tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950186
Lý luận phê bình văn học
13.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (20)

Tính chất nôm na của thời hiện đại


Nếu như bây giờ chúng ta nhìn tình trạng thế giới hiện nay với các điều kiện phát triển của nó về pháp luật, luân lí và chính trị thì chúng ta phải nhận thấy rằng trong khuôn khổ hiện thực của thời đại chúng ta, việc xây dựng những hình ảnh lí tưởng là hết sức hạn chế. Các môi trường trong đó còn có thể có bức tranh tự do đối với những quyết định độc lập của các cá nhân riêng lẻ là hết sức hạn chế. Về mặt này, tài liệu chủ yếu đối với các tác phẩm hiện đại là đạo đức gia đình và trật tự nhà nước, những lí tưởng của những người chồng trung thực và những người vợ hiền bởi vì những mong muốn và những hành động của họ không vượt ra khỏi phạm vi những lĩnh vực trong đó con người còn hành động một cách tự do với tính cách một chủ thể cá nhân nghĩa là anh ta như thế nào thì anh ta xuất hiện như thế, theo ý muốn cá nhân mình và làm những điều anh ta muốn làm.


Song các lí tưởng này vẫn thiếu một nội dung sâu sắc hơn thành ra mặt chủ thể của tâm trạng vẫn là điều quan trọng nhất. Bởi vì nội dung đã bị qui định bởi những quan hệ đã tồn tại một cách vững chắc, cho nên điều thú vị vẫn là tính chất nó biểu hiện ở trong các cá nhân trong tính chủ thể bên trong, đạo đức của họ… Trái lại, nếu ngày nay ta muốn kêu lên các quan tòa hay các vua chúa chẳng hạn làm lí tưởng của một thời đại thì ta sẽ không thích hợp. Nếu một người nào đó thuộc ngành tòa án cư xử và hành động theo đúng nhiệm vụ và trách nhiệm đòi hỏi thì ở đây anh ta chỉ thi hành một chức trách nhất định, phù hợp với cái trật tự đã được pháp luật qui định. Hiện tượng các công chức của nhà nước đưa thêm trách nhiệm của mình vào cái pan của cá tính mình chẳng hạn cách ăn nói dịu dàng, cách xét xử sắc sảo… không làm thành cái chính, không phải một nội dung có tính chất, mà chỉ làm thành một yếu tố bàng quan và thứ yếu.


Các ông vua trong thời đại chúng ta, không còn làm thành cái đỉnh cao cụ thể như các anh hùng của thời thần thoại mà chỉ là một trung tâm tương đối trừu tượng ở trong những thể chế đã được xác lập vững chắc và đã được pháp luật và hiến pháp bênh vực. Các ông vua ở thời đại chúng ta đã bỏ mất quyền quyết định những công việc quan trọng nhất. Họ không cầm đầu việc xét xử; tài chính, trật tự dân sự và tính an toàn của nhân dân không còn làm thành công việc riêng của họ nữa mà bị qui định bởi những điều kiện chung của chính trị và bởi mối liên hệ với các nước khác, những cái này không còn thuộc vào sự lãnh đạo của cá nhân họ, vào trách nhiệm của họ. Và nếu như trong tất cả các công việc quốc gia này, họ có quyền quyết định cao nhất thì cuối cùng nội dung thực sự của cái quyết định này, nói chung, vẫn không lệ thuộc vào ý chí cá nhân của họ, bởi vì trước đó bản thân nội dung đã được quyết định rồi. Như vậy cái đỉnh cao nhất của nhà nước, ý chí chủ quan của nhà vua đối với cái chung và sự nghiệp chung chỉ có tính chất thuần túy hình thức mà thôi.


Cũng vậy, một viên tướng và một viên chỉ huy ngày nay cũng thế. Họ có một quyền lực to lớn vì người ta trao cho họ những mục đích và những quyền lợi quan trọng nhất, và kết quả của những sự việc quan trọng là lệ thuộc vào thái độ biết nhìn xa, tinh thần dũng cảm, tinh thần kiên quyết, trí tuệ của họ, song những nét cá biệt cá nhân của tính cách chủ quan của họ đóng một vai trò rất nhỏ bé. Một mặt, các mục đích được nêu lên cho họ từ trước và không xuất phát từ cá tính của họ mà từ những quan hệ và những hoàn cảnh ở ngoài quyền lực của họ. Mặt khác, không phải chính họ tạo ra biện pháp để thực hiện những mục đích này; trái lại chúng được cấp cho họ từ bên ngoài bởi vì chúng không phục tùng cá nhân họ mà nằm ngoài ảnh hưởng tài năng quân sự của họ.


Như vậy, trong tình trạng thế giới ngày nay, chủ thể có thể hành động trong một quan hệ nào đó xuất phát từ bản thân mình, song mỗi người cá biệt dù cho anh ta quay về phía nào, cũng vẫn thuộc một trật tự xã hội đã có sẵn, và không đóng vai một hình tượng độc lập, toàn vẹn sinh động một cách cá nhân của xã hội này mà chỉ làm thành một thành viên hạn chế về mặt khả năng của mình. Anh ta chỉ hành động với tính cách một người bị gắn vào những điều kiện của xã hội này và cái hứng thú mà hình tượng này nêu lên cũng như các mục đích và các hoạt động của nó đều mang tính chất hết sức cá biệt.


Bởi vì, xét cho cùng, tất cả đều qui về chỗ số phận của một cá nhân cụ thể sẽ như thế nào, anh ta có thể đạt được mục đích của mình không, trên đường đi anh ta bắt gặp những cản trở và những trở lực gì, những trường hợp gì ngẫu nhiên và tất yếu cản trở không cho phép hành động kết thúc may mắn hay dẫn đến một hành động may mắn. Mà nếu như cá tính hiện đại trong những cảm nghĩ trong tâm hồn mình và trong tính cách mình là vô tận đối với chính mình và đóng vai như vậy trong những hành động và những đau khổ của mình trong các pháp luật, các đạo đức, các quyền lợi… thì sự tồn tại của quyền lợi được thể hiện ở trong cá nhân cũng chật hẹp như bản thân từng cá nhân này vậy. Anh ta khác thời đại các anh hùng, ở đấy cá nhân làm thành sự thể hiện toàn bộ quyền lợi, tập quán, luật pháp nói chung. Cái cá nhân riêng lẻ ngày nay không còn là người duy nhất mang và thực hiện thực tế những sức mạnh này như ở thời đại các anh hùng.


 


Sự phục hồi tính chất độc lập của cá nhân.


Nhưng dù cho chúng ta có thừa nhận những điều kiện của tổ chức đời sống dân sự(14) và đời sống chính trị phát triển là hợp lí và ích lợi đến đâu, chúng ta cũng không bao giờ từ bỏ và không thể ngừng đòi hỏi một cá tính toàn vẹn và một cuộc sống độc lập, chúng ta vẫn không ngừng cảm thấy cần đến điều đó. Theo ý nghĩa này chúng ta càng thán phục những ý muốn nên thơ của Sinle và của Gơt thời niên thiếu, những cố gắng của hai người để dành lại tính độc lập của những hình tượng thơ đã bị bỏ mất trong khuôn khổ những điều của thời đại mới mà họ bắt gặp trước mắt.


Nhưng Sinle đã thực hiện cố gắng này như thế nào trong tác phẩm đầu tiên của mình? Chỉ bằng cách nổi lên chống lại toàn bộ cái xã hội thị dân. Các Morơ([1]) con người bị trật tự hiện hành và những người làm dụng sức mạnh của cái trật ấy lăng nhục một cách bất công, đã bước ra ngoài khuôn khổ của pháp luật. Trong khi tìm thấy ở mình tinh thần táo bạo dám vứt bỏ những cản trở kiềm hãm mình và sau khi tạo nên cho mình một tình trạng anh hùng mới , chàng đã trở thành con người khôi phục quyền lợi, con người trả thù độc lập chống lại mọi điều phi pháp, mọi bất công và mọi áp bức. Song lối trả thù cá nhân như vậy một mặt thực là vô nghĩa và ngẫu nhiên vì trong tay chàng không có đủ những phương tiện cần thiết! Mặt khác, lối trả thù như vậy chỉ có thể dẫn tới tội ác bởi vì nó đã chứa đựng ở bản thân cái tính chất bất công mà nó muốn thủ tiêu. Con đường mà Các Morơ đã chọn là một sai lầm có tính chất định mệnh và mặc dầu nó là bi kịch, cái lí tưởng cường đạo này chỉ quyến rũ được trẻ em mà thôi.


Cũng vậy trong “Âm mưu và ái tình”(13) những con người đau khổ dưới ách những điều kiện xấu xa, ôm ấp những quyền lợi riêng nhỏ nhặt của họ bị những quyền lợi ấy dằn vặt. Ở trong Phiétxcô và ở trong Đôn Cáclốt mới xuất hiện những nhân vật chính cao thượng hơn, thấm nhuần một vài nội dung bản chất hơn: giải phóng tổ chức mình hay đấu tranh cho tự do tín ngưỡng và họ trở thành những chiến sĩ hy sinh mình cho những mục đích cao cả.


Valenstainơ còn cao hơn một bực, đứng đầu quân đội, chàng đảm đương nhiệm vụ điều chỉnh các quan hệ chính trị. Chàng biết rất rõ sức mạnh của những quan hệ này mà ngay cả cái phương tiện là quân đội cũng lệ thuộc vào đấy, và trong một thời gian dài chàng phân vân giữa ý muốn và trách nhiệm. Nhưng ngay sau khi vừa quyết định xong, chàng thấy ngay và tin chắc rằng cái công cụ thuộc về mình đã rời khỏi tay mình, cái công cụ ấy đã bẻ gẫy. Bởi vì xét cho cùng, cái ràng buộc các tướng lĩnh và các chỉ huy quân sự với chàng không phải là ở chỗ họ biết ơn chàng đã thăng thưởng và đã phong chức cho họ, cũng không phải là cái vinh quang của người chủ súy mà chỉ là nhiệm vụ của họ đối với một chính quyền và một chính phủ đã được mọi người thừa nhận, lời thề của họ đối với người cầm đầu chính phủ tức là hoàng đế Áo. Kết quả là chàng trở thành cô độc, và bị bại trận, không phải do một sức mạnh bên ngoài đối lập với chàng mà là bị tước mất tất cả mọi phương tiện cho phép chàng đạt đến mục đích. Một khi bị quân đội rời bỏ, chàng bị tiêu diệt. Trong “Gớtxơ phôn Beclikhinghen”(14) Gơt đã chấp nhận một giải pháp tương tự, mặc dầu đối lập lại. Thời đại của Gơtxơ phôn Sickinghen là thú vị do chỗ trong thời đại này tầng lớp hiệp sĩ và tính chất độc lập quí tộc của các đại biểu của nó bị tiêu diệt do áp lực của một trật tự mới xuất hiện, khách quan và hợp pháp. Vấn đề Gơt  đã chọn sự xung đột này giữa thời kì trung cổ của các anh hùng và đời sống dựa trên pháp luật chứng tỏ Gơt có một kiến thức siêu việt. Bởi vì Gơtxơ phôn Sickinghen vẫn còn là những anh hùng muốn giải quyết một cách độc lập những điều kiện của cái môi trường rộng hơn hay hẹp hơn của họ, bằng cách chỉ dựa vào cá tính, vào tinh thần táo bạo và cái tình cảm mơ hồ về công lí của mình; song cái trật tự mới làm cho Gơtxơ thành phạm pháp và dẫn tới chết của chàng.


Chỉ có chế độ hiệp sĩ và các quan hệ phong kiến mới làm thành ở thời trung cổ miếng đất chân chính cho loại tính chất độc lập này. Sau khi cái trật tự hợp pháp với hình thức nôm na của nó đã đạt đến một sự phát triển đầy đủ hơn và trở thành thống trị, thì tính độc lập cá nhân của từng hiệp sĩ đi tìm những cuộc phiêu lưu đã mất mọi ý nghĩa. Nếu như y cứ muốn tự  cho mình là cái duy nhất quan trọng và tiếp tục đấu tranh chống lại bất công, giúp đỡ những ai bị áp bức thì y sẽ trở thành lố bịch. Tính chất hài hước của Đông Kisốt của Xecvăngtét là ở chỗ đó.


Khi đề cập tới cái mâu thuẫn như vậy giữa các thế giới quan khác nhau về những hành vi của từng cá nhân trong khuôn khổ và sự va chạm này, tự nhiên ta đã đi đến cái mà trên đây chúng ta đã gọi bằng danh từ chung là tình huống nói chung, cái này biểu lộ trong tình trạng chung của thế giới bằng những thuộc tính và những sự khu biệt gắt gao hơn.


 


Tình huống(15).


 


Khác hiện thực có tính chất nôm na, trạng thái lí tưởng của thế giới mà nghệ thuật có nhiệm vụ thể hiện, căn cứ vào những điều đã trình bày trên đây, chẳng qua chỉ là sự tồn tại có tính chất tinh thần nói chung. Do đó, nó chỉ chứa đựng những khả năng biểu hiện một cách cá nhân chứ không phải bản thân sự biểu hiện này. Từ trước đến nay. Chúng ta chỉ khảo sát miếng đất chung trên đó có thể xuất hiện những cá nhân sinh động của nghệ thuật. Và mặc dầu miếng đất này chứa đựng ở nó yếu tố tính cá nhân và dựa trên tính độc lập của tính cá nhân, song với tính cách tình trạng chung, nó vẫn không biểu lộ sự vận động thực sự của cái cá nhân ở trong ảnh hưởng sinh động của họ. Điều này chẳng khác gì cái điện thờ mà nghệ thuật dựng lên vẫn chưa là biểu hiện cá biệt của bản thân vị thần mà chỉ chứa đựng mầm mống của vị thần thôi.


Chính vì vậy chúng ta trước hết cần phải khảo sát tình trạng lí tưởng này của thế giới như là một cái gì im lìm bất động, như là tình trạng hài hòa của những sức mạnh chi phối nó, như là một sự tồn tại có tính bản chất vâng theo tính chất đơn điệu. Song ta không nên cho tình trạng đơn điệu này là cái người ta gọi tình trạng đầu tiên ngây thơ(16) không có xung đột. Bởi vì tình trạng này là hoàn toàn phục tùng sức mạnh của đạo đức, trái lại sức mạnh to lớn của sự phân đôi chỉ có mặt ở trong tình trạng ngấm ngầm.


Phương diện đầu tiên mà chúng ta bộc lộ bằng sự khảo sát đó là cái thể thống nhất có tính bản chất của tình trạng này và sự có mặt của tính chất cá nhân chỉ ở trong những nét khái quát nhất (cá nhân không khẳng định thuộc tính của y mà lại biến mất một cách không có dấu vết mà không bị cản trở). Song cái nét chủ yếu của cá tính là đặc tính của y và nếu như lí tưởng đòi hỏi cá tính phải xuất hiện trước mắt chúng ta thành một hình tượng nhất định thì y không được phép chỉ thỏa mãn cái chung mà thôi, trái lại cái chung cần phải được bộc lộ ở đây dưới một hình thức riêng, và nhờ đó, mà có được một tồn tại và một biểu hiện bên ngoài, xét theo quan điểm này, nghệ thuật không được phép chỉ lo biểu hiện trạng thái chung của thế giới và phải chuyển từ sự biểu hiện phiếm định này tới những hình tượng thể hiện những tính cách và những hành động nhất định.


So với từng cá nhân thì trạng thái chung chỉ làm thành miếng đất trên đó các cá nhân tồn tại và tự biểu lộ với những đặc điểm riêng biệt của từng hoàn cảnh. Đồng thời với sự cô lập hóa này nảy sinh những xung đột và những điều rắc rối thúc đẩy mỗi cá nhân biểu lộ y là cái gì và tự bộc lộ mình với tính cách những hình tượng nhất định. Còn xét về quan điểm tình trạng thế giới thì sự bộc lộ mình của các cá nhân ở đây đóng vai một quá trình, trong đó tính chất chung trở thành một hiện tượng sinh động đặc thù và đơn nhất. Nhưng ở trong thuộc tính này các sức mạnh chung vẫn giữ sự thống trị của mình, bởi vì mặt chủ yếu của một lí tưởng nhất định tóm lại là những sức mạnh vĩnh viễn ngự trị thế giới làm thành cái nội dung có tính chất bản thân của nó.


Song sự tồn tại dưới hình thức một trạng thái đơn thuần là không xứng đáng với một nội dung như vậy. Một phần hình thức của trạng thái là thói quen và thói quen lại không tương ứng với cái bản chất tự giác có tính chất tinh thần của những hứng thú sâu xa hơn đã nêu lên ở trên; còn một phần những hứng thú này xuất hiện trong cuộc đời là do tính độc lập ngẫu nhiên và võ đoán của các cá nhân, và tính ngẫu nhiên và tính võ đoán (về thực chất là không chủ yếu) đến lượt chúng lại không tương ứng với cái tính chất chung có tính bản chất làm thành khái niệm cái chân thực ở trong bản thân mình. Vì vậy chúng ta một mặt cần phải tìm một hiện tượng nghệ thuật cụ thể hơn, và mặt khác xứng đáng hơn cho nội dung cụ thể của lí tưởng.


Các sức mạnh chung ở trong sự tồn tại bên ngoài của chúng chỉ có thể nhận được cái hình thức mới do chỗ chúng xuất hiện với những sự khác nhau cơ bản, và nói chung, ở trạng thái vận động, nói một cách cụ thể hơn trong một quan hệ qua lại đối lập với nhau. Trong lĩnh vực cái riêng là nơi bây giờ cái chung nhập vào, chúng ta cần phải nêu bật hai thành tố; trước hết cái bản chất với tính cách một phạm vi những sức mạnh chung mà nhờ có sự đặc thù hóa chúng ta mới có thể phân chia bản chất ra thành những bộ phận độc lập; thứ hai các cá nhân là những người tích cực thực hiện những sức mạnh này và cấp cho chúng một hình thức cá biệt.


Nhưng những sự khác nhau và những sự đối kháng mà tình trạng thế giới trước đó vẫn hài hòa các cá nhân biểu lộ cái nội dung chủ yếu mà nó mang ở bản thân mình đối với tình trạng này của thế giới. Và ngược lại, cái nội dung phổ biến có tính bản chất ở mình trong khi trở thành một hiện tượng đặc thù và đơn nhất, đồng thời lại tự thể hiện mình, bởi vì mặc dầu cái chung này tự cấp cho mình cái vẻ ngẫu nhiên, phân đôi và chia tách, nó đồng thời lại thủ tiêu cái ngoại hiện này chính vì nó tự bộc lộ mình ở đấy.


Nhưng sự chia tách những sức mạnh này và việc chúng tự thực hiện ở trong các cá nhân chỉ có thể diễn ra trong những hoàn cảnh và trong những tình trạng, khi tất cả các hiện tượng tồn tại như là những hoàn cảnh này hay khi chúng góp pan vào sự thực hiện ấy. Nếu xét ở bản thân mình, thì các hoàn cảnh không có gì là thú vị mà chỉ có giá trị do nhận thức của con người khiến cho các nội dung của các sức mạnh tinh thần này biểu lộ tích cực thành những hiện tượng. Ta chỉ nên khảo sát các hiện tượng bên ngoài theo quan điểm này mà thôi, bởi vì ý nghĩa của chúng là lệ thuộc vào chỗ chúng tồn tại đối với tinh thần, chúng được các cá nhân tiếp thu như thế nào và dùng để thể hiện những đòi hỏi, những mục đích, những cảm nghĩ bên trong của tinh thần và nói chung tính chính xác của các biểu hiện cá nhân. Do đó, nảy sinh cái mà ta có thể gọi là tình huống làm thành một tiền đề riêng biệt hơn khiến cho mọi cái gì trong mọi tình trạng chung của thế giới(1) vẫn còn nằm ở trong hình thức chưa phát triển thì nay lại bộc lộ ra ngoài và hoạt động tích cực. Vì vậy trước khi chuyển sang khảo sát hành động theo nghĩa đen của từ này chúng ta cần phải qui định ý nghĩa của khái niệm “tình huống”.


Nói chung tình huống (2) là một tình trạng có tính chất riêng biệt và trở thành được qui định. Ở trong thuộc tính này của nó, tình huống góp pan biểu lộ nội dung là cái phần có được một sự tồn tại bên ngoài bằng sự biểu hiện nghệ thuật. Theo quan điểm này tình huống cấp cho ta một thao trường rộng lớn để tìm hiểu bởi vì từ lâu nhiệm vụ quan trọng nhất của nghệ thuật vẫn là tìm những tình huống thú vị, tức là những tình huống nào cho phép ta bộc lộ những hứng thú quan trọng và sâu sắc cũng như cái nội dung chân thực của tâm hồn. Về mặt này, những đòi hỏi đối với những nghệ thuật khác nhau là khác nhau. Tính đa dạng bên trong của các tình huống của điêu khắc chẳng hạn tỏ ra hạn chế, ở trong nhạc nó đã rộng lớn hơn và tự do hơn, còn ở trong thơ thì nó là vô tận hơn cả.


Nhưng bởi vì chúng ta vẫn chưa bước sang khảo sát từng nghệ thuật cho nên ở đây chúng ta chỉ có thể nêu lên những quan điểm chung nhất và chúng tôi chỉ có thể xét theo cái trật tự tăng dần như sau.


Thứ nhất, trước khi tình huống chuyển hóa trở thành cụ thể ở trong bản thân mình, nó vẫn mang hình thức của cái chung và cái phiếm định. Kết quả là lúc đầu, chúng ta đứng trước cái tình huống có thể nói không có tình huống. Bởi vì hình thức phiếm định chỉ là một hình thức bên cạnh một hình thức khác, bên cạnh những hình thức được qui định, và chính điều này khiến nó thành phiến diện và có tính chất nhất định.


Thứ hai, tình huống vượt ra khỏi giới hạn của cái chung này, chuyển thành cái đặc thù và trở thành một thuộc tính lúc đầu rất vô hại không có sự đối lập gì hết cũng không cần sự giải quyết sự đối lập.


Thứ ba, tình trạng phân đôi và thuộc tính của nó làm thành bản chất của tình huống, và tình huống do đó trở thành xung đột là cái dẫn tới những phản ứng và làm thành điểm xuất phát cũng như là bước quá độ sang hành động theo nghĩa đen của từ hành động.


Bởi vì tính thống nhất nói chung làm thành bước trung gian giữa tình trạng chung im lìm ở bản thân của thế giới với tình trạng hành động cụ thể biểu lộ thành tác động và phản ứng, cho nên tình huống cần phải bao hàm các tính chất của cả hai cấp độ cực đoan này và cho phép ta chuyển từ một cấp độ này sang một cấp độ khác.


 


Tình trạng không có tình huống.


Hình thức của “tình trạng chung của thế giới” dưới trạng thái lí tưởng nghệ thuật cần phải được nêu bật đó là một tính độc lập vừa có tính cá nhân lại vừa có tính chất chủ yếu. Nhưng tính độc lập, xét với tính cách bản chất ở bản thân nó, lúc đầu chỉ biểu lộ sự lệ thuộc vào những sức mạnh của mình, lòng tự tin vào mình ở trong cảnh nghỉ ngơi im lìm bất động. Cái hình thức được qui định vẫn không vượt ra khỏi giới hạn của mình và không trở thành một quan hệ với một cái khác; trái lại nó vẫn làm thành một thể thống nhất phong bế trong bản thân cả bên trong lẫn bên ngoài. Tất cả những điều này là tiêu biểu cho tình trạng thiếu tình huống, như ta thấy, chẳng hạn trong các tác phẩm có tô điểm các điện thờ ở thời kì mà nghệ thuật bắt đầu. Nhưng miêu tả này mang tính chất nghiêm túc im lìm một cách sâu sắc, bình thản đến trình độ cao nhất, thậm chí đông cứng lại trong cái vẻ hùng vĩ đồ sộ và ở thời đại sau những hình ảnh này được người ta bắt chước.


Mẫu mực của tình trạng thiếu tình huống như vậy là điêu khắc Ai Cập và điêu khắc Hy Lạp cổ đại. Trong nghệ thuật tạo hình Thiên Chúa giáo, Chúa Cha và Giêxu đều được biểu hiện như nhau, chủ yếu bằng những hình tượng bán thân, và nói chung tính bản chất của yếu tố thần linh đóng vai một vị Thượng đế nhất định, đặc thù, hay một cá tính tuyệt đối ở trong bản thân mình là phù hợp với phương thức miêu tả này. Thực ra, ngay cả các chân dung thời trung cổ cũng tiêu biểu ở chỗ thiếu những hoàn cảnh nhất định, ở đấy tính chất cá nhân cá thể mang tính chất nhất định ở trong tính bất biến của mình.


 


Tình huống nhất định ở trong trạng thái bình thản của nó.


Bởi vì tình huống nói chung phải có đặc tính, cho nên nó vượt ra ngoài phạm vi tình trạng nghỉ ngơi yên tĩnh và hạnh phúc, hay vượt ra khỏi sự thống trị tuyệt đối của sự nghiêm khắc và của sức mạnh là những cái tiêu biểu cho tính độc lập bị phong bế vào bản thân. Nhưng một hình tượng không có tình huống, im lìm bất động cả bên trong lẫn bên ngoài vì vậy, cần phải vận động và từ bỏ tính chất giản đơn mộc mạc của mình. Bước tiến gần nhất để tới một sự biểu hiện chuyên môn hơn, nhờ một phương thức biểu hiện đặc biệt là một tình huống mặc dầu còn màn tính chất nhất định nhưng ở bản thân nó về căn bản vẫn không được khu biệt và không chứa đựng những xung đột.


Sự biểu hiện cá tính hóa đầu tiên này không dẫn tới những hậu quả xa hơn nữa, bởi vì nó không tự đặt mình vào một tình trạng đối lập thù địch với bất kì cái gì khác và không thể gây nên một phản ứng đáp lại nào hết. Trái lại, nó đã hoàn thành và hoàn mĩ ở bản thân. Thuộc vào loại này là những tình huống nói chung phải được xem là những trò chơi, bởi vì ở đấy làm và diễn ra những cái gì chẳng nghiêm túc gì cả. Sở dĩ thế là vì tính chất nghiêm túc ở trong các hành động và các hành vi lần đàu tiên nẩy sinh là do những đối lập và những mâu thuẫn yêu cầu phải gạt bỏ và phải khắc phục một trong hai mặt.


Vì vậy những tình huống tương tự tự nó vẫn chưa là hành động cũng chưa là điều kích thích hành động: một phần đây vẫn còn là những kiểu tình huống ở bản thân hoàn toàn đơn giản, một phần hoạt động tự bản thân, không có mục đích chủ yếu gì nghiêm túc, nảy sinh do những xung đột.


Bước tiếp theo là bước chuyền từ tình huống nghỉ ngơi, tiêu biểu cho tình trạng không có tình huống, sang vận động và biểu hiện. Cái này có thể là một vận động thuần túy máy móc hay là biểu hiện đầu tiên và sự thỏa mãn một nhu cầu ở bên ngoài. Nếu người Ai Cập, trong các hình tượng điêu khắc của họ, miêu tả các vị thần chân dính vào nhau, đầu im lìm và tay dán chặt vào thân hình thì người Hy Lạp tách tay và chân ra khỏi thân hình và cấp cho thân thể cái thân thể cái tư thế mà có khi đi, hay làm những vận động đa dạng khác. Người Hy Lạp, chẳng hạn, biểu hiện các vị thần của mình trong tạng thái nghỉ ngơi, mắt nhìn lặng lẽ về phía xa xăm. Những trạng thái đơn giản như vậy truyền đạt cho hình tượng độc lập của một vị thần một thuộc tính, song thuộc tính này không chuyển thành những quan hệ xa hơn nữa, cũng không chuyển thành sự đối lập: tính bị phong bế ở bản thân và tự thân là hài lòng – thỏa mãn. Những tình huống đơn nhất như vậy là tiêu biểu chủ yếu vô tận trong việc phát minh những trạng thái im lìm như vậy. Ở đây nói lên cái năng khiếu thường thức vĩ đại của họ, bởi vì tính chất vô nghĩa của tình huống nhất định càng nêu bật ở trình độ cao hơn tính vĩ đại và độc lập của các hình tượng lí tưởng của họ. Tính thống nhất không quan trọng và cái vẻ đơn giản bình thản của sáng tác cũng như trạng thái nhàn rỗi còn cấp cho cái vẻ thản nhiên hạnh phúc và cái vẻ bất biến của các thần linh vĩnh viễn một cách trực quan to lớn hơn. Ở đây, tình huống chỉ nêu bật tính cách đặc biệt  của một thần linh hay một anh hùng nhưng lại không gắn liền họ với các thần linh và các anh hùng khác và không làm cho họ lâm mình vào những quan hệ thù địch.


Tình huống còn trở thành một bước tiến về phía đặc tính khi nó nói lên một mục đích đặc thù, mà việc thực hiện đã xong xuôi, một hành động gắn liền với ngoại giới và biểu hiện trong khuôn khổ của đặc tính này một nội dung độc lập ở bản thân. Và ở trong những biểu hiện này, tính chất bình thản và hình thức vô tư của các hình tượng không bị phá vỡ mà trái lại đóng vai hậu quả và hình thức cụ thể của trạng thái an lạc này.


Người Hy lạp đã tỏ ra hết sức hóm hỉnh và phong phú về những biểu hiện như thế. Điều cần thiết trong tính thoải mái ung dung của các tình huống này là hành động các nhân vật hiện thực chứa đựng ở bản thân không phải là bước đầu của một hành vi sẽ làm nảy sinh những điều rắc rối và những đối lập. Trái lại, mọi thuộc tính cần phải có vẻ biểu lộ hết ở trong hành động này. Chẳng hạn tình huống của thần Apôlông ở Benvêđe(17) sau khi đã chiến thắng, giết chết con Pithông bằng mũi tên của mình, tiến lên trịnh trọng và uy nghi là một tình huống như vậy. Trong tình huống này không có cái vẻ đơn giản hùng vĩ của nghệ thuật Hy Lạp thuở ban đầu mà điêu khắc phát hiện vẻ điềm nhiên và ngây thơ như trẻ con của các thần linh trong những biểu hiện vô nghĩa nhất. Có thể xem là bức tượng Vênút, rời khỏi chỗ tắm, nhìn bình thản ở phía trước trong khi nhận thức quyền lực của mình là mẫu mực của điêu khắc thời cổ xưa. Những con nhân dương và những tửu thần đang chơi đùa được miêu tả ở những tư thế nêu rõ sẽ không có gì xẩy ra. Bức tượng con nhân dương bế thần Báccút trẻ tuổi trên tay, miệng cười, nhìn cậu bé vô cùng âu yếm và duyên dáng là một thí dụ như vậy. Hay chẳng hạn tượng Thần ái tình bận tâm vào những công việc đa dạng và cũng vặt vãnh như vậy: tất cả những điều đó đều minh họa cho loại tình huống này. Còn nếu như hành động trở thành cụ thể hơn, thì các tình huống sẽ trở thành phức tạp hơn và tỏ ra không thích hợp với sự thể hiện các thần linh Hy Lạp như những sức mạnh độc lập; tính chất chung thuần túy của vị thần mang tính chất cá nhân biểu lộ khó khăn qua các yếu tố riêng biệt chồng chất của hành vi cá biệt của vị thần. Thần Méccerơ của Pigan(18) chẳng hạn, quà tặng của Ly-I XV đương trình bày những phòng triển lãm Sans Souci đang lắp đôi giày có cánh vào chân mình. Đây là một công việc hoàn toàn ngây thơ. Trái lại tình huống của thần Méccerơ của Thoócvonxen(19) lại quá rắc rối đối với điêu khắc. Sau khi đặt chiếc sáo của mình xuống, vị thần chăm chú theo dõi Mácxiát, liếc nhìn y một cách ranh mãnh, chờ đợi giây phút giết y, tay nắm con dao găm giấu kín. Để nhắc tới ở đây một tác phẩm gần nhất, chúng tôi lưu ý rằng bức tượng miêu tả cô gái  buộc dép vào chân của Rôđônphơ Sađâu(20) không gây một ấn tượng to lớn mặc dầu cô gái cũng làm một việc bình dị như Méccerơ. Song việc làm bình dị này ở đây không gây một hứng thú gắn liền với việc làm khi người làm là một vị thần an nhàn tự tại. Còn khi cô gái buộc dép vào chân hay tháo dép ra, thì ở trong việc làm này không nói lên cái gì ngoài việc buộc và tháo, tức là những hành động tự thân nó và vô nghĩa.


Từ những điều trên đây, thứ ba, ta thấy rằng một tình huống cá biệt có thể được xem là thuần túy bên ngoài phần nào bị qui định và là một trường hợp cho những biểu hiện khác gắn liền, tương đối lỏng lẻo với nó. Chúng ta bắt gặp chẳng hạn những tình huống ngẫu nhiên như vậy trong nhiều bài thơ trữ tình. Một tâm trạng và một tình cảm để làm thành một tình huống có thể được nhận thức và được biểu hiện một cách nên thơ và trong những hoàn cảnh bên ngoài nhất định: chẳng hạn, trong những bữa tiệc, trong những cuộc chiến thắng… Nó có thể thúc đẩy dẫn tới một cách biểu lộ phần nào giản dị hơn hay hạn chế hơn, hoặc dẫn tới sự thể hiện những tình cảm và những biểu tượng. Nhưng bài tụng thi của Pinđarơ, chẳng hạn, là những bài thơ “thù tạc” theo cái nghĩa cao nhất của từ này. Gơt cũng sử dụng cho nhiều tình huống trữ tình thuộc loại này làm tài liệu. Thậm chí, ta có thể gọi tác phẩm Vécte của ông là một tác phẩm “thù tạc” theo nghĩa rộng hơn bởi vì ông dùng “Vécte” để biểu lộ và phơi bày trong mỗi tác phẩm nghệ thuật, tình trạng tan tác trong nội dung và những quằn quại trong con tim của mình, tức là những biến cố diễn ra trong tâm hồn mình. Nhà thơ trữ tình, nói chung, bộc lộ con tim mình và nói lên những đều bản thân mình cảm thấy với tính cách chủ thể nhờ đó cái tình cảm thấy đây chỉ là trạng thái bên trong thì nay lại thoát khỏi mình và trở thành một vật bên ngoài làm cho con người được giải phóng khỏi nó, và nó trở thành một đối tượng bên ngoài. Kết quả là con người được giải phóng khỏi nó chẳng khác gì những giọt nước mắt tuy làm nỗi đau khổ tuôn trào đồng thời lại làm cho tâm hồn con người dịu bớt nỗi buồn.


Như chính Gơt đã nói, sau khi viết “Vecte”, ông đã thoát khỏi những cảm nghĩ nội tâm đau đớn mà ông miêu tả trong tác phẩm này. Song cái tình huống miêu tả trong “Vecte” đã thuộc một trình độ cao hơn, bởi vì nó chứa đựng và phơi bày những mâu thuẫn sâu sắc nhất.


Trong một tình huống trữ tình như vậy, một trạng thái khách quan, một hoạt động nào đó có thể được phản ánh gắn liền với cái thế giới bên ngoài. Mặt khác, ở đây tâm hồn với tính cách tâm hồn ở trong cái tâm trạng ở bên trong có thể đi vào bản thân mình để trở thành điểm xuất phát của những trạng thái bên trong và của tình cảm của mình sau khi đã thoát khỏi mọi liên hệ bên ngoài.


 (Còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.







([1]) Bi kịch “Những tên ăn cướp” của Sinle.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »