tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950131
Lý luận phê bình văn học
13.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (18)

II – HÀNH ĐỘNG


 


Đặc trưng với tính cách đặc trưng do chỗ mang tính lí tưởng của nó nên có đặc điểm là thuần túy và ngây thơ của những người thượng giới, một sự yên lặng thoát lí khỏi mọi hoạt động, một sự vĩ đại độc lập dựa vào những sức mạnh ở bản thân, cũng như tính cứng rắn và hoàn mĩ tiêu biểu cho cái bản chất của chính mình. Nhưng mọi cái bên trong và có tính tinh thần đều chỉ đóng vai một vận động tích cực và tự phát triển, song sự tự phát triển diễn ra không khỏi mang tính chất phiến diện và phân đôi. Cái tinh thần toàn vẹn, hoàn chỉnh trong khi mở rộng ra tất cả các mặt, trong khi phơi bày những điểm đặc thù của mình, đã rời khỏi tình trạng nghỉ ngơi để lao vào một lĩnh vực đầy những đối lập của cái tồn tại trần tục, và đối lập lại bản thân mình. Trong tình trạng phân li này tinh thần không còn đủ sức tránh các tai họa và bất hạnh gắn liền chặt chẽ với mọi cái hữu hạn.


Ngay cả các thần linh bất tử của các tôn giáo đa thần cũng không sống trong tình trạng hòa bình vĩnh viễn. Họ làm thành những phe đảng, đấu tranh với nhau, bị lôi cuốn bởi những dục vọng và những quyền lợi đối lập và phải phục tùng số phận. Ngay cả Thượng đế Thiên Chúa giáo cũng không thoát khỏi tình trạng bị đau khổ vì cái chết nhục nhã đã hạ thấp mình và không thoát khỏi nỗi đau khổ của tâm hồn khiến người ta phải kêu lên: “Chúa ơi! Chúa sao Chúa bỏ con?”. Bà mẹ của Người cũng cảm thấy những đau khổ bên trong tàn nhẫn chẳng kém, và đời Người nói chung là đầy những chiến đấu, những xung đột và những đau buồn bởi vì cái thước đo chân chính về trình độ vĩ đại và sức mạnh của con người là sử sự đối lập mà tinh thần phải khắc phục để tìm lại được tính thống nhất bên trong của mình là to lớn và mạnh mẽ như thế nào. Cường độ và sự sâu sắc của yếu tố chủ thể càng bộc lộ nhiều nếu các hoàn cảnh mà con người phải khắc phục càng đầy mâu thuẫn và những sự đối lập mà con người cần phải đương đầu lại càng đau đớn, trong lúc đó ở giữa các mâu thuẫn và đối lập này con người trước sau vẫn phải như một ở trong bản thân mình. Chính trong tình trạng phát huy mà sức mạnh của ý niệm, của lí tưởng được khẳng định bởi vì sức mạnh tóm lại là vẫn cứ là mình ở trong một hoàn cảnh chống lại mình.


Do sự phát triển này, cái đặc thù với tính cách một nét của lí tưởng xuất hiện ở trong thế giới bên ngoài và thế giới này không nói lên được ở mình một sự nhất trí lí tưởng tự do giữa khái niệm với hiện thực của nó mà trái lại biểu lộ một sự tồn tại không giống như đáng lí nó phải như vậy. Khi khảo sát mối quan hệ này giữa lí tưởng với thế giới bên ngoài, chúng ta cần phải giải thích xem trong chừng mực nào cái đặc trưng ở đấy lí tưởng thâm nhập vào xem bản thân nó có chứa đựng trực tiếp tính lí tưởng hay là ít nhiều có khả năng có được tính chất lí tưởng ấy.


Về mặt này ta cần phải chú ý đến ba điểm:


Thứ nhất, trạng thái chung của thế giới, đó là tiền đề của hành động cá nhân và của tính chất của hành động này.


Thứ hai, tính đặc thù của tình huống, đặc trưng của nó dựa vào cái thể duy nhất, có tính chất thực thể mà chúng ta khảo sát những tình cảm và những xung đột của nó.


Thứ ba, việc quan niệm tính cách xét về mặt tính chủ thể và những phản ứng qua đó biểu lộ cuộc đấu tranh và sự giải quyết xung đột tức là hành động theo nghĩa đen của từ này.


 


Trạng thái chung của thế giới.


 


Tính chất chủ thể với tính cách chủ thể sinh động lý tưởng chứa đựng ở mình cái đặc trưng thúc đẩy tính chủ thể hành động, vận động và tỏ ra tích cực nói chung để thực hiện và hoàn thành những cái nó chứa đựng ở trong bản thân. Muốn vậy, tính chủ thể cần có thế giới bao quanh là cái cấp cho nó miếng đất chung để nó thực hiện. Khi nói đến tình trạng trong mối liên hệ chung, ta dùng danh từ này để chỉ cách thức tồn tại chung của yếu tố thực tế([1]) là yếu tố hợp nhất mọi hiện tượng với tính cách một cái chủ yếu trong lĩnh vực hiện thực tinh thần. Theo nghĩa này, ta có thể nói chẳng hạn về tình trạng giáo dục, tình trạng khoa học, tình trạng tình cảm tôn giáo cũng như nói đến tình trạng tài chính, đời sống gia đình và các hiện thực cá biệt khác. Nhưng mọi mặt này, thực ra, chỉ là những hình thức của một tinh thần duy nhất và của một nội dung duy nhất được bộ lộ và được thể hiện ở các hình thức này.


Vì vậy, ở đây khi nói đến tình trạng của thế giới với tính  cách nói đến phương thức tồn tại chung của cái hiện thực tinh thần, chúng ta cần phải khảo sát nó về mặt ý chí. Sở dĩ thế là vì tinh thần phải thông qua ý chí mới có được một tồn tại khách quan và các liên hệ trực tiếp bản chất nối liền các mặt khác nhau của hiện thực đều lệ thuộc chặt chẽ vào các biểu hiện tích cực của ý chí cũng như của các khái niệm đạo đức, các khái niệm pháp luật, tóm lại của mọi cái gì nói chung có thể gọi là chính nghĩa và công lí.


Ở đây xuất hiện vấn đề cái trạng thái chung này cần phải như thế nào thì mới phù hợp với tính chất cá tính của lí tưởng.


 


Tính chất độc lập cá biệt: thời đại các anh hùng.


Căn cứ vào những điều đã nói trên đây, trước hết ta có thể nêu lên những luận điểm sau đây:


Lí tưởng là một thể thống nhất ở trong bản thân mình, nó không phải là một thể thống nhất hình thức và bên ngoài mà là một thể thống nhất cố hữu nằm ở trong bản thân nội dung. Ở trên, chúng ta đã gọi cái tính độc lập có tính bản chất thống nhất ở trong bản thân là trạng thái tự do tự tại, bình thản và hạnh phúc của lí tưởng. Bây giờ ở trình độ chúng ta bàn đến, chúng tôi muốn gọi đặc tính này là tính độc lập và muốn chứng minh rằng tình trạng chung của thế giới phải xuất hiện dưới hình thức tính độc lập thì mới có thể khoác hình thức của “lí tưởng”.


Song danh từ “tính độc lập” có thể có hai nghĩa:


(aa) Người ta thường gọi là tuyệt đối độc lập cái gì có tính bản chất ở bản thân nó, do tính bản chất này, và do chỗ nó là nguyên nhân đầu tiên của mình cho nên chúng ta cũng gọi yếu tố bản chất ấy là yếu tố thần linh và tuyệt đối ở bản thân. Nhưng nếu xét ở trong tình trạng khái quát như vậy và chỉ xét như một bản chất thì yếu tố độc lập này không phải là có tính chất chủ thể([2]) và khi gặp phải sự cố đối lập này cũng như ở trong mọi sự đối lập nói chung, tính độc lập thực ra biến mất.


(bb) Mặt khác, người ta vẫn có thói quen cấp tính độc lập cho mọi cái cá thể chỉ dựa vào bản thân và có một tính chủ thể vững chắc, dù là có một cách hình thức. Song một chủ thể, nếu không có nội dung chân thực của cuộc sống bởi vì tất cả sức mạnh và các bản chất đều tồn tại vì bản thân mình, ở ngoài chủ thể, và vẫn là một nội dung xa lạ đối với sự tồn tại bên trong và bên ngoài chủ thể thì: một chủ thể như vậy là đối lập với yếu tố bản chất thực sự và do đó, mất tính chất độc lập và tự do. Tính chất độc lập chân thực là ở tính thống nhất và ở sự thâm nhập qua lại giữa cái riêng và cái chung, bởi vì cái chung chỉ có được một hiện thực cụ thể qua cái riêng và một chủ thể đặc thù tìm thấy một cơ sở vững chắc và một nội dung chân thực của hiện thực của mình chỉ trong khuôn khổ cái chung.


(cc) Vì vậy, ở đây chúng ta cần phải khảo sát cái hình thức của tính độc lập mà trạng thái chung của thế giới cần phải có như sau. Muốn được độc lập thì cái chung có tính chất bản chất ở trong trạng thái này cần phải chứa đựng trong mình tính chủ thể. Điều thứ nhất có thể nảy sinh ra trong óc ta với tính cách phương thức biểu hiện tính đồng nhất này đó là tư duy. Bởi vì một mặt tư duy là chủ quan và mặt khác, lại có tính chất chung với tính cách sản phẩm của hoạt động chân thực của mình và làm thành một thể thống nhất tự do của cái chung với cái tính chủ thể. Song yếu tố chung của tư duy lại không phải là một yếu tố chung của nghệ thuật và của cái đẹp nghệ thuật. Ngoài ra, cái cá biệt đặc thù ở trong các nét tự nhiên và diện mạo của mình, cũng như ở trong các hành vi thực tiễn lại không ở trong trạng thái hòa hợp tất yếu với tính chất phổ biến của tư duy: kết quả là nẩy sinh, hay có thể nảy sinh, sự chia rẽ giữa cái chủ thể ở trong hiện thực cụ thể của nó với cái chủ thể xem như một tồn tại biết tư duy.


Sự khác nhau này cũng biểu hiện cả trong nội dung của cái phổ biến nữa. Khi cái nội dung chân thực và thực sự đã bắt đầu tự khu biệt mình ở cái chủ thể biết tư duy ra khỏi cái hiện thực còn lại thì điều đó có nghĩa là nó đã bị tách rời ở trong hiện tượng khách quan với tính cách cái phổ biến khỏi bản thân sự tồn tại còn lại và có được tính chất vững chắc và sức sống đối lại chúng. Nhưng ở trong lí tưởng, cái cá biệt đặc thù và yếu tố bản chất đều cần phải hòa hợp với nhau khăng khít và bởi vì lí tưởng có được tính tự do và độc lập của tính chủ thể, cho nên cái thế giới xung quanh của các tình trạng và các hoàn cảnh không được phép có một tính khách quan nào chủ yếu ở bản thân mình, độc lập đối với tính chủ thể và cái riêng. Cái cá nhân lí tưởng cần phải là phong bế ở bản thân mình, yếu tố khách quan cần phải thuộc về ý chứ không phải độc lập trong các vận động và các việc làm bởi vì nếu thế thì chủ thể sẽ ở trong tình trạng lệ thuộc vào cái thế giới đã có sẵn.


Vì những lí do này, cái chung cần phải có mặt ở trong cái riêng như một cá gì thuộc riêng nó; nhưng lại không phải với tính cách là tư duy của chủ thể mà với tính chất tính cách và tình cảm của chủ thể. Nói khác đi, muốn đạt được tính thống nhất giữa cái chung và cái riêng thì hình thức phải có tính trực tiếp đối lập lại tính gián tiếp và sự phân biệt mà tư duy vẫn có, thành ra tính độc lập mà chúng ta cần lại mang hình thức tính độc lập trực tiếp.


Song tính độc lập này là gắn liền với tính ngẫu nhiên. Sở dĩ thế là vì nếu như cái chung thâm nhập vào toàn bộ tinh thần chỉ có mặt trực tiếp ở trong những cá nhân độc lập dưới hình thức những tình cảm chủ quan, những tâm trạng, những mầm móng tự nhiên của tính cách họ, nếu như nó không thể có một hình thức tồn tại nào khác thì chỉ riêng điều đó thôi cũng đủ làm cho nó phải chịu tính ngẫu nhiên của ý chí và của sự hiện thực. Lúc bấy giờ cái chung vẫn là tính đặc thù của những cá nhân hữu quan, của tâm trạng họ với tính cách một sở hữu riêng thì không có sức mạnh và không có sự cần thiết phải tìm con đường cho chính nó. Cái chung ở đây sẽ đóng vai một quyết định, một thực hiện, hay một từ chối võ đoán không chịu thực hiện xuất phát từ cái chủ thể chr dựa vào bản thân mình; xuất phát từ những tình cảm, từ những thiên hướng, từ những khả năng, từ sức mạnh, từ sự ranh mãnh và từ những thói quen của cá nhân; cái chung không biểu hiện bằng một phương thức không bao giờ thay đổi, được xác lập vững chắc nhờ bản thân mình.


Kiểu tính ngẫu nhiên này làm thành nét tiêu biểu của cái tình trạng mà chúng ta cần đến để làm cơ sở và phương thức chung của sự xuất hiện của lí tưởng.


Để nêu bật hơn nữa tính cụ thể của cái hiện thực có lợi cho nghệ thuật, chúng ta phải nhìn phương thức tồn tại độc lập.


(aa) Chúng ta bắt gặp phương thức này ở nơi nào khái niệm đạo đức, công lý và tự do hợp lí tiêu biểu cho nó đã có được một hình thức được kiểm tra của một trật tự có tổ chức, là cái tồn tại ở trong hiện thực bên ngoài như một tất yếu bất biến ở bản thân và không lệ thuộc vào các nét cá biệt và các đặc điểm chủ quan của tâm hồn và của tính cách. Điều này xảy ra trong khuôn khổ đời sống nhà nước là nơi ở đấy dời sống của con người diễn ra phù hợp với khái niệm nhà nước, bởi vì không phải chỉ cần một số người hợp nhất trong một liên minh xã hội, không phải mọi thể cộng đồng gia trưởng đều có thể gọi là nhà nước. Ở trong một nhà nước thực sự, các tập quán, các quyền lợi làm thành những đặc tính chung hợp lí của tự do có giá trị do tính chất chung và tính chất trừu tượng của nó và không lệ thuộc vào tính chất ngẫu nhiên của sự võ đoán và những nét riêng biệt của tính cách. Cũng như ý thức nêu ra những điều lệ và những qui tắc ở trong tính chất khái quát của nó; cũng vậy, ở bên ngoài, nó trở thành hiện thực với tính cách một điều khái quát được xác lập và có một sức mạnh công khai chống lại các cá nhân, nếu như các cá nhân này tìm cách vi phạm qui luật và chống đối lại nó bằng thái độ võ đoán củ mình.


(bb) Một tình trạn như vậy giả thiết phải có sự phân chia ranh giới giữa các qui tắc chung của cái lí tính ban hành pháp luật và đời sống trực tiếp được quan niệm như một chủ thể thống nhất trong đó tất cả cái nội dung bản chất và cốt tử của đạo đức và công lí chỉ trở thành hiện thực ở các cá nhân với tính cách tình cảm và tâm trạng của họ chỉ được thực hiện thông qua những tình cảm và tâm trạng ấy. Trong một nhà nước ở tình trạng phát triển, quyền lợi và công lí cũng như tôn giáo và khoa học hay ít nhất sự lo lắng đến giáo dục theo tinh thần của khoa học đều là thuộc phạm vi của lĩnh vực chung và do nó ban hành.


(cc) Tình trạng các cá nhân riêng lẻ ở trong nhà nước là như sau: họ phải gắn liền với cái trật tự vững chắc này và phải phục tùng nó, bởi vì với tính cách và cấu tạo tinh thần của họ, họ không còn là tồn tại duy nhất của những sức mạnh đạo đức. Trái lại, như điều xảy ra trong các nhà nước thực sự, mọi đặc điểm riêng biệt của cách suy nghĩ, của ý kiến chủ quan và của tình cảm đều phải được qui định bởi tính chất hợp pháp này và phải hài hòa với nó.


Sự kết hợp cái tính hợp lý khách quan độc lập đối với thái độ võ đoán chủ quan của nhà nước có thể hoặc mang hình thức một sự phục tùng đơn thuần, biểu lộ ở các quyền lợi mạnh mẽ và được mọi người thừa nhận, các pháp luật và các thể chế có được sức mạnh cưỡng bức, hoặc vì nó có thể nảy sinh do sự thừa nhận tự do, kết quả của việc thừa nhận tính hợp lý của cái tồn tại, thành ra chủ thể lại tìm thấy mình ở trong thế giới khách quan. Nhưng cả trong trường hợp này, từng cá nhân một bao giờ cũng chỉ là một yếu tố thứ yếu và không cốt tử ở ngoài hiện thực của nhà nước và không có tính bản chất nào ở chính mình cả.


Lúc này tính bản chất không còn làm thành sở hữu riêng của cá nhân này hay cá nhân nọ, mà nó tồn tại vì mình và phát triển một cách chung và tất yếu ở trong tất cả mọi mặt của mình cho đến những chi tiết nhỏ nhất. Các cá nhân có làm những điều gì trong lĩnh vực quyền lợi, đạo đức và pháp luật nhằm phục vụ cái chung thì ý chí và những hành động của họ, cũng như bản thân họ vậy, bao giờ cũng chỉ là một cái gì vô nghĩa, và chỉ có giá trị là một thí dụ cá biệt so với cái chung. Cái hành động của họ chỉ thực hiện một trường hợp duy nhất, với tính cách một cái gì hoàn toàn bộ phận chứ không phải thực hiện cái chung theo nghĩa làm cho hành động này, trường hợp này nhờ thế sẽ trở thành pháp luật hay xuất hiện ở trong hiện tượng với tính cách một pháp luật.


Cũng vậy, vấn đề muốn pháp luật và công lí được thi hành hay không là không lệ thuộc vào cá nhân với tính cách cá nhân – pháp luật có hiệu lực do tự bản thân nó dù cá nhân có muốn hay không. Thực ra, các qui định chung, công khai, lo làm sao cho mọi cá nhân hành động phù hợp với chúng, song pháp luật và đạo đức có sức mạnh phải là do chỗ các cá nhân đồng ý. Cái chung không cần đến sự tán thành của từng cá nhân, khi nào những pháp luật của nó bị vi phạm, nó biểu lộ quyền lực trong việc trừng phạt.


Tình trạng lệ thuộc của từng cá nhân trong những nhà nước phát triển cuối cùng biểu lộ ở chỗ mỗi cá nhân chỉ có một phần nhất định và hạn chế ở trong công việc của cái tổng thể.


Trong một nhà nước thực sự, công việc phục vụ cái chung, chẳng hạn hoạt động thương nghiệp và hoạt động công nghiệp ở trong xã hội dân sự v.v. đều bị phân chia vô cùng đa dạng. Kết quả là nhà nước, nói chung, không phải là hoạt động cụ thể của một cá nhân duy nhất và, nói chung, không thể giao phó cho thái độ võ đoán, cho tinh thần dũng cảm, cho lòng gan dạ, cho quyền lực và trí thông minh của một người. Những công việc vô số và những hoạt động phức tạp mà đời sống quốc gia đòi hỏi cần phải trao cho một số người cũng đông đảo như vậy. Việc trừng trị một tội ác chẳng hạn không còn là việc làm lệ thuộc vào tinh thần anh dũng hay đạo đức của một cá nhân duy nhất, mà bị phân chia ra thành việc điều tra của tòa án và việc thực hiện điều xét xử này.


Không những thế, mỗi thành tố chính này, đến lượt nó, lại chia ra những mặt riêng biệt hơn, mỗi mặt chỉ liên quan đến một cạnh khía duy nhất của vấn đề. Việc thi hành pháp luật, do đó, không phải là lệ thuộc vào một cá nhân duy nhất mà là kết quả của sự hợp tác nhiều mặt và theo một trật tự đã được qui định vững chắc. Ngoài ra, các qui tắc chung tồn tại và phải dùng làm điều chỉ đạo cho hoạt động mỗi người, và những điều mà mỗi người thực hiện đến lượt nó lại chịu sự đánh giá và sự kiểm tra cả những quyền lực cao hơn.


Về tất cả các quan niệm này, các quyền lực chung trong một nhà nước mà trật tự đã được pháp luật đảm bảo đều không mang tính chất cá nhân gì hết. Cái chung ở đây thống trị một cách phổ biến, dường như đời sống cá nhân ở đấy không tồn tại, hoặc chỉ là một yếu tố thứ yếu và bàng quan. Trong những trường hợp như vậy, chúng ta sẽ không tìm thấy tính độc lập mà chúng ta yêu cầu. Vì vậy, để cho quyền tự do của cá nhân được phát triển, chúng ta yêu cầu một tình trạng đối lập trong đó sức mạnh của đạo đức chỉ dựa trên các cá nhân, những cá nhân này do ý chí nỗi bật và ảnh hưởng của tính cách họ đã đứng đầu cái hiện thực trong đó họ sống. Cái công bình lúc đó sẽ do họ quyết định và nếu như họ vi phạm cái gì là đạo đức ở bản thân nó bằng những hành vi của họ thì không có sức mạnh chung nào có quyền lực để yêu cầu họ phải trình bày lý do và trừng trị họ. Lúc bấy giờ sẽ chỉ có cái quyền lợi của sự tất yếu bên trong được cá tính hóa thành những tính cách sinh động, thành những trượng hợp ngẫu nhiên bên ngoài v.v và chỉ trở thành hiện thực dưới hình thức này mà thôi.


Trừng phạt khác trả thù là ở đấy. Việc trừng phạt được áp dụng là căn cứ vào pháp luật. Nó dùng cái pháp luật chung thông qua các cơ quan của quyền lực công chúng, thông qua các tòa án và các quan tòa (những người mà với tính cách cá nhân chỉ biểu hiện yếu tố ngẫu nhiên). Bản thân sự phục thù có thể là hợp chính nghĩa, nhưng nó dựa trên tính chủ thể của những người chính mình bị sự thực hiện hành động làm thiệt hại và tìm thấy ở chính mình những lý do bào chữa cho hành động trả thù mà họ thực hiện vì điều bất công họ đã chịu. Hành động trả thù của Orextơ chẳng hạn, là hợp chính nghĩa, nhưng chàng đã thực hiện nó chỉ căn cứ vào đạo luật của đạo đức của riêng mình không phải căn cứ vào việc xét xử của tòa án và của pháp luật.


Trong những điều kiện mà chúng tôi đòi hỏi đối với sự miêu tả nghệ thuật, đạo đức và chính nghĩa cần phải giữ hình thức hoàn toàn cá nhân theo nghĩa chúng chỉ lệ thuộc độc vào các cá nhân và chỉ thành sinh động ở cá nhân và thông qua cá nhân mà thôi. Chúng tôi nhắc lại ở đây một lần nữa rằng trong những quốc gia có trật tự, sự tồn tại ở bên ngoài của con người là được đảm bảo, tài sản của anh ta được che chở và chỉ có những ý kiến và những suy nghĩ riêng là thuộc riêng anh ta. Trong một tình trạng ở đấy vẫn còn chưa có nhà nước, sự an toàn của đời sống và của chế độ sở hữu chỉ dựa trên sức mạnh và tinh thần dũng cảm của từng cá nhân. Cá nhân nào cũng phải lo lắng đến sự tồn tại của mình và giữ tất cả những cái gì thuộc về mình.


Chúng ta vẫn cấp tình trạng này cho thời đại anh hùng([3]). Đây không phải là chỗ giải thích trong hai tình trạng – tình trạng có tổ chức chính trị vững chắc và tình trạng gọi là thời đại anh hùng – cái nào tốt hơn. Chúng ta chỉ chú ý tới vấn đề “lý tưởng” trong nghệ thuật, và đối với nghệ thuật thì sự chia tách này của cái chung (một sự tồn tại cố định và vững chắc ở bản thân nó) ra khỏi cái cá nhân cần phải bị hủy bỏ, dù cho sự chia tách này là cần thiết như thế nào đối với các biểu hiện trong hiện thực của tồn tại tinh thần. Bởi vì nghệ thuật và lí tưởng của nó làm thành cái chung, với tính cách những đối tượng để định giá, chúng nhập vào sự thống nhất trực tiếp với những hiện tượng riêng rẽ trong tất cả sức sống của chúng.


(aa) Điều này được thực hiện ở trong cái thời đại gọi là thời đại anh hùng, tức là thời đại trong đó đạo đức aretê (theo quan niệm của người Hy Lạp về từ này) làm thành cơ sở của những hành vi. Về mặt này chúng ta phải phân biệt rành mạch ý nghĩa của từ Hy Lạp aretê với từ La Mã virtus([4]). Những người La Mã ngay từ đầu đã có thành bang của họ, những thể chế hợp pháp của họ và cá nhân ở trước nhà nước – là mục đích chung – cần phải từ bỏ những đòi hỏi của mình. Họ chỉ là người La Mã một cách trừu tượng, chỉ đại diện cho nhà nước La Mã ở trong tính chủ thể kiên quyết của mình; đại diện cho tổ chức với tính chất vĩ đại và anh hùng của nó. Nhiệt tình và phẩm chất của người La Mã chính là ở đấy.


Còn các anh hùng trái lại là những cá nhân, những người này dựa vào tính chất độc lập của tính cách và của ý chí họ, chấp nhận toàn bộ trách nhiệm về những hành động mà họ thực hiện, và ngay cả nếu như họ thực hiện những đòi hỏi của quyền lợi và chính nghĩa thì những hành động này cũng vẫn là sản phẩm của ý chí cá nhân họ. Ở trong khái niệm đạo đức, có sự thống nhất trực tiếp giữa yếu tố bản chất với các xu hướng, các ham muốn, ý chí cá nhân. Thành ra tính chất cá nhân tự bản thân nó là một pháp luật đối với chính mình chứ không phải vâng theo một pháp luật, một xét xử và một tòa án nào tồn tại độc lập ở bên ngoài. Chính vì vậy chẳng hạn, các anh hùng Hy Lạp hoặc là hành động trong một thời kỳ vẫn chưa có pháp luật hoặc là bản thân họ trở thành những người sáng lập những nhà nước. Kết quả là kết quả và trật tự, pháp luật và đạo đức là xuất phát từ họ và tồn tại với tính cách một sáng tạo cá nhân gắn liền chặt chẽ với họ.


Ngay những người cổ đại Hy Lạp đã ca ngợi Hêraklet như một anh hùng và chàng xuất hiện trước mắt chúng ta với tính cách lý tưởng của con người đạo đức anh hùng cổ xưa. Cái đạo đức tự do độc lập của chàng thúc đẩy ý chí của riêng chàng nổi lên chống lại những bất công và đấu tranh chống lại những con quỷ mang hình dáng người và hình dáng động vật không phải là một tình trạng chung của thời đại chàng mà chỉ thuộc riêng chàng và làm thành những đặc điểm tiêu điểm của chàng. Và với tất cả những điều đó, chàng vẫn không phải là một anh hùng về đạo đức như câu chuyện năm mươi cô gái của Thexpiôt chứng tỏ (năm mươi cô này đã có mang với chàng cùng trong một đêm). Chàng cũng không phải là quí tộc – chúng ta hãy nhớ chuyện các chuồng ngựa của vua Augiát. Trái lại, chàng đóng vai một sức mạnh hoàn toàn độc lập, bảo vệ công lý và chính nghĩa, và để thực hiện điều đó, chàng tự do lựa chọn và tình nguyện chịu những điều vất vả và vô số công việc. Kể ra, chàng làm một phần những chiến công của mình để phục vụ Orixthê và theo mệnh lệnh Orixthê; song tình trạng lệ thuộc này chỉ là một mối liên hệ hoàn toàn trừu tượng và không có mối liên hệ nào được xác định bởi pháp luật và được củng cố vững chắc làm cho chàng không thể hành động với tính cách một cá nhân độc lập.


Các anh hùng của Hômerơ cũng giống như chàng. Mặc dầu có một người cầm đầu chung tối cao, song sự liên hệ của họ không phải là một quan hệ đã được pháp luật quy định từ trước và bắt buộc họ phải phục tùng. Họ tự nguyện theo Agamemnôn, không phải là một ông vua theo ý nghĩa hiện đại của danh từ này: mỗi anh hùng đều đưa ra lời khuyên của mình, và Asin nổi giận rời khỏi những người khác, và nói chung mỗi người trong số này đi lại, hành động và nghĩ ngợi theo sở thích của mình. Các anh hùng của thi ca cổ A Rập cũng có tính chất độc lập như vậy: họ không gắn liền vào một tổ chức nào được quy định một lần là xong và họ không chỉ là những bộ phận nhỏ của cái tổ chức này. Các anh hùng trong “Sacname” của Phiếcduxi(6) cũng như vậy.


Ở phương Tây theo Thiên Chúa giáo, chế độ phong kiến và chế độ hiệp sĩ là cơ sở cho sự tồn tại một tầng lớp anh hùng tự do chỉ dựa vào cá tính của họ. Các hiệp sĩ của Bàn Tròn(7) cũng như các anh hùng tập hợp xung quanh Sáclơ vĩ đại(8) là như vậy. Sáclơ vĩ đại cũng như Agamemnôn có những vị anh hùng bao quanh và ông ta cũng bất lực đối với họ như Agamemnôn: bao giờ ông ta cũng phải hỏi ý kiến các thần bộc của mình và bắt buộc phải chịu đựng trong khi thấy họ chỉ vâng theo những dục vọng riêng. Dù cho ông ta có nỗi giận lôi đình và quát tháo họ như Giupite trên núi Ôlempơ, họ vẫn bỏ mặc ông ta giữa lúc ông ta đang tiến hành sự việc của mình để phó mặc số phận và độc lập tìm những cuộc phiên lưu của họ, xông pha những nguy nan, hiểm trở mà họ gặp phải.


Gương mẫu hoàn mĩ nhất của một quan hệ này giữa người cầm đầu với các hiệp sĩ là ở trong trường hợp của Xít(9). Mặc dầu Xít là một thành viên của liên minh, lệ thuộc vào nhà vua và phải thực hiện những nhiệm vụ của người thần bộc, nhưng luật lệ, danh dự với tính cách tiếng nói mạnh mẽ của cá nhân vị anh hùng và của tính chất vĩ đại trong trắng, tính chất cao thượng và quang minh của chàng lại đối lập lại cái liên minh này. Ở đây, nhà vua có thể xét xử, thông qua quyết định, tiến hành chiến tranh chỉ bằng cách hỏi ý kiến các thần bộc và được họ đồng ý. Nếu họ không đồng ý thì họ không chiến đấu; ngay dù cho đa số là trái lại, họ cũng không phục tùng, mỗi người đều độc lập tự chủ và hành động dựa vào ý chí và năng lực của bản thân. Một thí dụ tương tự với điều đó là bức tranh rực rỡ của thái độ độc lập kiên quyết mà ta thấy ở các anh hùng Xaradanh, họ còn tỏ ra ngoan cố hơn nữa. Ngay “Con chồn Rơna”(10) cũng cho thấy lại một cảnh tượng củ tình trạng tương tự. Thực vậy, sư tử là ông vua và ông chủ, nhưng chó sói, gấu… cũng tham dự hội nghị, Rơna và những con chó sói hành động theo ý muốn của chúng và nếu như tình hình dẫn tới việc khiếu nại về con chồn thì con vật tinh khôn dùng cách dối trá tinh ranh để thoát khỏi, hoặc nó lợi dụng những quyền lợi riêng của nhà vua và hoàng hậu để lừa dối nhà vua và khiến nhà vua thiên về phía nó.


(Còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.







([1])Sự tồn tại của yếu tố thực tế” hay “sức mạnh phổ biến” hay “nội dung sự sống chân thực” hay “yếu tố thần linh” v.v đều là những cách gọi khác nhau để chỉ một khái niệm duy nhất: những ý niệm có tác dụng chi phối đối với xã hội và nghệ thuật như: “Lí tưởng”, “chính nghĩa”, “đạo đức”, “nhân”, “nghĩa” v.v. Những cách gọi này ở đây dùng lẫn lộn thành ra rối rắm.




([2]) Thí dụ: khái niệm “cái đẹp” khi chưa thể hiện vào một tác phẩm nào đó thì nó là “không có tính chủ thể” (vì chưa thông qua cảm nghĩ chủ quan của nghệ sĩ), “trừu tượng”, “tuyệt đối ở bản thân nó” (vì chưa phải lệ thuộc vào một thể hiện cảm quan nào), là nguyên nhân đầu tiên của mình (vì “cái đẹp” không phải do một cái gì khác mà nó là nguyên nhân cho nó, nguyên nhân của cái đẹp là ở bản thân nó. Nói khác đi, đây là những cái mà Kant gọi là những phạm trù của lí tính, (không gian, thời gian), của thị hiếu (cái đẹp) của lí trí thực tiễn (cái thiện, cái chính nghĩa, cái đạo đức, Thượng đế) v.v. Danh từ “yếu tố thần linh” ở đây là quan niệm theo nghĩa của truyền thống duy tâm Đức  chỉ một phạm trù con người cần đến để tổ chức đời sống thực tiễn của mình.




([3]) Heroenzeit, “thời đại các anh hùng đây là thời đại được ca ngợi trong các sử thi, nhất là của Homerơ.




([4]) Virtus, từ La tinh có nghĩa là “đạo đức” rất xa chữ đạo đức của ta (với nội dung nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), virtus đây chỉ là cái đạo đức cần thiết cho vir (con người) La Mã với tính cách một công dân một nhà nước sống bằng chiến tranh chinh phục các nước khác để lấy nô lệ và của cải. Do đó, nội dung chính là tinh thần dũng cảm của một quân nhân và tinh thần kỷ luật của một công dân của cái res publica (nghĩa đen “sự nghiệp chung”, sau này được hiểu là nền cộng hòa với nghĩa république). Trái lại aretê của Hy Lạp là “đạo đức” của những cá nhân kiểu Achille khi chưa có nhà nước, đầy tính chất cá nhân.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »