tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24748208
Lý luận phê bình văn học
07.10.2018
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (22)

Tác phẩm Mỹ học Hegel đã post từ tháng 10-2008, nay update!


Khi bước sang việc đánh giá chi tiết hơn sự xung đột này, chúng ta cần phải nêu lên những mặt sau đây của nó.


Thứ nhất, cá nhân phải có những phẩm chất tinh thần đặc biệt khiến người ta thấy anh ta đã thực sự vượt qua cái hàng rào tự nhiên và quyền lực của tự nhiên bắt buộc phải nhường chỗ cho những ý muốn và những mục đích của anh ta. Nếu không thế thì những yêu cầu của anh ta sẽ trở thành một điều nhu xuẩn. Chẳng hạn, khi một người dầy tớ chỉ có năng lực và trình độ văn hóa của một anh đầy tớ chỉ có năng lực và trình độ văn hóa của một anh đầy tớ, lại yêu một cô công chúa hay ngược lại, khi một cô công chúa yêu anh đầy tớ của mình thì một cốt truyện như vậy chỉ có thể là ngu xuẩn và vô vị mặc dầu khi miêu tả dục vọng người này người ta có phơi bày trước mắt chúng ta cái tình cảm sâu sắc và lôi cuốn mọi người của một con tim nồng nhiệt. Điều chia cách họ thực sự không phải là nguồn gốc xuất thân khác nhau mà đó là toàn bộ những hứng thú cao quí, một nền học vấn rộng rãi, những mục đích của cuộc đời, những đòi hỏi và những tình cảm chia tách người đàn bà thuộc môi trường cao hơn về giai cấp, địa vị và tầng lớp trong đó cô ta sống so với người đầy tớ. Một sự lôi cuốn của cảm quan nếu như nó không đóng vai một sợi dây liên hệ duy nhất và nó không thu hút vào bản thân mình tất cả những gì mà con người cần phải trải qua, phù hợp với tinh thần và những điều kiện sống của tầng lớp mình. Muốn trở thành toàn vẹn, tình yêu cần phải gắn liền với tất cả cái nội dung còn lại của ý thức với những tình cảm và những hứng thú cao thượng.


Trường hợp thứ hai của loại xung đột này là ở chỗ: tính tinh thần tự do ở bản thân nó và các đòi hỏi chính đáng của tinh thần bị nguồn gốc xuất thân ở trong một giai cấp nào đấy kìm hãm hay trói buộc sự phát triển. Và xung đột này chứa đựng ở nó một cái gì phản mĩ học đối lập lại khái niệm về lí tưởng dù cho nó vẫn được người ta thích nói đến và dù cho người ta hay dùng đến nó. Thực vậy, nếu như những sự khác nhau về nguồn gốc xuất thân đã trở thành một bất công, được xác lập một cách vững chắc do những đạo luật (chẳng hạn nguồn gốc xuất thân của những người Paria ở Ấn Độ, của những người Do Thái…), thì một mặt, con người nghe theo tiếng nói của quyền tự do bên trong, sẽ chống lại sự cản trở này và cho rằng mình có quyền không thừa nhận nó và việc đấu tranh chống lại nó sẽ thành cái quyền lợi tuyệt đối của anh ta. Nhưng khi do sức mạnh của những điều kiện đang tồn tại, những hàng rào như vậy là không thể nào gạt bỏ được và được củng cố bằng cách trở thành một sự tất yếu không thể khắc phục nổi thì cuộc đấu tranh này chỉ có thể làm nảy sinh một tình huống bất hạnh và sai lầm ở bản thân nó.


Bởi vì con người có lí tính đành phải phục tùng sự tất yếu, anh ta không nên phản ứng chống lại sự tất yếu mà phải thản nhiên chịu đựng sự tất yếu. Anh ta cần phải từ bỏ những quyền lợi và những đòi hỏi dẫu sao cũng không thể nào thực hiện được vì cái cản trở này mà phải chịu đựng tình trạng đã đành là thế với một thái độ dũng cảm trầm lặng, của sự chịu đựng và tính kiên nhẫn. Ở nơi nào cuộc đấu tranh là vô ích, thì ở đấy đều hợp lí nhất là tránh đấu tranh để ít nhất còn giữ được cái khả năng rút lui vào tính chất độc lập cuối cùng, vào tính chất độc lập về mặt hình thức của tự do chủ thể. Lúc bấy giờ, sức mạnh của sự bất công sẽ không có ảnh hưởng tới anh ta nữa. Trái lại, nếu anh ta chống đối lại thì anh ta sẽ nhận thức được tất cả tình trạng lệ thuộc to lớn của mình. Song sự trừu tượng hóa này của một tính độc lập thuần túy hình thức, cũng như một cuộc đấu tranh không có kết quả chống lại một cản trở không thể khắc phục được đều không phải là thực sự đẹp đẽ.


Trường hợp thứ ba của cung đột – cái gắn liền trực tiếp với trường hợp thứ hai, cũng cách xa lí tưởng chân chính. Nó tóm lại ở chỗ những con người nhờ nguồn gốc xuất thân có được những đặc quyền do các đạo luật tích cực của nhà nước, do các lời dạy bảo của tôn giáo, do các điều kiện xã hội qui định, muốn bênh vực và thực hiện những đặc quyền ấy. Mặc dầu ở trong cái hiện thực tích cực bên ngoài các cá nhân vẫn độc lập đấy, nhưng tính chất độc lập lại trở thành một cái gig tự do là bất công và không hợp lí và vì vậy nó là một tính độc lập giả dối, thuần túy hình thức bởi vì khái niệm lí tưởng ở đây đã biến mất. Kể ra, bởi vì tính chủ thể đi song song và thống nhất vững chắc với cái làm thành cái chung đã được pháp luật xác lập, cho nên dường như ta có thể giải thích rằng lí tưởng vẫn được duy trì. Song mặt khác, sức mạnh và quyền lực của cái chung ở đây bắt rễ không phải trong một cá nhân nhất định như điều lí tưởng anh hùng đòi hỏi, mà lại bắt nguồn ở cái uy tín đã được công chúng thừa nhận của các pháp luật tích cực và của việc áp dụng các pháp luật ấy. Mặt khác, vì ở đây cá nhân chỉ bênh vực cái bất công, như chúng ta thấy nên anh ta còn thiếu tính bản chất nằm ở trong khái niệm lí tưởng. Việc làm của một chủ thể lí tưởng tự bản thân nó cần phải là chân chính và hợp lí.


Thuộc vào loại đặc quyền này, chẳng hạn, có quyền tự do chiếm nô lệ, quyền làm chủ các nông nô, quyền tước tự do của những người xa lạ hay dâng họ làm vật hiến tế cho các thần linh…các cá nhân riêng lẻ có thể thực hiện những qui định này một cách thành tâm, bởi vì họ tin chắc rằng họ hành động theo quyền lợi của họ. Chẳng hạn, các đẳng cấp cao của Ấn Độ sử dụng đặc quyền của mình hay Thêet khi ra lệnh dâng Orextơ làm vật hiến tế cho thần linh, hay các địa chủ ở Nga tác uy tác phúc đối với nông nô, là những trường hợp như vậy. Người ta thậm chí thấy những người đứng đầu quốc gia muốn biến các đặc quyền này thành pháp luật, bởi vì họ có lợi trong việc thực hiện những điều ấy. Nhưng trong trường hợp này, quyền lợi của họ chỉ là một quyền lợi dã man, không chính đáng, và bản thân họ ít nhất đối với chúng ta là những người dã man bởi vì họ xác lập và thực hiện một cách tự bản thân nó là bất công. Tính chất hợp pháp mà chủ thể dựa vào trong những trường hợp này chỉ có thể được thừa nhận và được bào chữa đối với thời đại của nó, nếu như ta xuất phát từ tinh thần và từ trình độ văn hóa của thời đại này. Nhưng đối với chúng ta đó chỉ là một sự kiện của tình hình đương thời nên không có giá trị và sức mạnh. Còn nếu như cá nhân được hưởng đặc quyền sử dụng quyền lợi của mình lại chỉ nhằm đạt tới  những mục đích riêng, nếu như y hành động vâng theo dục vọng cá nhân và những tính toán ích kỉ thì không những chúng ta đứng trước một con người dã man mà còn đứng trước một tính cách xấu.


Người ta thường cố gắng dùng những xung đột như vậy để gây nên sự thương cảm và sự sợ hãi phù hợp với cái qui tắc Arixtốt đã nêu lên nhằm khẳng định rằng mục đích của bi kịch là thức tỉnh ở người xem tình cảm sợ hãi và thương xót. Nhưng thực ra, chúng ta không cảm thâysowj hĩa và tôn kính trước những quyền lợi do tình trạng dã man và những điều kiện sống nặng nề của thời cổ đại đã sản sinh ra. Trái lại, sự thương cảm mà chúng ta có thể cảm thấy lập tức sẽ biến thành phẫn nộ và chán ghét.


Lối thoát duy nhất chân chính để thoát khỏi một xung đột như vậy chỉ có thể tóm lại ở chỗ mỗi quyền lợi giã dối như vậy sẽ chấm dứt sự tồn tại cảu nó như điều chúng ta cảm thấy chẳng hạn trong các bi kịch trong đó Iphigiêni ở Aulit và Orextơ ở Taurit đều không bị dâng làm vật hiến tế.


(cc) Hình thức xung đột cuối cùng xuất phát từ những yếu tố tự nhiên và tính cách. Với tính cách thí dụ, chúng tôi nêu lên lòng ghen tuông của Ôtenlô, lòng ham quyền lực, tính hà tiện và một phần tự nhiên khi các cá nhân bị lôi cuốn và bị thống trị bởi sức mạnh tuyệt đối của tình cảm mình, chống lại cái thực sự đạo đức ở mình và cái chính đáng ở trong đời sống con người và vì thế họ rơi vào một xung đột sâu sắc hơn.


Điều này dẫn chúng ta tới loại xung đột thứ ba. Loại này bắt nguồn từ những sức mạnh tinh thần và từ sự khác nhau giữa chúng bởi vì tình trạng đối lập này là do hành động của bản thân con người gây nên.


Khi nói về xung đột này sinh do những yếu tố thuần túy tự nhiên, chúng ta đã lưu ý tới chỗ chúng chỉ làm thành điểm xuất phát của những sự đối lập còn sâu sắc hơn nữa. Điều này áp dụng ít nhiều đúng đắn cho những cuộc xung đột thuộc về những mâu thuẫn thuộc loại thứ hai mà chúng ta khảo sát. Những xung đột này không dừng lại ở trong sự va chạm đã nêu lên trên đây. Trong những tác phẩm có tính sâu sắc hơn, những cản trở và những sự đối lập như vậy chỉ làm thành lí do khiến cho những sức sống tinh thần tự nó và vì nó bộc lộ sự khác nhau của mình và đấu tranh với nhau. Nhưng chỉ có tinh thần mới có thể do tinh thần thực hiện và những sự khác nhau về tinh thần cần phải trở thành hiện thực thông qua hành động của con người để có được khả năng xuất hiện ở trong hình tượng chân thực.


Bấy giờ chúng ta đứng trước, một mặt là một khó khăn, một cản trở, một sự vi phạm xuất phát từ một hành động hiện thực của con người; mặt khác ta đứng trước một sự vi phạm chống lại những quyền lợi và những sức mạnh bản thân là chính đáng. Chỉ có sự hợp nhất hai đặc tính kết hợp với nhau mới làm thành và nói lên hết trình độ sâu sắc của kiểu xung đột cuối cùng này. Ta có thể phân loại những trường hợp chủ yếu của phạm vi xung đột này như sau.


(aa) Khi chúng ta vừa mới bắt đầu đi ra khỏi phạm vi những xung đột dựa trên một cơ sở tự nhiên, thì trường hợp gần nhất của những xung đột thuộc loại này là gắn liền với cái phạm vi này. Nếu như xung đột cần phải căn cứ vào hành động của con người, thì yếu tố tự nhiên do con người thực hiện (không phải với tính cách một tồn tại tinh thần) chỉ có thể tóm lại ở chỗ con người hành động không tự giác, không có ý thức một hành vi mà sau này anh ta mới hiểu là vi phạm những sức mạnh đạo đức mà anh ta có nhiệm vụ tôn kính. Sự nhận thức hành vi của mình, một sự nhận thức mà mãi sau này anh ta đã làm một cách không tự giác, là một hành động xuất phát từ chính mình làm cho anh ta mâu thuẫn và xung đột với chính mình. Cơ sở của xung đột ở đây là sự va chạm giữa ý thức và cái ý định trong khi làm thành hành động, với nhận thức sau đây về chỗ hành động này ở bản thân nó là cái gì. Ơđíp và Agiắc đối với chúng ta là những thí dụ. Hành vi của Ơđíp, như chàng muốn và chàng biết, tóm lại là trong một cuộc đánh lộn chàng đã giết một con người xa lạ đối với mình. Nhưng điều mà chàng không biết, tức là hành động giết cha của mình là hành động hiện thực ở bản thân nó và vì nó. Agiắc([1]) trong cơn điên giết chết đoàn cừu của người Hy Lạp tưởng rằng đó chính là những người lãnh tụ Hy Lạp. Khi chàng đã tỉnh ngộ, nhìn lại việc làm của mình, chàng cảm thấy xấu hổ về hành động của mình và điều xấu hổ này làm cho chàng xung đột với chính mình. Những điều thiệt hại mà con người gây ra một cách không cố ý, về thực chất, theo lí trí của chàng được chàng kính trọng và xem là thiêng liêng. Nếu như việc thờ phụng và tôn kính này chẳng qua chỉ là một ý kiến, một thành kiến sai lầm thì đối với chúng ta những xung đột như vậy không còn có thể gây hứng thú gì hết.


(bb) Bởi vì trong phạm vi này mà bây giờ chúng ta khảo sát, xung đột cần phải làm thành một sự vi phạm có tính chất tinh thần chống lại những sức mạnh tinh thần thông qua hành động của con người. Cho nên loại xung đột thích hợp với nó hơn đó là sự vi phạm tự giác xuất phát từ nhận thức này và từ ý định. Và ở đây điểm xuất phát có thể là dục vọng bạo lực, sự ngu dốt… Chiến tranh Troa, chẳng hạn, bắt nguồn từ việc bắt cóc Hêlen. Sau đó Agamemnôn dâng Iphigiêni làm vật hiến tế, và do đó, làm xúc phạm mẹ nàng vì Agamemnôn đã giết đứa con yêu quí nhất của bà. Klitemnet trả thù việc đó bằng cách ám sát chồng. Cũng vậy, trong Hamlet người cha của Hamlét bị giết một cách hiểm độc nhưng mẹ của Hamlet lại bôi nhọ linh hồn người chết bằng cách vội vã kết hôn với tên sát nhân.


Nét chủ yếu của những sự xung đột này là ở chỗ: con người đấu tranh với chính mình trong khi chống lại đạo đức, chân lí, cái thiêng liêng. Nếu như không phải như vậy thì đối với chúng ta có ý thức về cái thực sự đạo đức và cái thực sự thiêng liêng, một cuộc xung đột như cuộc xung đột ở trong đoạn nổi tiếng của Mahabharata([2]) gọi là “Nalát và Đamayanti” sẽ không có hứng thú chủ yếu nào hết. Huanalat đã lấy được cô gái thuộc giòng dõi vua chúa là Đamayanti. Nàng có được đặc quyền chọn người chồng của mình trong trong số những người cầu hôn với nàng. Các người cầu hôn khác đứng trên không như những vị thần, trong lúc đó Nalat một mình đứng dưới đất. Nàng có một óc thưởng thức khá tốt là chọn một người trần. Các vị thần nỗi giận rình Nalát. Trong nhiều năm họ không thể có gì chống lại Nalat cả bởi vì trong thời gian ấy Nalat không là điều gì sai lầm. Cuối cùng, họ đã có được quyền lực bắt chàng phải phục tùng mình bởi vì chàng đã phạm tội lỗi này: Sau khi đi tiểu chàng đã dẫm chân lên miếng đất ướt đẫm nước đái của mình. Theo các quan niệm Ấn Độ đây là một tội lỗi nặng không thể không bị trừng phạt. Từ giờ phút ấy, Nalat phục tùng quyền lực của các thần. Một vị thần làm cho chàng say mê hát xướng, một vị thần khác xui giục chàng chống lại người anh em của chàng, và Nalat cuối cùng sau khi bỏ mất ngai vàng và rơi vào cảnh nghèo khổ, và cùng Đamayanti đến những nơi xa lạ. Cuối cùng chàng bắt buộc phải chia tay với nàng, nhưng sau nhiều cuộc phiêu lưu, chàng lại tìm được cái hạn phúc ngày xưa. Cuộc xung đột chính mà tất cả câu chuyện quay xung quanh lại là một cái gì mà chỉ có người Ấn Độ cổ đại mới xem là một sự vi phạm chủ yếu điều thiêng liêng nhưng đối với ý thức chúng ta thì đó chỉ là điều ngu xuẩn.


(cc) Thứ ba, sự vi phạm không phải là trực tiếp tức là hành động tự bản thân nó không bị xem là chứa đựng xung đột. Nó chỉ trở thành xung đột do những hoàn cảnh và những điều kiện ta biết được, trong đó nó được thực hiện, những hoàn cảnh này lại mâu thuẫn với hành động và các nhân vật đều biết hoàn cảnh này. Giuliét và Rômêô chẳng hạn, rất yêu nhau. Tình yêu, xét ở bản thân nó, không phải là một sự vi phạm gì hết nhưng họ biết rằng hai gia đình là thù địch với nhau và căm ghét nhau, hai bên cha mẹ sẽ không bao giờ đồng ý chấp nhận cuộc hôn nhân và như vậy họ gặp phải sự xung đột do sự chia rẽ mà họ đã biết từ trước.


Chúng ta có thể hài lòng về những nhận xét chung nhất về mộ tình huống nhất định ở trong sự đối lập của nó với tình trạng chung của thế giới. Nếu như chúng ta muốn xét vấn đề ở tất cả các mặt, muốn chú ý tới tất cả các sắc thái của nó và khảo sát tất cả các tình huống có thể có của nó, thì chỉ riêng vấn đề này thôi cũng sẽ đòi hỏi chúng ta phải giải thích vô tận. Bởi vì sáng tạo nghệ thuật với những tình huống khác nhau chứa đựng ở nó một sự phong phú vô tận những khả năng và trong từng trường hợp riêng biệt về thực chất là xét đến cách thích nhi một tình huống nhất định vào một hình thức nghệ thuật nhất định. Chẳng hạn, chuyện cổ tích có thể chấp nhận nhiều cái mà một phương thức miêu tả nghệ thuật không được phép làm. Nói chung, sự sáng tạo tình huống là một nhân tố quan trọng thường đã làm cho các nghệ sĩ rất vất vả. Đặc biệt ở thời đại chúng ta thường nghe những lời than phiền về chỗ khó tìm cái tài liệu thích hợp, ở đây có thể vay mượn những hoàn cảnh và những tình huống cần thiết. Mới thoạt nhìn, ta có thể tưởng chừng với mọt nghệ sĩ biểu lộ tính độc đáo về mặt này bằng cách tự mình sáng tạo ra những tình huống cần thiết sẽ là thích hợp hơn. song hình thức của tính độc đáo này không phải là một cái gì chủ yếu đối với nghệ sĩ. Sở dĩ thế là vì tự thân tình huống vẫn không phải là một yếu tố tinh thần, một hình tượng nghệ thuật thực sự, mà chỉ là cái yếu tố ở đó và gắn liền với nó ta cần phải phát hiện và thể hiện tính cách và tâm hồn. Hoạt động nghệ thuật thực sự là ở chỗ chỉnh lí tài liệu do tình huống bên ngoài cung cấp để tạo nên những hành động và những tính cách.


Vì vậy, ta không nên biết ơn nhà thơ về điểm chính anh ta đã thực hiện được cái mặt không nên thơ của sự việc; trái lại, anh ta phải được phép tìm lần này lượt khác ở trong cái tài liệu đã có sẵn, trong lịch sử, truyền thuyết, thần thoại, biên niên sử, thậm chí trong những tài liệu và những tình huống đã được xây dựng một cách nghệ thuật. Chẳng hạn, ở trong hội họa, mặt bên ngoài của tình huống là vay mượn ở đời sống các thánh và thường được lặp lại một cách như nhau. Ở trong những miêu tả này, sáng tác nghệ thuật thực sự sâu sắc hơn nhiều so với việc tìm tòi những tình huống nhất định.


Người ta cũng không thể nói như vậy về sự phong phú của những tình trạng và những tình tiết diễn ra trước mắt chúng ta. Về mặt này nhiều khi người ta đã ca ngợi nghệ thuật cận đại về điểm khác nghệ thuật cổ đại, nó biểu lộ một trí tưởng tượng dồi dào hơn nhiều. Thực vậy, trong các tác phẩm nghệ thuật thời trung cổ và thời cận đại, chúng ta tìm thấy một trình độ đa dạng hết sức to lớn về tình huống, biến cố và số phận thay thế nhau. Nhưng mặc dầu tình trạng giàu có bên ngoài này, chúng ta vẫn chỉ có một số ít những vở kịch và những tác phẩm sử thi ưu tú. Bởi vì nhiệm vụ nghệ thuật không phải là ở sự diễn biến bên ngoài và sự thay thế nhau của các biến cố. Những cái này với tính cách những biến cố và lịch sử không nói lên được hết nội dung tác phẩm nghệ thuật. Nhiệm vụ của nghệ thuật là ở sự biểu hiện về đạo đức và tinh thần và những vận động to lớn của tinh thần và của tính cách là những cái biểu hiện qua quá trình hoán cải này.


Nếu như bây giờ nhìn điểm xuất phát từ đó chúng ta sẽ đi xa hơn nữa, chúng ta sẽ thấy rằng một mặt, các hoàn cảnh nhất định ở bên ngoài và ở bên trong, các trạng thái và các quan hệ chỉ biến thành tình huống qua cảm nghĩ tâm hồn, qua dục vọng là cái tác động tới các hoàn cảnh này và được duy trì trong hoàn cảnh này. Mặt khác, như chúng ta đã thấy ở trên, các tình huống sai biệt hóa thành những đặc tính của nó, bằng cách tạo nên những đối lập, những cản trở, những điều rắc rối và những sự vi phạm. Kết quả là tân hồn cảm thấy mình bị các hoàn cảnh này thúc đẩy nhất thiết phải hành động để xoá bỏ những ngăn cản và những trở ngại cản trở các mục đích và các dục vọng của nó. Theo ý nghĩa này, hành động thực sự chỉ bắt đầu khi sự đối lập nằm ở trong tình huống đã bộc lộ. Bởi vì hành động vốn mang ở nó sự xung đột, nên nó vi phạm tới mặt đối lập mà nó tấn công. Kết quả là tác động tỏ ra gắn liền trực tiếp với cái đối lập lại là phản tác động.


Do đó, lí tưởng lần đầu tiên trở thành hoàn toàn cụ thể và vận động, bởi vì từ nay hai quyền lợi từ trước đến nay vẫn sống hài hòa bây giờ đối lập lại nhau ở trong tình trạng đấu tranh và mâu thuẫn với nhau thế nào cũng đòi hỏi một cách giải quyết.


Sự vận động này xét một cách toàn bộ không còn thuộc lĩnh vực của tình huống và của các xung đột của nó, mà dẫn ta đến cái mà ở trên chúng ta gọi là hành động theo nghĩa đen.


 


Hành động.


 


Hành động làm thành bước thứ ba theo cái thứ tự từ dưới lên mà từ trước đến nay chúng ta đã khảo sát. Bước thứ nhất là tình trạng chung của thế giới và bước thứ hai là một tình huống nhất định.


Ở trên, khi khảo sát mối quan hệ bên ngoài giữa hành động với cái bước đi của nó, chúng ta đã nhận thấy rằng hành động đòi hỏi phải có những trường hợp dẫn tới xung đột, tới tác động và phản tác động. Không thể nào xác định cụ thể rằng hành động phải bắt đầu ở điểm nào trong các tiền đề này. Bởi vì cái ta nhìn ở một phía khác lại tỏ ra là kết quả của những tình tiết đã xẩy ra từ trước và những tình tiết ấy trong trường hợp này dường như làm thành một yếu tố khởi thủy. Những điều này, đến lượt nó, lại chỉ là kết quả của những xung đột trước đây… Chúng tôi xin dẫn một thí dụ. Iphigiêni trong gia đình Agamemnôn đã chuộc lỗi về những tội lỗi của gia đình mình ở Taurit và chấm dứt những tai họa của nó. Nhưng ở đây, chuyện nữ thần Đian đã cứu Iphigiêni và đưa nàng tới Taurit có thể xem là khởi thủy. Nhưng trường hợp này chỉ là hậu quả của những biến cố trước đây, cụ thể là việc dâng Iphigiêni làm vật hiến tế ở Aulít, việc này đến lượt nó lại bị qui định bởi điều lăng nhục Mênêlat phải chịu do chỗ Parit đã quyến rũ nàng Hêlen… và cứ như thế mãi cho đến khi chúng ta đi đến quả trứng nổi tiếng của Lêđa. Cũng vậy, chủ đề bàn đến ở trong Iphigiêni ở Taurítlà xuất phát từ việc giết Agamemnôn và tất cả các tội ác ở trong gia đình Tăngtan. Về liên hoàn các truyền thuyết Thebơ vấn đề cũng như vậy. Nếu như chúng ta muốn miêu tả hành động này với tất cả các tiền đề của nó thì chỉ có thơ mới giải quyết được nhiệm vụ này mà thôi. Song khi làm thế thì kết quả thơ cũng sẽ làm chán ngấy bởi vì người ta thường vânx cho rằng độc quyền của chi tiết trong việc trình bày các biến cố là dành riêng cho văn xuôi, trái lại người ta yêu cầu thơ phải đưa người nghe lập tức vào giữa sự tình (in medias res). Nghệ thuật không cố gắng xuất phát từ một biến cố làm thành yếu tố đầu tiên bên ngoài của một hành động nhất định và sở dĩ thế là vì cái nguồn gốc đầu tiên này chỉ là nguồn gốc đối với sự diễn biến tự nhiên của các biến cố mà thôi. Mối liên hệ của hành động với yếu tố bắt đầu này chỉ liên quan tới một tính thống nhất có tính chất kinh nghiệm của hiện tượng; trái lại đối với cái nội dung thực sự của bản thân hành động, thì nó có thể không liên quan gì hết.


Sự thống nhất này ở bên ngoài vẫn là có tính chất bên ngoài, cả trong trường hợp nếu như sợi dây nối liền các biến cố khác nhau chỉ là ở điểm các biến cố này đều diễn ra trong một cá nhân duy nhất. Toàn bộ các hoàn cảnh sống, các hành động, các bộ phận, mọi cái đó hiển nhiên làm thành những yếu tố tạo nên cá nhân. Nhưng cái bản chất đặc thù của cá nhân, hạt nhân thực sự của tính khí và khả năng của cá nhân lại tỏ ra không liên quan với chúng khi y đứng trước một tình huống to lớn duy nhất hay đứng trước một hành động to lớn. Trong quá trình này, hành động bộc lộ cái tiêu biểu cho nó, trong lúc đó chúng ta chỉ biết cá nhân căn cứ vào tên gọi và hình thức bên ngoài của y mà thôi. vì vậy ta không nên tìm khởi điểm có tính chất kinh nghiệm. Chỉ nên nắm những hoàn cảnh nào đó làm cho tâm hồn cá nhân bị lay động, bộc lộ các đòi hỏi của y và làm nảy sinh sự xung đột cụ thể mà việc giải quyết làm thành hành động riêng của tác phẩm nghệ thuật này. Chẳng hạn Hômerơ trong  “Iliát” bắt đầu bằng nỗi căm giận của Asin là cái làm thành chủ đề của tập trường ca. Ông không tìm những biến cố trước đây hay lịch sử cuộc đời Asin; trái lại lập tức đưa chúng ta vào một cuộc xung đột cụ thể, miêu tả nó bằng cách khiến cho những hứng thú vĩ đại xuất hiện làm thành bối cảnh của bức tranh. Sự miêu tả hành động như một vận động duy nhất chứa đựng tác động và phản tác động cũng như sự giải quyết cuộc đấu tranh của chúng làm thành đối tượng chủ yếu của thơ, bởi vì các nghệ thuật khác chỉ có thể ghi được một vài giây phút trong sự phát triển của hành động mà thôi. Thực vậy, các nghệ thuật khác, do chỗ có những phương tiện phong phú đã vượt cả thơ về mặt này, bởi vì những phương tiện này không những biểu hiện được hình thức bên ngoài của con người, mà còn thể hiện được cử chỉ, và thái độ đối với các hình tượng bao quanh cũng như của các sự vật ở xung quanh cá nhân. Song về mặt võ đoán, rõ ràng các phương tiện biểu hiện này không thể so sánh với ngôn ngữ được. Hành động là cách tốt nhất để bộc lộ con người, bộc lộ cả tâm trạng của y cũng như các mục đích này của y. Điều mà con người nhận thấy ở trong cở sở sâu thẳm nhất của mình chỉ biểu lộ bằng hành động mà thôi, và bởi vì hành động có nguồn gốc tinh thần cho nên nó chỉ được biểu hiện rõ ràng nhất và minh xác nhất ở trong cái biểu hiện có tính chất tinh thần, tức là ở trong ngôn ngữ.


Thường thường, khi nói đến hành động thì người ta, hình dung rằng các hành động là vô cùng đa dạng. Song thực ra phạm vi các hành động về tính chất của nó thể hiện được bằng nghệ thuật, nói chung, bao giờ cũng hạn chế, bởi vì nghệ thuật chỉ lo thể hiện những hành động mà ý niệm qui định. Về mặt này, chúng ta cần phân biệt ở trong các hành động được nghệ thuật miêu tả, ba yếu tố chủ yếu sau đây: Tình huống và xung đột nằm ở trong tình huống làm thành một sự kích thích chung. Nhưng phải thông qua phản tác động thì bản thân sự vận động (sự khu biệt hóa của lí tưởng ở trong quá trình hoạt động) mới xuất hiện. Sự vận động này bao gồm ba điểm:


Thứ nhất, những sức mạnh phổ biến làm thành nội dung chủ yếu và cái mục đích khiến cho hành động diễn ra.


Thứ hai, biểu hiện tích cực những sức mạnh này thông qua những cá nhân hoạt động.


Thứ ba, cả hai mặt này cần phải kết hợp với nhau và làm thành cái mà ở đây chúng ta sẽ gọi là tính cách.


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.







([1]) Sau khi Achille chết, giáp trụ của chàng là dành cho vị tướng nào anh hùng nhất, Agiắc và Odyssée được chọn để nhận. Odyssée nhờ mưu mô đã lấy được. Agiắc hóa điên thấy đoàn cừu tưởng là người Hy Lạp nên




([2])Bộ sử thi cổ đại nổi tiếng của Ấn Độ.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người Nga Nghĩ và Viết lịch sử Văn học - Lã Nguyên 18.11.2018
Thơ thời Hồng Đức, những đóng góp văn hoá - Nguyễn Thanh Tú 14.11.2018
Nguyễn Du từ “một ai đó” đến “không ai cả” - Đỗ Lai Thúy 09.11.2018
Du Tử Lê: Nguyễn Ngọc Tư, hiện tượng tiêu biểu của 40 năm văn xuôi Việt - Du Tử Lê 09.11.2018
Cái nghèo trong muôn hình vạn trạng bi kịch - Tần Tần 09.11.2018
Liệu có thể xem Phan Khôi (1887-1959) như một tác gia văn học quốc ngữ Nam Bộ? - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Vài ý nghĩ nhân một hội thảo về Tố Hữu - Lại Nguyên Ân 07.11.2018
Tiểu thuyết Trở lại cố hương của Thomas Hardy - Nguyễn Thành Nhân 06.11.2018
Vũ điệu [Ký hiệu] của phượng hoàng - Phượng Hoàng 06.11.2018
Tiểu thuyết Nguyên Hồng từ cái nhìn đương đại - Bùi Việt Thắng 05.11.2018
xem thêm »