tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28948962
Lý luận phê bình văn học
14.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (23)

Những sức mạnh chung của hành động.


Trong sự khảo sát của chúng tôi về hành động, chúng tôi chỉ mới dừng lại ở giai đoạn đặc tính của lí tưởng và sự khu biệt hóa của lí tưởng và sự khu biệt hóa của lí tưởng. Song ở trong cái đẹp chân thực, mỗi mặt của sự đối lập gây nên sự xung đột này đều cần phải mang trong mình dấu ấn của lí tưởng mà không được mất tính hợp lí và lí do biện hộ cho nó. Trong cuộc tranh giành này, ở đây một sức mạnh xuất hiện chống lại các sức mạnh khác, các quyền lợi có tính chất lí tưởng cần phải đấu tranh với nhau. Các nhu cầu chủ yếu của trái tim con người, cần thiết ở trong mục đích của hành động là những quyền lợi như vậy. Chúng ta chính đáng và hợp lí ở bản thân chúng và do đó chúng là những sức mạnh chung là vĩnh viễn của sự tồn tại tinh thần. Bản thân chúng không phải là yếu tố thần linh tuyệt đối([1]), chúng là kết quả của cái ý niệm duy nhất tuyệt đối và vì vậy mà có quyền lực và có giá trị. Chúng là con đẻ của cái chân lí phổ biến nhất, mặc dầu chúng chỉ là những yếu tố đặc thù nhất định của cái chân lí ấy. Do đặc tính của chúng, các quyền lợi này có thể va chạm với nhau; song độc lập đối với sự phát triển của chúng, chúng phải là chủ yếu ở bản thân thì mới có thể đóng vai một lí tưởng cụ thể. Những quan hệ vĩnh viễn có tính chất tôn giáo, đạo đức, làm thành những động lực lớn của nghệ thuật (gia đình, tổ quốc, nhà nước, nhà thơ, vinh quang, tình bạn, giai cấp xã hội, phẩm giá và ở trong cái thế giới lãng mạn, nhất là vinh dự, tình yêu…) là như vậy. Về trình độ giá trị, các sức mạnh này là khác nhau, nhưng tất cả đều phải hợp lí ở bản thân chúng. Và con người, chính bởi vì y là con người, cho nên y phải thừa nhận những sức mạnh này của tâm hồn con người và phải khuyến khích sự biểu hiện của chúng ở bản thân mình. Song chúng không được làm thành những quyền lợi được qui định bởi những pháp luật chính thức, bởi vì một phần bản thân hình thức pháp luật chính thức, như chúng ta đã thấy ở trên, là đối lập lại khái niệm về hình thức thể hiện của lí tưởng, và một phần không công bình “tự nó và cho nó” sau khi đã mang hình thức pháp luật, có thể trở thành một nội dung của những pháp luật đã được qui định. Các quan hệ mà chúng ta nói đến ở đây không phải chỉ là một sự qui định ở bên ngoài mà còn là những sức mạnh bản chất ở bản thân mình và vì mình, chứa đựng một nội dung chân thực của sự tồn tại của thần linh và con người, cho nên chúng vẫn là động cơ hành động của con người và xét cho cùng bao giờ cũng được thực hiện.


Chẳng hạn, những quyền lợi và những mục đích đấu tranh ở “Antigôn” củ Xôphôklơ là như vậy. Vua Krêôn, với cương vị người cầm đầu nhà nước, đã ban hành một mệnh lệnh khắc nghiệt cấm không được chôn cất người con trai của Ơđíp đã hành động chống lại thành Thebơ như một kẻ thù. Mệnh lệnh này một phần là có lí do biện hộ, bởi vì đây là những vấn đề phúc lợi của tất cả thành bang. Nhưng Antigôn lại được cổ vũ bởi một sức mạnh đạo đức cũng mạnh mẽ như vậy. Đó là tình yêu thiêng liêng đối với người anh mà nàng không thể không chôn cất, vì nàng không thể để nó làm mồi cho chim chóc. Sự tôn trọng những mối liên hệ gia đình bắt buộc nàng phải làm nhiệm vụ chôn cất, và vì vậy nàng đã vi phạm mệnh lệnh của Krêôn.


Mặc dầu những xung đột có thể do những phương thức rất khác nhau dẫn tới, song tính chất cần thiết của phản ứng không được do một cái gì ngu xuẩn và vô nghĩa gây nên mà phải do một cái gì tự thân nó là hợp lí và chính đáng. Chính vì vậy chẳng hạn, sự xung đột trong bản trường ca nổi tiếng của Hácman phôn đe Aoe “Hanrich tội nghiệp” làm người ta khó chịu. Bị một chứng bệnh không thể chữa được là bệnh hủi, nhân vật chính trong khi tìm sự giúp đỡ, hỏi các tu sĩ thành Xabenơ. Họ bảo chàng rằng chàng phải tìm được một người tình nguyện hi sinh vì chàng bởi vì có thể lấy máu ở tim người mới chế được thứ thuốc để chữa bệnh cho chàng. Một cô gái nghèo khổ yêu chàng hiệp sĩ, tình nguyện vì chàng mà chết và cùng chàng sang Ý. Đó là một điều hoàn toàn dã man và tình yêu lặng lẽ, lòng tận tụy cảm động của cô gái ở trong tình huống này, do đó không thể gây cho chúng ta một ấn tượng thích hợp. Kể ra ở các nhà thơ cổ đại chúng ta cũng bắt gặp một sự bất công như vậy với tính cách một sự va chạm, như việc dâng người làm vật hiến tế chẳng hạn trong câu chuyện của Iphigiêni. Lúc đầu nàng bị dâng làm vật hiến tế và, sau đó, suýt nữa chính nàng lại giết anh mình làm vật hiến tế. Song ở đây sự xung đột là gắn liền với những quan hệ khác, bản thân chính đáng. Ngoài ra như chúng ta đã thấy ở đây vẫn còn một điều hợp lý ở chỗ Iphigiêni cũng như Orextơ cuối cùng đều được nghiên cứu, sức mạnh của sự xung đột trái ngược với quyền lợi như vậy đã bị bẻ gãy. Kể ra, trong trường ca của Hácman phôn dơ Aoe cũng xẩy ra một điều tương tự: vì chính Henrích từ chối không để cô gái hi sinh, quyền lực của thực tế đã giải phóng chàng khỏi bệnh tật và cô gái đã được thưởng vì tình yêu trung thành của mình.


Ta có thể cảm thấy rằng đối lập lại những sức mạnh chính diện đã nói lên ở trên, còn có những sức mạnh khác nữa: những sức mạnh phản diện và nói chung là xấu xa và độc ác. Song khi miêu tả một cách lí tưởng một hành động thuần túy phản diện, ta không nên giành chỗ đứng cho cái phản diện làm thành một phản ứng cần thiết. Cố nhiên, tính chất hiện thực của cái phản diện có thể phù hợp với khái niệm phản diện, với bản chất và nguồn gốc của nó. Song nếu như khái niệm bên trong và mục đích bản thân nó là vô nghĩa thì cái xấu xa bên trong lại càng ít để biểu lộ cái đẹp chân thực bên ngoài của nó. Tính chất ngụy biện của các dục vọng có thể sử dụng cách lập luận khéo léo, sức mạnh và nghị lsực củ tính cách để cấp cho cái phản diện những vẻ bên ngoài một tính chất chính diện, nhưng nó chỉ có thể cấp cho ta ấn tượng một ngôi mộ được trang điểm lòe loẹt mà thôi. Bởi vì mọi cái gì chỉ là phản diện thì đều mờ nhạt và tầm thường ở bản thân nó và khiến chúng ta hoàn toàn bàng quan vì nó làm chúng ta ghê tởm, mặc dầu nó có thể được sử dụng làm động cơ của một hành động, hay làm phương tiện để gây nên phản ứng một người khác. Sự tàn bạo, tai họa, bạo lực và tính chất tàn nhẫn của người có quyền lực trên thế giới vẫn còn có thể hiểu được và chịu đựng được ở trong biểu hiện nếu như cơ sở của biểu hiện và tính chất vĩ đại về nội dung của tính cách và của mục đích. Những cái xấu với tính cách cái xấu, sự ghen ghét, sự hèn nhát và sự đê tiện bao giờ cũng kinh tởm. Vậy nó là một hình tượng xấu xa, chẳng qua nó chỉ là sự dối trá ở bản thân nó và làm thành một nhân vật nôm na ở trình độ cao nhất. Cũng vậy, các nữ thần trử thù, của sự căm ghét và nhiều ngụ ngôn khác tương tự, mặc dầu là những sức mạnh, song không hề có tính chất độc lập tích cực và tính chất vững chắc và không thích hợp với sự biểu hiện có tính chất lí tưởng. Kể ra, ở đây cũng cần phải nhận thấy rằng trình độ được chấp nhận của các đối tượng biểu hiện này rất khác nhau tùy theo từng nghệ thuật và tùy theo cái phương thức chúng làm cho đối tượng của chúng được chiêm ngưỡng một cách trực tiếp. Nói chung, cái ác là không có hứng thú ở bản thân nó bởi vì, cái ác chẳng dẫn đến cái gì khác ngài tính chất phản diện, ngoài sự phá hoại và bất hạnh, trong lúc đó nghệ thuật chân chính phải là bức tranh của sự hài hòa bên trong. Sự hèn hạ vì vậy là đáng khinh hơn cả, bởi vì nó xuất phát từ sự căm ghét và ghanh tị đối với tất cả những gì cao thượng và nó không ngần ngại sử dụng một cái gì tự thân nó là chính đáng làm một phương tiện để thỏa mãn cái dục vọng xấu xa và hèn hạ. Chính vì vậy các nhà thơ và các nghệ sĩ vĩ đại thời cổ đại không bao giờ nêu lên cho chúng ta những cảnh xấu xa và hèn hạ. Trái lại, Sêchxpia chẳng hạn miêu tả cái ác trong tất cả tính khả ố của nó. Chẳng hạn trong vua Lia – Ông già Lia chia vương quốc của mình cho các con gái và quá ngu xuẩn đến nổi tin những lời nịnh nọt giả dối của hai cô con gái và gạt bỏ cô gái Coocđêli là người trung thành nhưng không nói gì hết. Đó là một điều thuần túy ngu xuẩn và điên rồ. Nhưng ông ta trở thành điên thực sự bởi các cô gái kia và chồng của họ đã tỏ ra vô ơn một cách hèn hạ nhất và đối xử tệ hại nhất. Các nhân vật chính của bi kịch Pháp có tính chất khác. Họ thường cố gắng dùng những lời lẽ cường điệu quá đáng để tỏ rằng họ có những động cơ cao thượng nhất và cao quý nhất. Nhưng nếu ta nhìn kỹ hơn những điều thực tế họ đã làm và thực ra họ như thế nào thì ta sẽ thấy rằng những lời của họ chỉ là lời lẽ huênh hoang. Tính chất không ổn định ở bên trong, tình trạng chia xẻ về tâm hồn được thể hiện với tất cả những điều mất hài hòa khả ố nhất đã trở thành một thời thượng chủ yếu ở thời hiện đại và đã làm nẩy sinh thái độ táo bạo và mỉa mai hài hước nhất,là điều mà Thêôđo Hốpman([2]) chẳng hạn thích nhất.


– Như vậy, chỉ có những sức mạnh ở bản thân nó là tích cực thì mới làm thành nội dung chân thực của một hành động lí tưởng. Nhưng những sức mạnh vận động này không được biểu hiện trong nghệ thuật trong trạng thái phổ biến của chúng mặc dầu ở trong những hành vi diễn ra trong thực tế là những yếu tố chủ yếu của ý niệm và cần phải mang hình thức những cá nhân độc lập. Nếu như điều này không xảy ra thì những sức mạnh này chỉ làm thành những tư tưởng chung và những biểu tượng trừu tượng không thuộc lĩnh vực nghệ thuật. Mặc dầu chúng không phải là bắt nguồn từ hư cấu võ đoán, nhưng chúng phải có tính chất cụ thể và hoàn mỹ, và do đo, làm thành những điều được cá tính hóa ở bản thân mình. Song đặc tính này không bị xóa mờ thành những chi tiết riêng biệt của một sự tồn tại bên ngoài, cũng không được thu hẹp đến trình độ cảm nghĩ chủ quan bên trong, bởi vì nếu không thế thì tính chất cá nhân của các sức mạnh phổ biến thế nào bị lôi cuốn vào tất cả những tình tiết rắc rối của sự tồn tại hữu hạn([3]). Do đó, thuộc tính diện mạo cá nhân của các sức mạnh chung được vượt quá những giới hạn nhất định.


Các thần linh Hy Lạp cho ta một thí dụ nỗi bật nhất về sự thống trị của những sức mạnh chung dưới hình thức độc lập của chúng. Dù cho tính cách họ biểu hiện là như thế nào đi nữa, vẻ hạnh phúc và tươi vui bao giờ cũng làm thành đặc tính của biểu hiện của họ. Với tính cách thần linh cá nhân và đặc thù, kể ra họ cũng đấu tranh. Song xét cho cùng họ không nhìn cuộc đấu tranh này một cách nghiêm túc theo cái nghĩa họ tập trung toàn bộ nghị lực của tính cách và tất cả dục vọng của mình vào một mục đích nhất định mà nhất định họ phải thực hiện cho kỳ được dù có phải chết cho cuộc đấu tranh này. Đôi khi, họ cũng cn thiệp vào cuộc đấu tranh, và trong những trường hợp cụ thể, họ cũng cho một quyền lợi nào đấy là quyền lợi của bản thân. Song sau đó, họ lại phó mặc các biến cố diễn biến theo cách của nó và quay trở về đỉnh Olempơ tràn đầy hạnh phúc. Như chúng ta đã thấy các vị thần của Hômerơ chiến đấu; điều này là hậu quả của đặc tính của họ. Nhưng mặc dầu thế, họ vẫn là những tồn tại chung và những đặc tính chung(26). Thí dụ, trận chiến đấu đã bùng lên, các vị thần anh hùng lần lượt tiến ra để biến mất trong cuộc chiến đấu điên cuồng, tất cả đều bị xáo trộn. Và người ta không thể phân biệt được những điều chi tiết riêng biệt. Trước mắt ta là một cái đà chung, một trận chiến đấu sôi sục. Bây giờ những sức mạnh chung, chính các vị thần bước vào đấu tranh. Song mặc dầu mọi tình tiết và những xung đột này, trước sau họ vẫn quay về tình trạng độc lập và thanh thản trước đây. Mặc dầu tính chất cá biệt của hình thức họ cũng kéo họ vào phạm vi những điều ngẫu nhiên, nhưng bởi vì cái cá biệt của họ chẳng qua chỉ là một yếu tố bên ngoài chứ không thâm nhập vào tất cả người họ cho nên nó không làm thành cái tính chủ thể bên trong của họ. Đặc tính của họ chỉ là một hình thức khoác cái bản chất thần linh(27).


Chính tính độc lập và cái vẻ thanh thản im lìm này đã cấp cho họ một cá tính tạo hình, giải phóng họ khỏi những lo lắng về những hoàn cảnh và những biến cố nhất định. Trong hiện thực cụ thể, các thần linh của Hômerơ vẫn làm thành những hoạt động đa dạng, và nguyên nhân của các hoạt động ấy chỉ là những hứng thú và những biến cố của đời sống con người màn tính chất thoáng qua. Chính vì vậy, ngay cả khi họ hành động trong những điều kiện của một thực tế cụ thể, họ vẫn không biểu lộ tính nhất quán vững chắc ở trong các hành động đa dạng của mình. Chúng ta còn tìm thấy ở các thần Hy Lạp những nét độc đáo và những hành động độc đáo khác mà không phải bao giờ chúng ta cũng có thể quy về cái khái niệm chung của mỗi vị thần nhất định. Meccurơ chẳng hạn giết Acgút, Apôlông giết con long xà, Giupite có nhiều chuyện phiêu lưu tình ái và treo Giunôn vào một cái đe… Tất cả những chuyện này và nhiều chuyện khác nữa, đều là những thềm thắt đơn thuần, chúng được cấp cho các vị thần được khảo sát thoe khía cạnh tự nhiên của họ với ý nghĩa tượng trưng và ngụ ngôn và sau đây(28) chúng ta sẽ còn có dịp nêu lên chính xác hơn nguồn gốc của nó.


Kể ra, trong nghệ thuật hiện đại người ta cũng cố gắng miêu tả những sức mạnh nhất định và đồng thời phổ biến ở trong bản thân nó. Song phần lớn đó chỉ là những phúng dụ lạnh lùng không có nội dung (chẳng hạn sự căm ghét, ghen tuông, oán hận, những người đạo đức và những tật xấu nói chung, đức tin, hy vọng, tình yêu, lòng trung thành…), tóm lại, đó là những phúng dụ không được chúng ta tin, bởi vì ở trong cách miêu tả nghệ thuật chúng không gây ra cho ta một hứng thú thực sự sâu sắc. Do chỗ chúng ta không muốn nhìn những khái niệm trừu tượng này ở bản thân chúng mà chỉ nhìn với tính cách những yếu tố và những phương diện của tính cách con người, những hình tượng đặc thù và vẹn thuần của chúng. Các thiên thần cũng không có được cái vẻ khái quát, cũng như tính độc lập mà Macxơ, Vênut, Apôlông hay thần đại dương, Hêliốt đã có được. Mặc dầu các thiên thần cũng tồn tại với tính cách những biểu tượng, nhưng họ chỉ tồn tại như vậy với tính cách những tôi tớ của một bản chất thần linh duy nhất(29) và không bị phân chia ra thành những cá nhân độc lập giống như nhóm các vị thần Hy Lạp. Vì vậy, chúng ta không thấy đây là những sức mạnh khách quan dựa vào bản thân mình, mỗi cái tự nó có thể trở thành một đối tượng được miêu tả như những cá nhân có tính chất thần linh. Trái lại, chúng ta tìm thấy một nọi dung chủ yếu của sức mạnh này được biểu hiện hoặc một cách khách quan ở một thượng đế duy nhất, hoặc một cách chủ quan và riêng biệt trong những tính cách và những tình cảm của con người. Chính sự cá tính hóa này và sự phân chia thành những cá nhân độc lập là nguồn gốc của sự miêu tả lý tưởng các thần linh(30).


 


b. Các cá nhân hoạt động.


Trong việc biểu hiện các lí tưởng của các thần linh, như chúng ta đã khảo sát ở trên, ta dễ dàng duy trì tính chất lý tưởng mà nghệ thuật đòi hỏi. Song hễ nghệ thuật bước sang lĩnh vực hành động cụ thể thì sự miêu tả vấp phải một khó khăn độc đáo. Mặc dầu các sức mạnh chung, nói chung, và các vị thần nói riêng, là cội nguồn của các vận động và thúc đẩy, song trong thực tế họ không có cái hành động cá nhân riêng biệt, hành động này chỉ dành riêng cho con người. Do đó, chúng ta đứng trước hai dạng thức khác nhau. Một mặt, họ là những sức mạnh chung mà chúng ta đã khảo sát trong cái bản chất độc lập tự túc và vì vậy mà trừu tượng. Một mặt họ là những con người cá nhân suy nghĩ về những hành động của mình, chấp nhận quyết định cuối cùng và thực hiện các hành động ấy. Theo chân lí thì những sức mạnh vĩnh viễn thống trị và cố hữu đối với con người làm thành mặt bản chất của tính cách con người. Song bởi vì tính chất thần linh của chúng lại được quan niệm với tính cách thuộc những cá nhân và, do đo, là một cái gì loại trừ chúng, cho nên lập tức chúng ở trong cái quan hệ bên ngoài đối với chủ thể(31). Điều đó tạo ra ở đây một khó khăn chủ yếu bởi vì trong cái quan hệ như vậy giữa thần linh và con người vẫn chứa đựng một sự đối lập trực tiếp. Một mặt, nội dung của ý chí thần linh là thuộc về con người, đóng vai dục vọng cá nhân, quyết định của con người. Mặt khác, những phương diện, cái chủ thể đơn nhất quan niệm thần linh là tồn tại không những với tính cách những quyền lực độc lập đối với chủ thể mà còn qui định chủ thể và làm cho chủ thể vận động. Như vậy, những đặc tính như nhau được biểu hiện khi thì làm thành sự biểu hiện ở trong cái cá tính thần linh độc lập, khi thì làm thành cái bản chất quí báu nhất của con người. Do đó xuất hiện tính độc lập tự do của các thần, cũng như tính chất tự do của những cá nhân hoạt động. Nếu như chúng ta cấp cho các thần khả năng ra lệnh cho con người thì tính chất độc lập của con người cũng vì thế mà bị thiệt hại. Chúng tôi đã nói về điều đó với tính cách trình độ cao nhất của yêu cầu chủ yếu đối với yếu tố lí tưởng ở trong nghệ thuật. Chúng ta cũng bắt gặp điều khó khăn như vậy cả ở trong các biểu tượng tôn giáo và Thiên Chúa giáo. Chúng ta nói tinh thần của Thượng đế dẫn tới Thượng đế. Nhưng ở trong trường hợp này cái thế giới bên trong của con người có thể chỉ làm thành một cơ sở hoàn toàn bị động chịu ảnh hưởng tinh thần của các thần, và ý chí của con người không còn là tự do nữa bởi vì quyết định của thần linh ảnh hưởng tới ý chí con người. Đối với con người nó tỏ ra là một thứ số phận ở đấy con người không thể hành động theo ý chí của mình được.


Nếu như chúng ta hình dung quan hệ này giữa thần linh với con người như sau: con người hành động đối lập với thần linh ở bên ngoài như một cái gì chủ yếu thì mối quan hệ qua lại này giữa người với thần linh là hoàn toàn có tính chất văn xuôi. Thần linh ra lệnh và con người chỉ có cách vâng lợi mà thôi. chúng ta cũng bắt gặp mối quan hệ bên ngoài này giữa thần và người cả ở các nhà thơ vĩ đại. Ở Xôphôklơ chẳng hạn: Philôtết(32) sau khi đã vạch trần sự lừa dối của Ođitxê, vẫn kiên quyết giữ quyết định của mình không đến doanh trại của người Hy Lạp cho đến khi Hêraklet xuất hiện như một vị thần và ra lệnh cho ông phải làm theo ý muốn của Nêôptôlem.


Nội dung của hiện tượng này thực ra là có lý do đầy đủ và đáp ứng điều chúng ta mong đợi. Song bản thân sự diễn diễn biến của hành động vẫn là ở bên ngoài, không có tính chất hữu cơ và trong những bi kịch trác ruyệt nhất, Xôphôklơ không dùng phương thức biểu hiện này. Bởi vì nếu chúng ta đi thêm một bước nữa trên con đường này thì các thần sẽ biến thành những cái máy, chết cứng và các cá nhân, sẽ biến thành những công cụ đơn thuần của một ý chí ở bên ngoài họ.


Cũng tương tự như vậy, trong sử thi, chúng ta thấy các thând linh ảnh hưởng một cách có vẻ bên ngoài ý chí con người. Chẳng hạn Hécmét dẫn Priam tới Asin, Apôlông đâm Patơrốcklơ vào giữa hai vai và giết chàng. Cũng hệt như vậy các nét thần thoại thường cũng được sử dụng làm thế nào mà họ tồn tại ở bên ngoài các cá nhân. Chẳng hạn mẹ Asin nhúng chàng xuống sông Stic và làm cho chàng không thể bị thương trừ phi ở gót chân và không người nào có thể đánh thắng chàng. Nếu như chúng ta hình dung điều đó theo cái tư duy suy lý của chúng ta, thì ở đây không còn có chỗ để nói đến tinh thần anh dũng của Asin, và tất cả tính chất anh hùng của chàng từ chỗ là một nét mang tính chất tinh thần sẽ biến thành một đặc điểm thuần túy cơ thể. Một cách hình dung như vậy có thể áp dụng ở một trình độ lớn hơn nhiều ở trong sử thi so với kịch bởi vì ở trong sử thi phương diện đời sống bên trong vốn liên quan tới ý định của các anh hùng đã lùi xuống phía sau, nhường chỗ cho những biến cố bên ngoài và các biến cố này có một thao trường hành động rộng lớn hơn. sự suy nghĩ thuần túy lí tính đã nêu lên ở trên, trong khi cấp cho nhà thơ một ý nghĩ ngu xuẩn – dường như các anh hùng của nhà thơ không phải là những anh hùng – cần phải được biểu hiện một cách hết sức dè dặt. Bởi vì trong những nét như vậy – như chúng ta sau này sẽ thấy – mối quan hệ nên thơ giữa thần và người vẫn tồn tại. Song mối quan hệ này sẽ lập tức mang tính chất nôm na nếu như những sức mạnh, mà trong sử thi được miêu tả là độc lập, không có bản chất ở bản thân nó, mà chỉ làm thành một sáng tạo bên ngoài của hư cấu và là sự bịa đặt kỳ quặc của tính độc đáo giả dối.


(Còn tiếp).


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.


 


 


 








([1]) Yếu tố thần linh tuyệt đối: còn gọi là “lí tính tuyệt đối” tức là cái “thể duy nhất”, cái này phân hóa thành những mặt khác nhau, thành các “sức mạnh chung”, còn dịch là “sức mạnh phổ biến”, cho nên Hegel gọi “các sức mạnh chung” là “con đẻ của ý niệm tuyệt đối”. Thí dụ “lí tính tuyệt đối” (hay “yếu tố tinh thần tuyệt đối”) đẻ ra những sức mạnh chung như “gia đình, tổ quốc”. Nhưng tự thân các sức mạnh chung này vẫn chưa làm thành tính cách (caractères ). Muốn cho nó thành tính cách, nó phải rời bỏ tính chất “trừu tượng” rời bỏ “cái tồn tại tự nó và cho nó”, và nhập vào hai con người cụ thể, Hegel gọi là quá trình nhập thân của các sức mạnh chung. Nhưng như thế cũng chưa đủ. Quá trình nhập thân này phải thể hiện bằng “phân đôi” tức là có “mâu thuẫn” độc lập, phải thể hiện được “tình huống” (theo nghĩa của Hegel). Vì “tình huống” như Hegel thấy không phải im lìm mà thay đổi theo lịch sử mang cái gọi là “trạng thái chung của tôi” (ta gọi là tính thời đại) cho nên tính cách ở mỗi nghệ thuật một khác. Đó là quan niệm lịch sử về cái dẹp nghệ thuật được Hegel phát triển ở trong quyển II của Mĩ học và làm thành một cống hiến của tác giả.




([2]) Enst I.A. Hoffmann (1776-1882) nhà soạn nhạc, nhà văn phái lãng mạn suy đồi ở Đức hay viết chuyện quái đản.




([3])Tức là của những sự vật khách quan cá biệt.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »