỏ dựng lên, tất cả một màu xám xịt. Đấy là hang ổ bọn cướp. Chúng dẫn tôi đến lều của tên đầu lĩnh. Cái lều này rộng lớn hơn tất cả các lều khác và nằm chính giữa. Chúng giam tôi suốt một ngày ở đó, sau đó lôi ra trói  vào một gốc cây. Chúng định để tôi đấy cho chết dần, trong thời gian chúng mãi đi làm ăn những chuyến khác. Nhiều tên cướp trước khi bỏ đi còn vây quanh tôi, chửi bới, chế giễu;  tóm lại chúng tìm đủ mọi cách làm nhục tôi.


 


Ngày thứ bốn mươi chín


            Tôi bị trói vào gốc cây ấy đã lâu lắm rồi, vừa đói vừa khát chắc chẳng bao lâu nữa sẽ chút hơi thở cuối cùng, thì một tên cướp đi thám thính trở về báo với tên đầu lĩnh Bêđuin biết có thể  sắp có một chuyến làm ăn to: Cách đây chừng bảy dặm, có một đoàn lữ hành lớn tối mai sẽ hạ trại tại một nơi nào đó. Viên đầu lĩnh bọn cướp lập tức ra lệnh chuẩn bị khởi hành. Tất cả bọn lên ngựa, để tôi lại một mình trong hang ổ của chúng. Chúng chắc nẫm khi quay trở lại thì tôi đã chết ngỏm từ đời nào rồi. Tuy nhiên, dường như mệnh trời chưa muốn bắt tôi phải chết. Vợ tên đầu lĩnh đem lòng thương hại tình cảnh của tôi. Ngay tối hôm bọn cướp lên đường, người đàn bà ấy đến bên gốc cây và nói với tôi:


            - Chàng trai kia, ta thương hại nỗi bất hạnh của anh. Ta muốn cứu giúp anh. Nhưng nếu ta cởi trói và cho anh được phép tự do, liệu anh còn có sức để trốn chạy ?


            - Tôi có đủ sức - tôi đáp. - Thượng đế đã xui khiến bà thương hại đến tôi, thì Thượng đế sẽ cho tôi đủ sức để chạy trốn.


 


            Người vợ tên đầu lĩnh cởi trói, còn ném cho tôi một chiếc áo dài cũ của chồng cùng với hai ba chiếc bánh mì, rồi trỏ cho tôi thấy một con đường: "Hãy cứ theo lối kia mà đi, cứ đi theo con đường ấy, chớ rẽ đi đâu khác, anh sẽ đến được một nơi có người ở".


            Tôi cảm ơn người phụ nữ đã cứu sống, rồi suốt đêm hôm ấy cứ lần theo mỗi con đường ấy mà đi, không đi ngang  rẽ tắt sang bất kỳ một lối nào khác.


            Sáng hôm sau tôi gặp một người đi bộ đang dắt hai con ngựa chở hai kiện hàng lớn trên lưng. Tôi đến gần, xưng mình là một người nước ngoài không may đi lạc  vì chưa quen đường đất xứ này, rồi hỏi ông đang đi về đâu. Người ấy đáp:


            - Tôi mang hàng hoá về thành phố Batđa bán. Nội trong hai ngày nữa tôi sẽ đến thành phố ấy.


            Tôi liền đi theo ông ta, cho mãi khi vào đến bên trong  thành phố, mới từ giã. Người đàn ông ấy đi lo công việc của mình, còn tôi, tôi vào một thánh đường, nghỉ ở đấy hai ngày hai đêm cho lại sức. Tôi cũng không muốn ra khỏi thánh đường, sợ nhỡ gặp người thành phố Muxen họ sẽ nhận ra tôi chăng. Tôi xấu hổ thấy mình lâm vào tình cảnh này. Đã không tính chuyện nói cho mọi người rõ mình là ai, tôi còn muốn giấu diếm gốc tích. Tuy nhiên, đói thì đầu gối phải bò.  Tôi không thể không lần ra khỏi nơi ẩn náu. Tôi quyết định đành phải đi xin ăn như một kẻ khốn cùng, trong khi chờ đợi nghĩ ra kế nào hay hơn.


            Tôi đến bên cửa sổ tầng trệt một ngôi nhà to và lớn tiếng ngỏ lời xin được bố thí. Một bà giúp việc già mở cửa sổ, tay bà cầm một cái bánh định đưa cho người hành khất. Khi tôi bước tới để đón chiếc bánh, tình cờ một ngọn gió nâng cái rèm che cửa sổ. Nhìn vào phòng, tôi thấy một thiếu nữ xinh tươi lạ lùng. Sắc đẹp lộng lẫy của nàng chói vào mắt tôi giống một tia chớp, làm tôi gần như choáng váng. Tôi đón chiếc bánh mà chẳng rõ mình đang làm gì. Tôi đứng như phỗng trước mặt  bà già giúp việc, quên cả nói lời cảm ơn. Tôi tỏ ra vừa ngạc nhiên vừa bối rối vừa bàng hoàng, đến nỗi bà tưởng tôi là một con người ngớ ngẩn.  Bà quay vào nhà, để tôi một mình trên đường phố, cứ đứng đấy mà nhìn vào cửa sổ một cách vô vọng, bởi chờ mãi không có ngọn gió nâng bức rèm lên nữa.


Tôi cứ đứng đấy suốt ngày hôm ấy, chờ may ra còn có một ngọn gió nữa thuận lợi cho mình chăng. Đến khi trời sắp tối, đành tính chuyện ra về. Trước khi rời xa ngôi nhà ấy, gặp một cụ già tình cờ đi ngang qua, tôi hỏi ngôi nhà này của ai vậy. Cụ già đáp: Đây là dinh cơ ngài Muaphac, con trai ngài Atban. Đấy là một vị quan to cao quý, vừa giàu vừa sang. Ngài vừa được cử làm thống đốc thành phố này chưa bao lâu, thế mà không hiểu sao đã phát sinh bất hoà với quan chánh án. Ông này đã tìm cách gièm pha với hoàng đế, hy vọng ngài sẽ truất chức thống đốc của ông Muaphac, thế mà rốt cuộc ông chánh án thành công trong mưu dồ của ông ấy.


            Sau chuyện tình cờ trông thấy vừa rồi, người tôi đâm mê mẩn. Tôi ra khỏi thành phố lúc nào không để ý. Đêm đến, đành vào một nghĩa trang lớn, định ngủ tạm qua đêm trong ấy. Tôi nuốt miếng bánh chẳng mấy ngon lành cho dù lúc này bụng đang  đói như cào. Ăn xong,  tôi nằm xuống cạnh một ngôi mộ, đầu gối lên mấy viên gạch. Định ngủ song  chẳng thể nào ngủ yên. Hình ảnh cô tiểu thư con ngài Muzaphac làm tim tôi rung động. Hình ảnh khả ái của nàng kích thích trí tưởng tượng, mặt khác bữa ăn vừa rồi quá ư đạm bạc, cũng khó làm cho giấc ngủ đến nhanh. Tuy nhiên, trăn trở mãi rồi cũng thiếp đi. Chưa được bao lâu chợt có tiếng động mạnh cùng tiếng ồn ào bên trong ngôi mộ làm tôi giật mình thức giấc.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một ngày. Phan Quang dịch và giới thiệu, theo bản tiếng Pháp LES MILLE ET UN JOURS của nhà Đông phương học lỗi lạc Francois Pétis de La Croix. Nhà xuất bản Garnier Frères Paris 1919. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện cổ Grimm (100) - Anh em Grimm 31.05.2019
Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 11.01.2019
Khảo dị về truyện Tấm Cám (1) - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
xem thêm »