tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28948978
Lý luận phê bình văn học
14.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (24)

Mối quan hệ thực sự lí tưởng giữa thần linh(33) và người tóm lại là tính đồng nhất của hai cái này cần phải biểu lộ cả trong những trường hợp các sức mạnh chung đối với những nhân vật hoạt động và các dục vọng của họ như những yếu tố độc lập và tự do. Một nội dung cấp cho các thần linh đồng thời phải làm thành một bản chất đặc thù bên trong của các cá nhân. Kết quả là, một mặt, các sức mạnh thống trị được cá tính hóa ở bản thân nó và mặt khác cái yếu tố bên ngoài này đối với con người lại tỏ ra là cố hữu đối với tinh thần và tính cách con người. Vì vậy nhiệm vụ của nghệ sĩ tóm lại là điều hòa được hai sự khác nhau giữa hai mặt này và nối liền chúng bằng một sợi dây tế nhị.


Nghệ sĩ cần phải chỉ cho chúng ta thấy rằng các hành vi của các cá nhân hoạt động là bắt rễ ở trong những cảm nghĩ bên trong của y, nhưng đồng thời nghệ sĩ lại cần phải nêu bật và làm cho cái chung và cái nội dung chủ yếu được bộc lộ ở trong các hành vi này trở thành trực quan dưới hình thức những hình tượng cá tính hóa.


Đời sống tâm hồn của con ngươi cần phải biểu lộ ở trong các thần linh với tính cách những hình thức chung và độc lập của những cái hoạt động và thống trị ở trong đời sống bên trong của con người. Bởi vì chỉ có như thế thì thần linh mới đồng thời ở trong lồng ngực của con người. Chẳng hạn, nếu như chúng ta đọc ở các tác giả cổ đại rằng Vênút hay thần tình yêu bắt con tim người bị thần phục, thì hiển nhiên Vênút và thần tình yêu trước hết là những sức mạnh ở bên ngoài con người. Song tình yêu còn là một vận động của tâm hồn, một dục vọng dành riêng cho trái tim người với tính cách con người và làm thành cái cảm nghĩ sâu xa thâm trầm nhất của anh ta. Người ta cũng thường nói đến các nữ thần trả thù trong bi kịch cổ đại thro cái nghĩa như vậy. Trước hết chúng ta hình dung cho “trinh nữ trả thù” mang hình thức các nữ thần hung dữ trừng phạt người phạm tội từ bên ngoài. Nhưng sự trừng phạt này đồng thời lại làm thành một “nữ thần căm giận” ở bên trong, nằm ở trong tâm hồn của người phạm tội và Xôphôklơ thực sự đã sử dụng nó theo ý nghĩa một cảm nghĩ bên trong riêng của con người. Chẳng hạn trong “Ơđip ở Côlôn” (câu thứ 438) ông nói về “Các nữ thần của chính Ơđíp”, và những câu này ở đây có nghĩa là lời nguyền rủa của kẻ cho quyền lực tình cảm của người cha đối với các con đã bị xúc phạm. Vì vậy, khi người ta cho rằng nói chung các thần chỉ là những sức mạnh ở bên ngoài con người, thì người ta lại vừa đúng lại vừa không đúng. Bởi vì các thần là những sức mạnh ở trong cũng như ở ngoài con người.


Các hành vi của các vị thần và của con người ở Hômerơ không ngừng chuyển vào nhau: các vị thần dường như làm những điều xa lạ với con người và tuy vậy thực ra họ chỉ là những điều làm thành bản chất và thế giới bên trong của con người. Trong Iliát chẳng hạn, khi Asin nỗi giận muốn tuốt kiếm đánh lại Agamennôn thì nữ thần Athêna, - mà chỉ một mình chàng được che chở – bước lại gần chàng và nắm lấy mái tốc của chàng. Hêra, vốn săn sóc đến cả Asin và Agamennôn sai Athêna từ núi Olempơ xuống và sự can thiệp của nữ thần có vẻ hoàn toàn độc lập đối với những cảm nghĩ của Asin. Nhưng mặt khác, ta dễ dàng hình dung rằng sự xuất hiện đột ngột của Athêna chẳng qua chỉ có nghĩa là chính Asin đã kiềm chế được nỗi căm giận của mình, trở lại bình tĩnh. Sự xuất hiện ấy mang tính chất bên trong và toàn bộ câu chuyện truyền đạt cho ta những biến cố diễn ra trong tâm hồn Asin. Chính Hômerơ cũng đã nhắc đến điều đó ở mấy câu trước đấy miêu tả tâm hồn Asin… như thế nào: “mỗi bực bội chiếm lấy người con trai của Pêlê, và trong lồng ngực hùng mạnh con tim chàng băn khoăn giữa hai ý định. Chàng có nên tuốt nhanh kiếm nhọn treo dọc đùi không? Cùng một lúc chàng sẽ giải tán những người khác và chàng sẽ giết con người dòng Atơrít? Hay là chàng kiềm chế sự phẩn nộ và làm chủ lòng căm giận của mình?” (Iliát, I, câu thơ 190).


Tình trạng kiềm chế bên trong này đối với sự căm giận, sự kiềm hảm này, do một sức mạnh xa lạ bắt nỗi căm giận của chàng phải chịu, nhà thơ sử thi hoàn toàn có quyền miêu tả nó như một biến cố bên ngoài. Bởi vì Asin lúc đầu chỉ vâng theo dòng tức giận mà thôi. Chúng ta cũng thấy Athêna dưới hình thức như vậy ở trong Ôđixê với tính cách người bạn đường của Têlêmác. Việc cùng đi như thế còn khó quan niệm hơn rằng nó đồng thời là một cảm nghĩ bên trong trong tâm hồn Têlêmác mặc dầu ở đây vẫn có mối liên hệ giữa bên trong và bên ngoài. Nói chung, tính chất rõ ràng tươi vui của các vị thần của Hômerơ và sự mỉa mai trong cách người ta tôn thờ họ tóm lại là ở chỗ tính độc lập và nghiêm túc của họ lại biến mất bởi vì các thần tỏ ra là những sức mạnh cố hữu của tâm hồn con người và do đó, con người ở đây không bỏ mất tính độc lập của mình trong những việc này.


Song chúng ta không phải đi xa để tìm một thí dụ hoàn hảo về việc biến dổi một hiện thực thuần túy bên ngoài như vậy của các thần linh thành một cái gì chủ quan ở trong tự do và cái đẹp có tính chất đạo đức. Trong Iphigiêni ở Taurit, Gơt đã thực hiện một mẫu mực tuyệt diệu của sự chuyển biến như vậy. Ở Oripít, Orextơ và Iphigiêni cướp bức tượng nữ thần Đian và mang đi. Đây là một hành động ăn trộm đơn thuần. Thôat đến và ra lệnh đuổi họ, lấy lại bức tượng của nữ thần, nhưng cuối cùng xuất hiện nữ thần Athêna một cách hoàn toàn nôm na. Nữ thần ra lệnh cho Thôat phải dừng lại bởi vì đã không chờ đợi những mệnh lệnh của mình, nữ thần đã nhờ thần Pôxâyđôn giúp đỡ Orextơ, sai vị thần này mang chàng đi xa trên mặt biển để làm vừa lòng mình. Thôat liền vâng lệnh trả lời những mệnh lệnh của Athêna: “Hỡi nữ thần Athêna hùng mạnh: Kẻ nào nghe lời nữ thần mà không phục tùng thì kẻ ấy là một người điên, bởi vì chống lại các thần linh quyền lực vô song đâu phải là điều thích hợp.”(câu 1142-1443).


Ở đây, chúng ta chúng ta chỉ thấy một mệnh lệnh khô khan thuần túy bên ngoài của Athêna cũng như sự phục tùng đơn thuần cũng không có nội dung như vậy của Thôat. Trái lại ở Gơt, Iphigiêni được nâng lên trình độ một nữ thần và tin vào cái chân lý nằm trong bản thân mình ở trong con tim mình. Theo ý nghĩa này nàng nói với Thôat: “Phải chăng chỉ có đàn ông mới có đặc quyền làm những sự nghiệp xưa nay chưa từng nghe nói đến? Phải chăng chỉ có đàn ông mới có quyền ôm ấp những sự nghiệp không thể làm được ở trong con tim anh hùng của mình?”


Nếu như trong Ơriphit, việc Thôat từ bỏ ý định được thực hiện thông qua mệnh lệnh của Athêna, thì nàng Iphigiêni của Gơt ra sức đạt đến và thực tế đã đạt đến điều đó nhờ những tình cảm và những biểu tượng sâu sắc mà nàng đối lập với nó: “Đối với tôi, một hành động táo bạo làm con tim băn khoăn của tôi xáo động. Tôi sẽ không thoát khỏi những lời trách móc nặng nề và những tai họa to lớn nếu nó thất bại. Song, hỡi các thần linh, tôi xin trao nó cho các người nếu như các người yêu quí chân lý như người ta vẫn ca ngợi thì xin các người hãy chứng tỏ điều đó bằng cách giúp đỡ tôi. Xin các người qua tôi hãy ca ngợi chân lý”.


Và khi Thôat phản đối trả lời: “Nàng nghĩ rằng người Sít thô lỗ, và dã mang sẽ nghe tiếng nói của chân lý và của nhân đạo mà Atrê người Hy Lạp đã không tin theo chăng?” thì nàng trả lời đầy niềm tin trong sáng nhất, dịu dàng nhất: “Bất cứ người nào, dù cho sinh ra dưới bất kỳ bầu trời nào miễn là cội nguồn của sự sống và tình yêu tuôn trào tự do và trong lòng nó cũng đều nghe tiếng nói của chân lý”.


Tin tưởng vào sự vĩ đại và địa vị cao quí của mình, nàng kêu gọi lòng cao thượng và khoan dung của Thôat, nàng đã làm cho Thôat cho phép nàng trở về tổ quốc, về nơi những người của nàng, bằng một hình thức đẹp đẽ về tính nhân tính của nó. Bởi vì chỉ có điều đó là điều cần thiết. Nàng không cần bức tượng của nữ thần và nàng có thể ra đi không cần mánh khóe và lừa dối bởi vì Gơt đã thuyết minh một cách vô cùng đẹp đẽ cái nghĩa nhập nhằng của lời tiên đoán của thần linh: “Nếu người đem được người em gái vẫn còn sống trái với ý mình từ cái thân miếu bờ biển Taurit trở về tổ quốc thì lúc đó lời nguyền rủa sẽ chấm dứt”. Gơt cấp cho nó một ý nghĩa thuần túy nhâ tính rằng nàng Iphigiêni trong trắng thiêng liêng, người em gái chính là hình ảnh của nữ thần và của người che chở gia đình: “Ý muốn của nữ thần biểu hiện ở tôi trong tất cả vẻ đẹp và vẻ huy hoàng của nó, Orextơ nói với Thôat và Iphigiêni: “Như một hình ảnh thiêng liêng do quyết định huyền bí của thần linh đã gắn liền với vận mệnh không thể thay đổi của thành bang, nữ thần đã mang nàng đi, nàng là vị thần bảo hộ cho gia đình chúng ta. Nữ thần đã giữ nàng trong một nơi ẩn náu thiêng liêng và tĩnh mịch vì hạnh phúc của anh em và của người thân. Trong khi trên mặt đất bao la, chúng tôi hình như không còn có hy vọng nào cứu thoát thì bây giờ nàng trả lại tất cả cho chúng tôi”. Ngay trước đấy, Iphigiêni đã xuất hiện với Orextơ với vẻ trong sáng và cái đẹp về đạo đức của tâm hồn, và những điều đó trước đây đã làm cho nàng bình tâm và trở lại trạng thái yên tĩnh. Orextơ tâm hồn tan tác, không còn tin tưởng tìm được cảnh bình tâm, khi gặp Iphigiêni thực ra lúc đầu ở trong tình trạng điên cuồng hung bạo, song tình yêu trong trắng của người em gái đã chữa chàng khỏi tất cả những dằn vặt do các thần phục thù gây nên ở bên trong: “Ở trong những cánh tay của nàng, hung thần với nhưng nanh vuốt tàn nhẫn đã nắm tôi lần cuối cùng, nó đã lạy tôi một cách khủng khiếp cho đến tận cái tủy tội nghiệp của xương. Thế rồi như một con rắn, nó đã lần trốn vào cái hang của nó. Nhờ nàng, tôi lại được hưởng ánh sáng rạng rỡ của ban ngày”.


Về mặt này cũng như ở mặt khác, sự kinh ngạc của chúng ta trước cái đẹp sâu sắc của tác phẩm thơ này thực không bao giờ cùng.


Về các cốt truyện, Thiên Chúa giáo vẫn là kém hơn nhiều so với các cốt truyện cổ đại. Trong các truyền thuyết Thiên Chúa giáo và nói chung trên cơ sở những biểu tượng Thiên Chúa giáo, mặc dầu Giêxu, Maria và các vị thánh khác làm thành đối tượng được mọi người tin. Song bên cạnh điều đó, trí tưởng tượng lại tạo ra các lĩnh vực họ hàng mọi thứ tồn tại quái đản như các mụ phù thủy, các bóng ma, các yêu tinh… Nếu như chúng ta quan niệm những sáng tạo tưởng tượng này của hư cấu là những sức mạnh xa lạ đối với con người thì con người một khi mất chỗ dựa ở trong bản thân mình sẽ phục tùng những sự quyến rũ, những điều lừa dối và những hứa hẹn dối trá mà không hề kháng cự lại, lúc đó tất cả sự biểu hiện nghệ thuật chỉ có thể tỏ ra là đầy những bịa đặt điên rồ và những điều ngẫu nhiên võ đoán. Về mặt này, trước hết nghệ sĩ phải cố gắng làm sao cho con người vẫn giữ được quyền tự do và quyền quyết định độc lập. Về mặt này, Sêchxpia đã cho ta những thí dụ đẹp đẽ. Các mụ phù thủy trong Mácbét chẳng hạn, đóng vai những sức mạnh bên ngoài báo trước số phận của Mácbét. Song điều họ báo trước chẳng qua chỉ là cái ý muốn sâu kín nhất của y đã xuất hiện trước ý thức của y và bộc lộ cho y thấy rằng ở đây nó chỉ có cái vẻ bên ngoài của một lời tiên đoán. Hiện tượng hồn ma trong Hămlet lại còn đẹp đẽ hơn và sâu xa hơn. Nó được Sêchxpia đưa ra chỉ với tính cách một hình thức khách quan của những tiên cảm bên trong của chính Hămlet. Ngay từ đầu, chúng ta đã thấy Hămlet bị dằn vặt bởi một tình cảm mơ hồ rằng có một điều gì rợn đã xảy ra. Sau đó, hồn ma của người cha xuất hiện trước mặt chàng và bộc lộ tất cả cái tội ác khủng khiếp. Chúng ta chờ đợi rằng sau khi bộc lộ như vậy Hămlét lập tức bắt tay vào việc trừng trị tên tội phạm và cho rằng chàng hoàn toàn có quyền trả thù. Song chàng vẫn cứ chần chừ và trì hoãn. Tính chất không hoạt động này của Hămlét đã khiến người ta trách Sêchxphia về chỗ trong bi kịch đôi khi không có vận động. Song Hămlét là một bản tính yếu đuối về mặt thực tiễn, một tâm hồn đẹp đẽ vùi sâu vào những cảm nghĩ nội tâm và khó lòng quyết định thoát ra khỏi cảnh hài hòa bên trong này. Chàng là người mơ mộng, thiên về đào sâu trong tâm hồn mình, một người đa sầu đa cảm luôn luôn vùi mình vào những tư tưởng và vì vậy không thể nào hành động nhanh chóng được. Theo Gơt, ý nghĩa của vỡ kịch do Sêchxphia xây dựng là ở chỗ đó. Gơt nói: “Ở đây một cây sồi được trồng trong cái bình quí báu đáng lý chỉ dùng để trồng những bông hoa dịu dàng. Rễ cây sồi lan rộng và làm chiếc bình vỡ tung và cây sồi chết”. Nhưng Sêchxphia ở đây khiến Hămlét nói về sự xuất hiện của hồn ma cha mình, những điều còn sâu xa hơn nhiều. Hămlét chần chừ bởi vì càng không tin vào bóng ma: “Hồn ma ta đã gặp có thể là quỷ ác thường có ma lực biến thành những hình hài quyến rũ, có sức mạnh chế ngự những tâm hồn u uất, có lẽ vì ta yếu đuối, u buồn mà nó đã lừa lọc mưu hại ta chăng? Ta phải có những chứng cớ xác đáng hơn thế nữa. Vở tuồng này([1]) sẽ giúp ta nhìn thấu suốt lương tâm y”.


Ở đây chúng ta thấy rằng bóng ma với tính cách bóng ma không phải hoàn toàn  làm chủ được Hămlét. Hămlét ngờ vực, và trước khi tiến hành một biện pháp nào đó chàng muốn tin chắc vào tính chất hiện thực của tội ác.


Cuối cùng, chúng ta có thể bắt chước những tác giả cổ đại gọi những sức mạnh phổ biến không những biểu hiện một cách độc lập, tự bản thân nó, mà còn sống trong trong lồng ngực con người và lay động tâm hồn con người ở những nơi sâu thẳm nhất bằng danh từ pathos. Chữ pathos rất khó dịch bởi vì từ “dục vọng” (passion) nhằm chỉ cái gì vô nghĩa, thấp hèn, và chúng ta yêu cầu một người đừng vâng theo những dục vọng của mình. Từ “khát vọng” (pathos) được chúng ta quan niệm ở đây theo cái nghĩa cao nhất, khái quát nhất, không có mằu sắc chỉ một cái gì đồng bóng, đáng chê bai… Chẳng hạn tình yêu thiêng liêng của Antigôn đối với anh là một khát vọng theo ý nghĩa Hy Lạp của từ này. Nếu kiểu như vậy thì khát vọng là một sức mạnh của tâm hồn, bản thân là chính đáng, một nội dung chủ yếu của tính hợp lý và của ý chí tự do. Chẳng hạn Orextơ giết mẹ là bị thúc đẩy không phải bởi một vận động bên trong của tâm hồn mà người ta thường vẫn gọi là dục vọng([2]), mà cái khát vọng thúc đẩy anh ta hành động là được suy nghĩ cẩn thận và hoàn toàn có lý do. Vì vậy chúng tôi sẽ không nói rằng các thần linh có khát vọng. Họ chỉ là một nội dung khát biệt của cái bắt con người cá biệt phải quyết định và phải hành động([3]). Nhưng các thần linh với tính cách thần linh vẫn tồn tại ở trong tình trạng nghỉ ngơi và không cảm xúc, và nếu như họ bắt đầu tranh cãi và đánh lộn nhau, thì họ không xem điều đó là quan trọng, hoặc sự xung đột giữa họ có một ý nghĩa tượng trưng khái quát là một cuộc chiến tranh toàn bộ của các thần linh. Do đó chúng ta chỉ nên dùng khái niệm khát vọng([4]) để áp dụng cho những hành vi của con người và nên quan tâm danh từ này chỉ cái nội dung chủ yếu và hợp lý có mặt ở trong “cái tôi” nhân tính bằng cách làm cho tất cả tâm hồn thấm nhuần và tràn ngập cái nội dung ấy.


(aa) Khát vọng làm thành cái điểm tập trung thực sự, cái vương quốc chân chính của nghệ thuật: sự thể hiện khát vọng là điều chủ yếu hơn cả trong tác phẩm nghệ thuật. Sở dĩ thế là vì khát vọng làm lay động sợi dây có được tiếng vọng ở trong mỗi trái tim người. Người nào cũng biết giá trị và yếu tố hợp lý chứa đựng ở trong nội dung một kháy vọng chân chính và người nào cũng đánh giá cao nó. Sở dĩ khát vọng làm ta xúc động, bởi vì tự thân nó là một sức mạnh to lớn trong sự tồn tại của con người. Về mặt này, hoàn cảnh bên ngoài, tự nhiên xung quanh và phong cảnh tự nhiên chỉ làm thành một cái thứ yếu, phụ thuộc, có nhiệm vụ nâng đỡ tác động của dục vọng. Chính vì vậy cần phải sử dụng tự nhiên về thực chất, như một cái gì tượng trưng và để cho bản thân nó toát ra cái khát vọng làm thành đối tượng chân chính của sự biểu hiện nghệ thuật. Tranh phong cảnh tự bản thân nó là một thể loại không quan trọng bằng tranh lịch sử, nhưng ngay cả ở nơi nó xuất hiện một cách độc lập, thì nó vẫn là tiếng vọng của một tình cảm chung và có hình thức khát vọng. Xét theo nghĩa này, người ta thường nói rằng nghệ thuật có nhiệm vụ làm người ta xúc động. Nhưng nếu như ta chấp nhận cái nguyên lý cơ bản này thì sẽ nảy sinh vấn đề chủ yếu sau đây: vậy chứ ở trong nghệ thuật cái gì có nhiệm vụ gây nên tình cảm này? Sự cảm động với tính cách một tình cảm nói chung là sự thông cảm và những con người, nhất là những người này nay rất dễ cảm động. Song những giọt nước mắt như vậy không có giá trị cho lắm còn ở trong nghệ thuật chỉ có khát vọng, cái khát vọng chân chính là cái có thể làm cảm động.


(bb) Vì vậy, khát vọng ở trong hài kịch cũng như ở trong bi kịch không được là một sự ngu dại đơn thuần hay một ảo tưởng chủ quan. Timôn của Sếchxpia bên ngoài là một người ghét đời: bạn bè trước đây đã làm anh ta phá sản, anh ta tiêu phí hết gia sản, và bây giờ khi anh ta cần tiền thì mọi người trở mặt; anh ta trở thành một kẻ căm ghét loài người một cách say sưa. Điều đó là tự nhiên và dễ hiểu, nhưng đó không phải là một khát vọng tự thân nó là chính đáng. Cũng vậy, tính chất ghét đời ở trong vỡ kịch thời niên thiếu của Sinle: “Kẻ căm ghét loài người” vẫn còn là một điều đồng bóng ở trình độ cao nhất của thời đại. Bởi vì kẻ ghét đời ở đây lại đồng thời là một con người biết sưy nghĩ, thông minh, có tính cách hết sức cao thượng; chàng đối xử quảng đại đối với các nông nô mà chàng đã giải phong và tha thiết yêu quí cô con gái của mình vừa đẹp lại vừa dịu dàng. Để nêu thí dụ chúng tôi còn dẫn trường hợp Quynhxiut Hâymơran phôn Elamminh trong tiểu thuyết của Augút Laphônten([5]) người bị quằn quại bởi cái ý nghĩa kỳ quặc về các nhân chủng… Nhung khuyết điểm chính của thi ca hiện đại là ở chỗ nó thiên về chỗ những ham mê những sáng tạo quái đản hết sức giả dối. Theo ý các tác giả, điều quái đản này có nhiệm vụ tạo nên một hiệu lực bằng tính chất kỳ quặc của nó. Song không tìm được tiếng vọng ở một tâm hồn  nhân tính lành mạnh ở trong những suy nghĩ tế nhị như vậy về chỗ cái gì là chân thực ở trong con người, mọi nội dung thực sự đều biến mất.


Nhưng chúng ta cần phải nói cả điều ngược lại: mọi cái gì dựa trên một học thuyết nào đó và trên những niềm tin vào tính chất chân thực của nó, vì nhận thức này làm thành một đòi hỏi chủ yếu, điều không phải là một khát vọng chân chính đối với sự biểu hiện nghệ thuật. Trong trường hợp những nhận thức khoa học và những chân lý khoa học là như vậy, bởi vì khoa học đòi hỏi một trình độ văn hóa chuyên môn, những cố gắng to lớn và những hiểu biết đa dạng trong lĩnh vực một khoa học nhất định và phải hiểu địa vị của nó trong các ngành khoa học khác. Nhưng hứng thú đối với những sự nghiên cứu như vậy lại không phải là một động lực của con tim người, trái lại bao giờ cũng chỉ bó hẹp vào một số người nhất định.


Sự thể hiện nghệ thuật về những học thuyết thuần túy tôn giáo cũng hay go chẳng kém nếu như ta phải phát hiện cái nội dung nội tại của nó. Một nội dung khái quát của tôn giáo, lòng tin vào Thượng đế… kể ra, là một cái làm mọi tâm hồn sâu sắc quan tâm. Nhưng đối với niềm tin này, nhiệm vụ của nghệ thuật không phải là phát hiện nội dung của những tín điều tôn giáo và bạn bạc đặc biệt về tính chất chân thực của nó, trái lại nó cần phải có thái độ hết sức dè dặt đối với lối giải thích như vậy. Trái ngược với điều đó, chúng tôi cho rằng mọi trái tim người đều có thể tiếp nhận mọi hình thức của khát vọng, mọi động cơ của những sức mạnh đạo đức trong thực tế qui định hành động con người. Tôn giáo liên quan hơn với tâm tính, với con tim ta nó là một nguồn an ủi đối với cá nhân và một cách nâng cao tâm hồn cá nhân, nhưng nó lại không có quan hệ thực sự với tính cách hành động. Bởi vì yếu tố thần linh ở trong tôn giáo, với tính cách hành động đó là đạo đức và những sức mạnh riêng biệt của đạo đức. Đối lập lại cái bầu trời trong sáng của tôn giáo, các sức mạnh này liên quan tới những hiện tượng trần tục hơn và những việc làm của con người hơn. Ở các dân tộc cổ đại, chính yếu tố trần tục này trong các nét chủ yếu của nó đã làm thành nội dung các biểu tượng trần tục của họ về các thần linh và vì vậy chúng có thể hoàn toàn xuất hiện như một bộ phận tạo thành trong sự miêu tả nghệ thuật của hành động.


Nếu như chúng ta nêu lên câu hỏi dung lượng của cái dục vọng có thể miêu tả một cách nghệ thuật là như thế nào thì ta cần trả lời rằng con số những yếu tố như vậy của ý chí là hết sức ít, dung lượng của chúng là không đáng kể, nhất là nhạc kịch nên và cần phải thu hẹp vào một phạm vi hạn chế những yếu tố này và hết lần này lượt khác, chúng ta lại nghe những lời than vãn và những nỗi vui sướng gây nên bởi những thành công hay thất bại của tình yêu, danh dự, vinh quang, tinh thần anh dũng, tình bạn, tình mẹ đối với con, tình yêu của các con đối với cha mẹ và lòng chung thủy của vợ chồng.


(cc) Một khát vọng như vậy về thực chất đòi hỏi phải được biểu hiện một cách chi tiết và kỹ càng. Ở đây cần phải bộc lộ được cái tâm hồn phong phú chứa đựng ở nó cái khát vọng của tất cả cảm nghĩ bên trong chứ không phải tập trung vào bản thân mà xuất hiện cả về diện tích và vươn lên đến một hình thức hoàn toàn phát triển. Các tác phẩm nghệ thuật khác nhau rất nhiều do chỗ trong tác phẩm này sự tập trung bên trong chiếm ưu thế, nhưng trong những tác phẩm khác thì sự phát triển của tính cách chiếm ưu thế và những dân tộc khác nhau cũng khác nhau chủ yếu về mặt này. Các dân tộc nỗi bật bởi một trình độ suy nghĩ phát triển thì hùng hồn hơn trong việc biểu hiện các dục vọng của mình. Những người cổ đại chẳng hạn đã quen bộc lộ cái khát vọng cổ vũ các cá nhân trong tất cả trình độ sâu sắc của nó, nhưng không phải vì thế mà rơi sự suy nghĩ lạnh lùng hay vào việc nói chuyện trống rỗng. Nhưng người Pháp là phong phú về tình cảm về mặt này, và tính chất hùng hồn của các dục vọng của họ không phải bao giờ cũng chỉ là việc lựa chọn đơn thuần các từ ngữ như những người Đức chúng ta vẫn thường nghĩ. Bởi vì chúng ta vốn thường quen ít biểu lộ đặc tính tình cảm của mình, bởi vì chúng ta cho rằng biểu lộ tình cảm một cách toàn diện sẽ là xúc phạm tới tình cảm. Ở Đức có một thời các nhà thơ trẻ, vì chán thứ nước lã của từ chương học Pháp, nên lo đạt đến tính tự nhiên và bắt đầu nói với một sức mạnh biểu hiện chủ yếu chỉ bằng những thán từ. Nhưng nếu như chỉ dùng những “than ôi” và những “chao ôi” mà thôi và những lời nguyền rủa căm giận, hoặc những lời hò hét dữ tợn ném vào mặt đối phương thì cũng chẳng đi được xa. Sức mạnh chỉ được biểu hiện bởi những từ mà thôi là một sức mạnh kém cỏi và là phương thức biểu hiện của một tâm hồn mộc mạc. Cái tinh thần cá nhân ở đấy khát vọng được biểu hiện cần phải tràn ngập một tinh thần có khả năng mở rộng và nói lên tình cảm của mình.


Về mặt này, Gơt và Sinle làm thành sự đối lập nổi bật. Gơt không sôi nổi bằng Sinle và cách biểu hiện của ông hàm súc hơn. Các ca khúc của ông cũng như mọi ca khúc nói lên được những điều nó muốn nói, song vẫn không bộc lộ hoàn toàn nội dung của nó. Trái lại Sinle thích phát triển dục vọng của mình dài và rõ rệt hơn với sức mạnh biểu hiện hơn. Cũng vậy Claudiut(35) ở trong “Người báo tin Vanbocke” (tập I, trang 153) đối lập Vonte và Sêchxpia một cách tương tự. Theo ông, một người là cái mà người kia có vẻ như vậy. “Aruê(36) tiên sinh nói: tôi khóc, trái lại Sêchxpia khóc thực”. Song trong nghệ thuật vấn đề quan tâm tới là việc nói và biểu hiện thành chứ không phải quan tâm tới sự tồn tại tự nhiên một cách hiện thực. Nếu như Sêchxpia chỉ có khóc, trái lại Vonte có vẻ khóc thì Sêchxpia đã là một nhà thơ tồi.


Như vậy, muốn cho cụ thể ở bản thân nó, như lý tưởng nghệ thuật yêu cầu, thì khát vọng phải được miêu tả thành một khát vọng của một tâm hồn phong phú và vẹn toàn. Điều đó dẫn chúng ta tới mặt thứ ba của hành động, tới sự khảo sát chi tiết hơn về tính cách.


 


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.




(*) Đây là vở tuồng mà Hămlét sai các diễn viên trong đó cái cảnh ám sát giống như cái cảnh cha chàng bị giết.




([2]) Ở trên đã chú thích về chỗ nhân vật cổ đại là nhất phiến, an nhàn.




([3]) Vì thần linh chỉ là “sức mạnh chung”.




([4])  Chú ý cách dùng danh từ của Hegel: yếu tố thần linh, hay “sức mạnh chung” ở trong thần linh khi được biểu hiện vào con người thì thành “khát vọng”, nếu ở trong con người chưa có đấu tranh nội tâm như trong nghệ thuật phương Đông cổ và trong nghệ thuật Hy Lạp. Nhưng khi chuyển sang con người hiện đại thf “sức mạnh chung” lại biến thành “dục vọng”vì có đấu tranh nội tâm. Nhưng ba khái niệm “sức mạnh chung”, “khát vọng”, “khát vọng”lại đồng thời là một, đều là “sức mạnh chung” cả. Hegel dùng sự phân biệt này để nêu bật ba giai đoạn chủ yếu trong sự phát triển của nghệ thuật nhận loại là “tượng trưng”, “cổ điển” và “lãng mạn”. Danh từ “khát vọng” thường được Hegel dùng để chỉ cả “khát vọng” lẫn “dục vọng”, nhưng ngược lại thì không. Trong các tài liệu lí luận của các tác giả khác thường không có sự phân biệt có tính chất lịch sử như vậy.




([5]) August Heinrich Julius Lafontaine (1738-1831). Nhà tiểu thuyết lãng mạn Đức tác giả “Những kỳ  công của Heymeran von



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »