tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28948988
Lý luận phê bình văn học
12.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (15)

Nhờ tính lý tưởng này, nghệ thuật nâng cao những sự vật mà nếu không có điều gì đó thì chẳng có giá trị gì hết. Mặc dầu nội dung của sự vật là vô nghĩa, nghệ thuật vẫn cố định hóa chúng ở trong sự tồn tại vì mình, lấy chúng làm mục đích và khiến chúng ta chú ý đến những vật mà nếu có nghệ thuật thì chúng ta sẽ bàng quan với chúng ở trong cuộc sống. Nghệ thuật cũng đảm nhiệm vai trò như vậy đối với thời gian, và ở đây, nó cũng bộc lộ tính tinh thần, lý tưởng của nó, nó làm cho tất cả những cái gì thoáng qua ở trong tự nhiên được ghi lại bởi nghệ thuật thành một cái gì tồn tại lâu dài. Dù đây là nụ cười thoáng qua, một nếp nhăn ở miệng đột nhiên xuất hiện tỏ sự chế giễu ranh mãnh, ánh sáng chốc lát, những nét của đời sống tâm hồn con người cũng như những biến cố và những trường hợp xuất hiện rồi biến đi, có mặt ở đấy một lát để rồi để quên đi ngay, tất cả những cái điều đó đều được nghệ thuật kéo ra khỏi sự tồn tại bóng chớp, giây lát, và về mặt này nữa nghệ thuật cũng cao hơn tự nhiên.


Nhưng ở trong tính chất lý tưởng về hình thức, điều nghệ thuật làm chúng ta quan tâm hơn cả không phải là bản thân nội dung mà là sự thỏa mãn mà nghệ thuật đưa đến bằng một sự sáng tạo có tính chất tinh thần. Sự biểu hiện của nghệ thuật cần phải có vẻ đẹp tự nhiên, nhưng đây không phải là tính tự nhiên như trong thực tế, mà đây là một hành vi qua đó yếu tố vật chất cảm quan và những điều kiện bên ngoài bị thủ tiêu. Chúng ta cảm thấy vui khi nhìn một biểu hiện gây cho chúng ta ấn tượng rằng đây là một sản phẩm của tự nhiên trong lúc đó thực ra nó là một sản phẩm của tinh thần. Các sự vật làm ta say mê không phải bởi vì nó tự nhiên là như vậy mà bởi vì nó được tạo ra một cách tự nhiên như vậy.


Một hứng thú sâu sắc hơn đối với tác phẩm nghệ thuật được gây nên do chỗ nội dung tác phẩm không những được biểu hiện dưới hình thức như ta thất nó trong sự tồn tại trực tiếp của nó. Do chỗ thấm nhuần tinh thần, nội dung này mở rộng và được bộc lộ một cách khác ngay trong phạm vi những hình thức như nhau. Mọi cái tồn tại một cách tự nhiên đều tồn tại ở trạng thái cá biệt tuyệt đối. Xét theo bất kỳ mặt nào của nó và theo bất kỳ quan điểm nào của nó, trái lại, biểu tượng chứa đựng ở mình một tính khái quát nhất định và tất cả những cái gì xuất phát từ đối tượng, cũng vì thế mà có tính chất khái quát khác với sự tách biệt của tự nhiên.


Về mặt này, biểu tượng có được ưu điểm ở chỗ nó có một nội dung rộng lớn hơn và có thể bao quát được cái yếu tố bên trong, nêu bật nó và giải thích nó một cách cụ thể. Kể ra, tác phẩm nghệ thuật không chỉ là một biểu hiện khái quát: nó còn là một sự cụ thể hóa nhất định cái biểu hiện này. Song vì nó nảy sinh do tinh thần và do sức mạnh của biểu tượng cho nên mặc dầu có tính chất sinh động trực quan, nó vẫn phải biểu lộ tính khái quát. Điều này cấp cho tác phẩm thơ một tính lý tưởng cao hơn so với tính lý tưởng hình thức chỉ nằm trong sự kiện là tác phẩm được làm ra.


Nhiệm vụ của tác phẩm nghệ thuật ở đây tóm lại là lý giải đối tượng ở trong tính khái quát của nó, và bỏ qua tất cả những gì ở trong hiện tượng bên ngoài của tác phẩm là xa lạ và bàng quan đối với sự biểu hiện nội dung. Nhà họa sĩ ở trong các hình thức và các biện pháp biểu hiện không phải sử dụng tất cả cái tài liệu anh ta tìm thấy ơt trong thế giới bên ngoài, và nếu như anh ta sử dụng nó thì không phải là vì anh ta tìm thấy nó với tính cách một vật có sẵn. Nếu như anh ta muốn sáng tạo một bài thơ thực sự, anh ta chỉ nắm lấy những nét tương ứng với khái niệm của đối tượng. Còn khi anh ta lấy tự nhiên và các sáng tạo của tự nhiên lamg mẫu mực thì anh ta làm điều đó không phải bởi vì tự nhiên đã sáng tạo nó theo một cách thích hợp và cái cách “thích hợp này” đối với nghệ sĩ là một cái gì cao hơn bản thân cái tồn tại.


Khi vẽ gương mặt một người, nhà nghệ sĩ không làm như một người lo phục hồi các bức tranh cổ, người này ngay cả ở những nơi anh ta vẽ lại mới cũng tái hiện những chỗ nứt của sơn và của màu, bằng cách phủ nhận tất cả các bộ phận cũ khác của bức tranh như bằng một cái lưới. Một bức chân dung  sẽ bỏ qua những nếp nhăn trên da, và lại càng bỏ qua những nốt đỏ, những mụn nhỏ, những vết sẹo do việc tiêm phòng, những dấu từ khi ra đời v.v… Tính chất tự nhiên gọi là tính chất tự nhiên của Đennerơ nổi tiếng không thể được xem là mẫu mực đối với những người vẽ chân dung. Các bắp thịt và các mạch máu miêu tả trên bức tranh không được xuất hiện rõ nét và chi tiết như trong tự nhiên. Bởi vì tất cả những cái đó có rất ít hay hoàn toàn không có yếu tố tinh thần và việc biểu hiện yếu tố tinh thần là điều chủ yếu ở gương mặt con người.


Vì vậy, tôi không thể nào cho rằng hiện tượng chúng ta có ít những bức tượng ở trần hơn các dân tộc cổ đại là một nhược điểm. Trái lại, cách cắt các áo quần chúng ta hiện nay là không có tính chất nghệ thuật mà có tính chất nôm na nếu so sánh với những ý phục lý tưởng hơn của người cổ đại.


Cả hai hình thức áo quần đều có một mục đích chung là che đậy thân thể. Nhưng quần áo như được biểu hiện trong các tác phẩm nghệ thuật cổ đại là một diện tích ít nhiều không có hình thù và chỉ bị qui định ở chỗ nó cần phải bám vào một nơi nào đó trên thân thể: trên vai chẳng hạn. Về phần còn lại thì quần áo có thể có bất kỳ hình thức gì và mặc vào con người một cách đơn giản và tự do phù hợp với sức nặng của bản thân. Nó hay bị qui định bởi vị trí của thân hình, tư thế là sự vận động của chân tay. Tính chất uyển chuyển này nhờ đó cái vỏ bên ngoài chỉ phục vụ sự biểu hiện thay đổi của tinh thần, xuất hiện ở cơ thể: kết quả là hình thức đặc biệt của quần áo, các nếp nhăn xuất hiện ở đây, cách kéo lên hay buông xuống đều hoàn toàn bị qui định do bên trong và chỉ thích hợp với tư thế hay vận động của cơ thể ở một giây phút nhất định: tính chất uyển chuyển này làm thành tính chất lý tưởng của áo quần.


Trái lại, trong áo quần chúng ta ngày nay, tất cả chất liệu đều được cắt may theo hình thức các bộ phận của cơ thể, thành ra quần áo hoàn toàn không có khả năng mang hình dáng và chỉ có một trình độ tự do kéo lên và buông xuống hết sức vô nghĩa. Ngay cả tính chất của các nếp nhăn cũng đã được qui định bởi những người cắt và cách cắt và hình thức buông xuống đều bị qui định bởi những người thợ may một cách hoàn toàn kỹ thuật và thủ công nghiệp. Mặc dầu cấu trúc của các bộ phận cơ thể nói chung vẫn qui định hình thức áo quần, nhưng trong khi thích nghi vào cơ thể con người, chúng chỉ làm thành một sự bắt chước vụng về, một sự nhại lại các bộ phận của cơ thể hoặc xuyên tạc chúng theo một thị hiếu ước lệ hay một sở thích đồng bóng ngẫu nhiên của một thời kỳ nhất định. Cách cắt sẵn của quần áo bao giờ cũng không thay đổi, không phản ánh vị trí và sự vận động tay chân như thế nào, các ống áo chẽn và ống quần vẫn trước sau như một. Trong trường hợp may mắn nhất, các nếp nhăn sắp xếp một cách khác nhau, nhưng ở đây chúng lại bị hạn chế bởi những cách may không thay đổi, như điều chúng ta thấy ở những cái quần trên bức tượng của Sacnơhoocxtơ. Chẳng hạn, do đó, áo quần chúng ta với tính cách một yếu tố bên ngoài không đủ thoát ly khỏi yếu tố bên trong để được nó quy định. Trong việc bắt chước vụng về cái hình thức của tự nhiên, quần áo vẫn không thay đổi và được cắt một lần là xong.


Điều chúng tôi vừa nói về các hình thức của thân thể con người và áo quần bao phủ cái thân thể ấy cũng áp dụng cho cả nhiều nét bên ngoài khác và nhiều đòi hỏi của đời sống con người tự bản thân nó là cần thiết và chung cho mọi người, nhưng không liên quan tới những đặc trưng và những hứng thú cơ bản về mặt nội dung làm thành yếu tố phổ biến của sự tồn tại con người dù cho những điều kiện vật lý bên ngoài như ăn, uống, ngủ, mặc v.v… gắn liền với những hành động xuất phát từ tinh thần là như thế nào đi nữa.


Kể ra, tất cả những yếu tố này đều có thể tả một cách nghệ thuật trong thơ, và chúng ta thừa nhận rằng Hômerơ là nhà thơ đầu tiên nhất về mặt này. Song mặc dầu ông say mê cái cụ thể và sự rõ ràng, mặc dầu tất cả cái energêia (sự rõ ràng), ông bắt buộc phải bó hẹp vào việc nhắc một cách chung chung về những tình hình này và không ai nghĩ đến việc yêu cầu ông phải liệt kê và miêu tả mọi chi tiết của đời sống hiện thực. Khi miêu tả thân hình Asin, ông nói đến cái trán cao, cái mũi thanh tú, đôi chân dài và lực lưỡng của chàng nhưng không miêu tả chi tiết các chi tiết hiện thực của những bộ phận này, vị trí của mỗi bộ phận, các quan hệ của nó với các bộ phận khác, màu da v.v… tóm lại một sự miêu tả thực sự tự nhiên về thân thể Asin.


Ngoài ra, ở trong thơ, phương thức biểu hiện bao giờ cũng nhằm nêu lên một biểu tượng khái quát khác tính cá biệt của tự nhiên. Thay thế các sự vật, nhà thơ bao giờ cũng chỉ nêu lên tên gọi, một từ trong đó cái đơn giản trở thành cái khái quát bởi vì cái từ được tạo nên từ biểu tượng và, do đó, chứa đựng ở nó tính khái quát. Ta có thể nói rằng người ta sử dụng tên gọi một cách tự nhiên ở trong biểu tượng, và trong ngôn ngữ, cái từ đóng vai trò một sự rút gọn vo tận cái sự vật tồn tại trong tự nhiên. Nhưng tính tưj nhiên thuộc loại này là đối lập trực tiếp với tính tự nhiên thứ nhất và loại trừ nó. Ở đây, nảy sinh câu hỏi chúng ta nói về loại tính tự nhiên nào đó để đối lập lại tính nên thơ bởi vì nói đến “tự nhiên” nói chung là dùng một từ mơ hồ và trống rỗng. Thơ ba giờ cũng phải nêu bật cái mặt mạnh, cốt tử, tiêu biểu ở trong cách miêu tả của mình và chính những yếu tố cơ bản này đối với sự biểu hiện mang tính chất lý tưởng, tinh thần, chứ không phải chỉ là một cái gì đơn thuần tồn tại trong hiện thực. Nếu như nghệ sĩ bắt đầu trình bày một cách đơn thuần những chi tiết hiện thực của một trường hợp, của một cảnh nào đó v.v… thì anh ta sẽ làm cho sự miêu tả trở thành nặng nề, vô vị, chán ngấy và không thể chịu được.


Về tính chất khái quát, có những sự khác nhau giữa các nghệ thuật khác nhau, còn có nghệ thuật có tính chất lý tưởng hơn, có nghệ thuật thiên nhiều hơn về tính chất trực quan bên ngoài. Điêu khắc chẳng hạn, ở trong các tác phẩm của nó là trừu tượng hơn hội họa, và trong lĩnh vực thơ, thì thơ sử thi về mặt sức sống bên ngoài là kém những tác phẩm kịch được trình diễn trên sân khấu, nhưng mặt khác lại hơn các tác phẩm này về tính toàn vẹn và trực quan. Bởi vì nhà thơ sử thi cấp cho ta những hình ảnh cụ thể về biến cố mà anh ta nhìn thấy, trái lại, nhà viết kịch cần phải bó hẹp vào việc miêu tả các động cơ bên trong của các hành động, các nhân vật, ảnh hưởng của các động cơ ấy tới ý chí và những phản ứng tới đời sống tâm hồn bên trong.


Bởi vì tinh thần thể hiện cái thế giới bên trong của mình với một nội dung hấp dẫn đối với nó dưới hình thức một hiện tượng bên ngoài cho nên về mặt này có thể nảy sinh câu hỏi: sự đối lập với đối tượng của tự nhiên có ý nghĩa gì. Danh từ “tự nhiên” không thể nào dùng trong lĩnh vực này theo cái nghĩa thực sự của nó bởi vì tự nhiên không tồn tại trực tiếp với tính cách một biểu hiện bên ngoài của tinh thần như đời sống động vật, phong cảnh thiên nhiên chẳng hạn, mà nó là biểu hiện của tinh thần và mang tính lý tưởng hóa bởi vì tinh thần tự thể hiện mình ở trong thân thể. Sự lý tưởng hóa còn được biểu lộ bởi việc thâm nhập vào tinh thần, sự hình thành và cấu tạo bằng tinh thần. Người ta nói về những người chết rằng gương mặt của họ lại mang cái vẻ mà nó đã có trong lúc tuổi thơ. Sự biểu hiện các dục vọng đã ăn sâu vào cơ thể, các tập quán và các xu hướng, cái điều tiêu biểu cho tất cả mọi mong muốn và mọi hành động của họ đã biến mất và tính chất mơ hồ của những nét mặt thời thơ ấu lại quay lại. Trái lại, trong khi sống vẻ mặt và tất cả khuôn mặt đều bị qui định bởi cái thế giới bên trong. Chẳng hạn các dân tộc, các đẳng cấp khác nhau biểu lộ ở trong hình dáng bên ngoài của họ những sự khác nhau và những xu hướng tinh thần và các hoạt động của họ. Trong tất cả những quan hệ này, cái bên ngoài đóng vai một cái gì thấm nhuần tinh thần và do tinh thần sản sinh, nó mang tính chất lý tưởng hóa đối lập với tự nhiên với tính cách tự nhiên.


Ở đây vấn đề tự nhiên là lý tưởng lần đầu tiên mới có được ý nghĩa thực sự của mình. Bởi vì có người khẳng định rằng tự thân các hình thức tự nhiên của yếu tố tinh thần tồn tại ở trong thế giới hiện tượng không do nghệ thuật tái hiện, có một trạng thái tuyệt mỹ đẹp đẽ và ưu tú đến nỗi không thể nào có cái đẹp cao hơn cái đã tồn tại và vì lý do ấy làm thành lý tưởng, thậm chí người ta cho rằng nghệ thuật không thể nào đạt đến trình độ cái đẹp mà nó tìm thấy ở trong tự nhiên. Trái lại, những người khác thì lại yêu cầu nghệ thuật cần những hình thức khác độc lập lý tưởng hơn và những khả năng biểu hiện khác những cái đã có trong nghệ thuật. Về mặt này cuộc bút chiến của ông Phôn Rumo mà chúng tôi đã nhắc đến là quan trọng. Sở dĩ như vậy là vì nếu như những người khác không ngừng nói đến lý tưởng coi khinh và coi thường tự nhiên thì ông Phôn Rumo lại nói một cách khinh thường như vậy về ý niệm và lý tưởng.


Sự thực là như sau: Trong thế giới tinh thần có cái bản chất tầm thường cả về bên ngoài lẫn bên trong: một bản chất bên ngoài thấp hèn bởi vì bên trong của nó cũng thấp hèn, trong những hành động và những biểu hiện bên ngoài, nó chỉ bộc lộ những xu hướng do lòng ghen ghét, lòng tham lam chật hẹp và tính dâm dật gây nên. Nghệ thuật có thể dùng cái bản chất thấp hèn này làm tài liệu miêu tả và thường nó cũng đã làm thế. Nhưng như chúng tôi đã nêu lên trước đây, trong trường hợp này hứng thú chủ yếu không phải là ở cái được miêu tả với tính cách đối tượng mà ở cách miêu tả, cái nghệ thuật dùng để khai thác và dù nghệ sĩ có cố gắng bắt một người có học thức quan tâm đến toàn bộ tác phẩm của mình, tức là đến một nội dung cũng như đến hình thức thì chỉ vô ích, bởi vì nghệ sĩ càng làm cho tài liệu này thành một cái gì sâu sắc hơn và có ý nghĩa. Cái gọi là tranh sinh hoạt không coi thường sự thể hiện những vật như vậy và các nhà hội họa Hà Lan vì sao lại chú ý tới loại này? Những bức tranh nhỏ này vốn có một sức hấp dẫn to lớn dối với chúng ta biểu hiện nội dung gì? Ta có nên vức bỏ hay bỏ qua những bức tranh này bằng cách gắn cho chúng cái nhãn hiệu là vẽ những vật thấp hèn, nhưng nếu ta xét kỹ hơn tài liệu thực sự của những bức tranh này thì chúng ta sẽ thấy rằng không phải thấp hèn như ta vẫn thường tưởng.


Những người Hà Lan đã tìm thấy nội dung những bức tranh của họ ở bản thân họ, trong đời sống thực tế của họ lúc bấy giờ, và ta không nên trách họ đã dùng nghệ thuật để tái hiện cái hiện thực của họ tìm thấy trước mắt. Những điều mà các nghệ sí đưa ra cho những người đương thời ngắm nhìn và suy nghĩ, và cái điều họ muốn làm cho những người đương thời chú ý đến phải rút ra từ nội dung cuộc sống đương thời, nếu như họ muốn rằng các tác phẩm của họ được thể hiện đồng thời với họ thích thú. Muốn biết điều gì lúc bấy giờ làm cho những người Hà Lan thích thú, ta cần phải xét đến lịch sử của họ. Bản thân người Hà Lan đã tạo ra một phần lớn đất đai trên đó họ sống, và họ đã bắt buộc phải không ngừng bảo vệ và chống đỡ cái đất đai ấy chống lại sự tấn công của biển. Các thị dân cùng với các nông dân nhờ tinh thần dũng cảm, sức chịu đựng và tinh thần gan dạ đã lật đổ ách thống trị Tây Ban Nha dưới thời Philip II con của Saclơ V, người thống trị thế giới, và họ đã giành được, cùng với quyền tự do thống trị cả quyền tự do tôn giáo, sau khi đã chọn tôn giáo tự do. Tinh thần công dân và tinh thần tháo vát này trong việc lớn cũng như trong việc nhỏ, trên đất nước của mình cũng như ở ngoài biển cả xa xôi, sự giàu có đẹp đẽ được chăm lo săn sóc và chú ý cẩn thận, niềm tự hào vui tươi do chỗ nhận thức rằng sở dĩ họ có được tất cả những điều này là do hoạt động của mình, đó là cái làm thành nội dung khá quát của những bức tranh của họ. Tài liệu này và nội dung này không hề mang tính chất tầm thường và nó đối lập lại với tiêu chuẩn duy nhất là một cuộc sống triều thần và cách cư xử của xã hội thượng lưu. Thấm nhuần tình cảm tự hào dân tộc chính đáng này, Rămbrăntơ đã vẽ trên bức tranh nổi tiếng của mình “Đi tuần ban đêm”. Hiện nay ở Amxtecđam, Van Đâycơ vẽ nhiều bức chân dung, Vuvecman vẽ những kỵ sĩ và ngay cả những bữa tiệc của nông dân, những cuộc vui chơi và những trò bông đùa ở đây nói lên tinh thần tự hào dân tộc.


Để so sánh, chúng tôi cũng nêu lên rằng trong cuộc triển lãm nghệ thuật năm nay, cũng có nhiều bức tranh sinh hoạt tốt nhưng nghệ thuật của chúng còn xa mới bằng được những bức tranh Hà Lan tương tự. Về nội dung của chúng, chúng cũng không vươn lên đến một trình độ tự do vui tươi và thấm nhuần như các bức tranh của người Hà Lan. Chẳng hạn, trước mắt chúng ta là một người đàn bà đến quán rượu để gây gổ với chồng. Ở đây chúng ta không thấy gì ngoài cảnh tượng những người giận dữ khó chịu. Trái lại, trong những bức tranh Hà Lan về những quán rượu, những đám cưới, và những cuộc vui và những cuộc ăn uống, chè chén, nếu như tình hình dẫn tới chuyện cãi cọ và đánh nhau thì nói chung tất cả những điều đó diễn ra một cách vui vẽ rộn ràng, đàn bà con gái cũng tham dự vào cuộc vu chung ấy và mọi vật đều thấm nhuần tình cảm tự do cởi mở. Niềm vui bên trong chính đáng ở trong sự thưởng thức thấm nhuần ngay cả những bức sinh hoạt loại miêu tả động vật, và biểu hiện ở trong những bức này tình trạng no nê thỏa mãn và tính chất tươi mát của tự do tinh thần và tính chất sinh động ở trong cách biểu hiện làm thành linh hồn cao quý của những bức tranh này.


Theo một ý nghĩa tương tự, những bức tranh Murilô miêu tả những người ăn mày trẻ tuổi (phòng triển lãm tranh trung ương của Monic) cũng là những bức tranh ưu tú. Nhìn bên ngoài, đối tượng miêu tả ở đây mang tính chất tầm thường. Một bà mẹ mắng nhiếc thằng bé của mình trong lúc nó vẫn điềm nhiên nhai bánh mỳ; hai thằng bé khác ở trên một bức tranh tương tự quần áo rách rưới đang ăn dưa hấu và nho. Nhưng ở trong tình trạng nghèo hèn và gần như trần truồng vẫn toát ra ở bên trong cũng như ở bên ngoài một tình cảm lành mạnh và vui sống, vẫn để lộ thái độ hoàn toàn vô tư chẳng kém gì tính chất thản nhiên trong tâm hồn một người tăng lữ sống khổ hạnh. Tình trạng lo lắng đối với thế giới bên ngoài và còn nói lên ở đây thái độ tự do bên trong mà đối với nó cái bên ngoài không có ảnh hưởng và làm thành khái niệm lý tưởng.


Ở Pari có bức chân dung một cậu bé của Raphaen: cậu ta ngồi an nhàn, đầu chống vào một cánh tay, nhìn về nơi xa xăm tự do với vẻ hạnh phúc thỏa mãn vô tư đến nỗi người ta không thể nào dứt ra khỏi việc chiêm ngưỡng bức tranh đầy tinh thần lành mạnh vui tươi. Chúng ta cũng cảm thấy cái cảm giác thỏa mãn như vậy trước những cậu bé của Murilô. Người ta thấy ngay rằng các cậu không có những hứng thú và những mục đích nào khác, nhưng không phải là vì các cầu ngu ngốc: các cậu ngồi đắc chí và hạnh phúc như những thần linh trên núi Olempơ; các cậu không nói gì, nhưng đó là những con người vẹn thuần không hề biểu lộ một dấu vết gì về sự bực bội và băn khoăn trong tâm hồn. Trong khi nhìn thấy ở đấy những mầm móng của mọi khả năng trong tương lai, chúng ta cảm thấy tin rằng các cậu bé như thế có thể trở thành những con người ưu tú nhất. Quan niệm nghệ thuật này hoàn toàn khác quan niệm ta cảm thấy khi nhìn một người đàn bà cau có và giận dữ ở bức tranh đã nói trên hay nhìn một người nông dân đang quấn cái roi ngựa hay một người đánh xe ngựa nằm ngủ trên rơm.


Nhưng những bức tranh sinh hoạt như vậy phải có kích thước nhỏ. Hình dáng cảm quan bên ngoài của nó phải nói lên nó một cái gì không quan trọng, một cái gì chúng ta bỏ lại sau cả về mặt đối tượng được biểu hiện lẫn nội dung của bức tranh. Chúng ta không thể chấp nhận người ta biẻue hiện những sự vật này to như trong thực tế và nêu lên toàn bộ diện mạo sự vật trong thực tế mượn cớ là làm cho nó giống thực. Chỉ có chấp nhận thực tế và sự miêu tả cái mà ta vẫn gọi là những điều thấp hèn, bình thường chúng ta mới hiểu tại sao nó có thể trở thành nội dung của tác phẩm nghệ thuật.


Nhưng đối với nghệ thuật, ngoài ra còn có những đồ vật có tính chất lý tưởng hơn và cao hơn là việc miêu tả những chi tiết của bản thân niềm vui và tính chất trung thực thị dân này, bởi vì con người có những hứng thú và những mục đích nghiêm túc hơn, bắt nguồn từ sự phát hiện và việc đào sâu tinh thần và ở đây nó phải hài hòa với bản thân mình. Nghệ thuật cao sẽ là nghệ thuật nhằm phục vụ thể hiện nội dung cao hơn này. Chỉ về mặt này mới nêu lên vấn đề ta cần tìm ở đâu những hình thức thích hợp với sự biểu hiện cái nội dung này do tinh thần sản sinh ra. Có người cho rằng cũng như nghệ sĩ mang ở chính mình những ý niệm cao cả được thực hiện trong tác phẩm của anh ta, cũng vậy anh ta phải tự bản thân mình xây dựng cả những hình thức cao phù hợp với những ý niệm này, chẳng hạn các hình tượng thần Hy Lạp, các tông đồ, các thánh v.v…


Ông Phôn Rumo lên tiếng chống lại cách nhìn này. Ông cho rằng các nghệ sĩ đã lạc đường khi tự mình phát hiện những hình thức của mình, khác với những hình thức của tự nhiên và về mặt này ông nêu lên các liệt tác của người Italia và của người Hà Lan để làm gương mẫu noi theo. Về mặt này ông chỉ trích rằng “học thuyết về nghệ thuật trong sáu mươi năm gần đây ra sức chứng minh rằng mục đích, thậm chí mục đích chủ yếu của nghệ thuật là chỉnh lý sự sáng tạo của tự nhiên, rạo nên những hình thức không gắn liền với những cái có thực, bắt chước những sáng tạo của tự nhiên, nhưng làm cho nó đẹp hơn và dường như bù đắp cho loài người về chỗ tự nhiên không tạo ra được những nghệ thuật xinh đẹp hơn” (Những khảo sát Italia). Vì vậy ông ta khuyên nghệ sĩ hãy từ bỏ cái ý định của những người khổng lồ là nâng cao hình thức của tự nhiên, hoán cải nó, dù cho cái thái độ kiêu hãnh này của tinh thần con người về nghệ thuật mang tên gọi là cái gì đi nữa (trang 63).


Ông Phôn Rumo tin tưởng chắc chắn rằng ngay những đối tượng tinh thần cao quí nhất cũng đã có những hình thức bên ngoài làm người ta thỏa mãn ở trong thực tế và ông khẳng định rằng “sự biểu hiện nghệ thuật ngay cả khi đối tượng của nó là một nội dung tinh thần trác tuyệt nhất, vẫn không dựa trên những tín hiệu được lựa chọn một cách võ đoán mà dựa trên những hình thức hữu cơ có ý nghĩa đã được tự nhiên qui định”. Ở đây, ông Phôn Rumo chủ yếu muốn nói đến những hình thức lý tưởng của những người cổ đại đã được Vinkenman tập hợp lại. Sự khảo sát và hệ thống hóa các hình thức này là một cống hiến to lớn của Vinkenman mặc dầu ông ta rất có thể sai lầm về chi tiết. Chẳng hạn ông Phôn Rumo cho rằng (trang 115 nhận xét) việc kéo dài bộ phận dưới của bụng mà Vinkenman cho là một đặc điểm của hình thức lý tưởng thời cổ đại (Lịch sử nghệ thuật cổ đại, quyển I, chương 4, mục 2) thực ra là lấy ở các bức tượng La Mã.


Trong cuộc bút chiến chống lại lý tưởng, ông Phôn Rumo yêu cầu nghệ sĩ đặt toàn tâm toàn ý vào việc nghiên cứu các hình thức của tự nhiên. Chỉ trong các hình thức ấy cái đẹp mới bộc lộ theo nghĩa đen của nó. Bởi vì ông nói “cái đẹp quan trọng nhất là dựa trên tính chất đặc trưng của những hình thức ở trong tự nhiên chứ không phải dựa trên tính chất vô đoán của con người. Đây là một tính chất đặc trưng khiến cho các hình thức này làm thành những hình thức nhất định của những tiêu chí và những tín hiệu, khiến cho khi nhìn các tiêu chí này chúng ta bất giác hồi tưởng lại những biểu tượng và những khái niệm nhất định, đồng thời nhận thức cụ thể hơn những tình cảm đang nằm ngủ ở trong lòng ta” (trang 144). Như vậy “cái nét bí ẩn của tinh thần mà người ta thường gọi là ý niệm”, nối liền nghệ sĩ với các hiện tượng họ hàng của tự nhiên là ở đấy: nghệ sĩ ngày càng thấy rõ mong muốn của chính mình và càng có khả năng diễn đạt nó thông qua những hình tượng này (trang 105).


Cố nhiên ở trong nghệ thuật lý tưởng không thể nói đến những tín hiệu được lựa chọn một cách võ đoán, và nếu như việc bắt chước các hình thức lý tưởng này của người cổ đại, điều mà chúng tôi đã nói ở trên, cũng như việc bỏ quên những hình thức tự nhiên chân thực đã dẫn tới những biểu hiện trừu tượng sai lầm và trống rỗng thì ông Phôn Rumo đã có lí khi ông lên tiếng kiên quyết chống lại kết quả này.


Trong sự cố đối lập này giữa lý tưởng của nghệ thuật với tự nhiên, ta có thể nhận thấy những lập luận như sau:


Các hình thức tồn tại trong tự nhiên của nội dung tinh thần cần phải được xem là những hình thức tượng trưng theo cái nghĩa khái quát của từ này ở chỗ tự bản thân chúng không có một giá trị trực tiếp mà làm thành một hiện tượng của yếu tố bên trong và của tinh thần mà chúng biểu đạt. Nhờ vậy, ngay ở trong sự tồn tại hiện thực của nó, ở ngoài phạm vi nghệ thuật, nó đã mang yếu tố tinh thần khác tự nhiên với tính cách tự nhiên, là cái chúng không mảy may nói lên tính tinh thần. Nội dung bên trong của tinh thần, do đó, phải nhận một thể hiện  bên ngoài ở trong nghệ thuật ở trình độ cao nhất của mình.


Nội dung này nằm ở trong cái tinh thần thực tế nhân tính và cũng như cuộc sống bên trong của con người nói chung, nó có một hình thức bên ngoài của mình và biểu lộ mình bằng hình thức đó. Chúng ta không thể nào không đồng ý với điểm này, song vấn đề là ở chỗ phải chăng trong thực tế có những hình tượng và những gương mặt đẹp và gợi cảm có thể trực tiếp dùng làm chân dung để biểu hiện một thần Giuypite vĩ đại, bình thản hùng mạnh, một nữ thần Vênuýt, hay thánh Pie, Giêxu, thánh Giăng, Maria. Câu hỏi này là hoàn toàn không thể giải quyết được về mặt khoa học. Người ta có thể tranh cãi về chỗ này, đưa ra những bằng chứng để bênh vực và để chống lại. Những vấn đề vẫn hoàn toàn mang tính chất kinh nghiệm và thậm chí không thể giải quyết được với tính cách một vấn đề kinh nghiệm. Phương thức duy nhất để giải quyết nó đó là chứng minh các mẫu mực này có thực: một điều hầu như không thể làm được đối với các thần linh Hy Lạp chẳng hạn, và ngay cả ngày nay nữa, bởi vì có những người khác mặc dầu khôn ngoan gấp ngàn lần vẫn không thấy một gương mặt nào như thế.


Ngoài ra, cái đẹp của hình thức vẫn chưa làm thành lý tưởng bởi vì lý tưởng bởi vì lý tưởng đòi hỏi cá tính của nội dung, và do đó cả cá tính của hình thức nữa. Một gương mặt đẹp có hình thức hết sức đều đặn, chẳng hạn, là lạnh lùng và tẻ nhạt. Trái lại, các lý tưởng mà các vị thần linh Hy Lạp biểu hiện là những cá nhân có một đặc trưng nhất định ở trong phạm vi thể loại chung. Tính chất sinh động của lý tưởng chính là dựa trên chỗ cái ý nghĩa tinh thần cơ bản nhất định thâm nhập vào mọi mặt có tính chất bộ phận của hiện tượng bên ngoài: cử chỉ, vị trí vận động của thân hình, các đường nét của gương mặt, hình dáng các bộ phận của thân thể làm cho không còn lại cái gì là trống rỗng và không có ý nghĩa, trái lại đều thấm nhuần ý nghĩa này. Chẳng hạn, các tác phẩm điêu khắc Hy Lạp mà ngày nay chúng ta chứng minh là của Phiđiat làm cho người xem say sưa bởi cái sức sống thâm nhập tất cả. Lý tưởng ở đây vẫn còn duy trì tính chất chặc chẽ của nó mà chưa chuyển thành hấp dẫn và duyên dáng, và mỗi hình thức ở đây đều gắn với ý nghĩa chung là cái cần phải được thể hiện một cách cơ thể ở trong tác phẩm. Sức sống cao độ này cùng làm thành cái nét khu biệt của các nghệ sĩ vĩ đại.


Nếu so sánh với tính chất cá biệt của thế giới hiện tượng thực tại, thì ý nghĩa chủ yếu này có thể gọi là trừu tượng. Điều này càng áp dụng cho điêu khắc và hội họa là hai nghệ thuật chỉ tách một yếu tố mà không nói lên tính cách một cách toàn diện như điều Hômerơ đã làm, chẳng hạn trong hình tượng Asin khi miêu tả nội dung là nghiêm khắc và tàn nhẫn, và mặc khác lại dịu dàng và nhân ái, và cấp cho chàng nhiều phẩm chất tinh thần khác. Một ý nghĩa như vậy có thể biểu hiện cả trong hiện thực cụ thể; chẳng hạn hầu như không có gương mặt nào lại không có thể biểu hiện thái độ sùng kính, mộ đạo, vui vẻ v.v. Song ngoài những điều này, hàng ngàn nét tinh thần khác hoàn toàn không gần gũi hay không có quan hệ trực tiếp với một ý nghĩa chủ thể này là cái cần được biểu hiện.


Chính vì vậy một bức chân dung lập tức bộc lộ ngay do những đặc điểm riêng biệt của nó. Một vài bức tranh Đức và Hà Lan thời Trung cổ thường thường biểu hiện một người ân chủ và gia đình ông ta, vợ, con trai, con gái. Nhà nghệ sĩ muốn miêu tả họ chìm ngập trong những thái độ cung kính và vẻ mộ đạo thể hiện trong mọi nét của gương mặt họ. Nhưng ngoài ra, chúng ta vẫn nhìn thấy những người đàn ông là những chiến sĩ dũng cảm, những người có những tình cảm mạnh mẽ thiết tha với cuộc sống hoạt động và với những dục vọng, còn những người đàn bà là những người vợ tràn đầy sức sống và sức mạnh. Nếu ta so sánh Maria hay các thánh và các tông đồ đứng cạnh Maria, ngay ở trong những bức tranh nổi tiếng vì những người được miêu tả ở đây và những người trong tự nhiên là hết sức giống nhau thì chúng ta sẽ thấy rằng trên gương mặt của họ chỉ có một biểu hiện duy nhất và mọi hình thức, bộ xương, bắp thịt, những nét mặt im lìm hay cử động, tất cả đều tập trung vào sự biểu hiện duy nhất này. Tính chất lệ thuộc của mọi yếu tố của tác phẩm vào một mục đích duy nhất cũng làm thành nét khu biệt giữa sự biểu hiện lý tưởng với chân dung theo nghĩa đen của từ này.


Người ta có thể tưởng chừng nghệ sĩ chỉ cần chọn những hình thức ưu tú ở trong hiện thực, và tập hợp lại, như điều vẫn làm, ở trong các bộ sưu tập những hình chạm trên gỗ và trên đồng v.v. để tìm những hình thức thích hợp nhất với cái nội dung mà anh ta muốn biểu hiện. Nhưng sưu tập, tìm tòi, chọn lọc vẫn không đủ; nghệ sĩ còn phải làm một cách sáng tạo; anh ta phải hiểu biết sâu sắc những hình thức tương ứng và xây dựng nội dung của nó ở trong trí tưởng tượng của mình, bằng cách dùng hiểu biết này cũng như một xự xét đoán sâu sắc và một hiểu biết sâu sắc để phát hiện ra những hình thức tương ứng.


 


 


ĐẶC TÍNH CỦA LÍ TƯỞNG


 


 


Quan niệm lí tưởng với tính cách lí tưởng như chúng ta từ trước đến nay đã khảo sát theo khái niệm phổ biến của nó là đều tương đối dễ. Nhưng cái đẹp nghệ thuật với tính cách ý niệm lại không thể dừng lại ở khái niệm chung của nó vì khái niệm này đã chứa đựng một tính chất đặc biệt nhất định, cho nên cái đẹp nghệ thuật cần phải bước ra khỏi phạm vi của mình để bước vào lĩnh vực của thuộc tính cụ thể. Ở đây nảy sinh câu hỏi, làm thế nào lí tưởng vẫn tồn tại được trong khi xuất hiện trong lĩnh vực bên ngoài và hữu hạn, tức là trong lĩnh vực của cái không phải là lí tưởng và mặt khác làm thế nào sự tồn tại hữu hạn có thể chấp nhận cái đẹp lí tưởng của nghệ thuật theo tính chất của nó. Về mặt này, chúng ta phải xét ba điểm dưới đây:


Thứ nhất, thuộc tính của lí tưởng với tính cách lí tưởng;


Thứ hai, thuộc tính mà ở trong sự phát triển các yếu tố đặc thù của mình dẫn tới những sự khác nhau ở bản thân và giải quyết sự khác nhau này. Nói chung, ta có thể gọi nó bằng danh từ hành động;


Thứ ba, thuộc tính bên ngoài của lí tưởng.


 


 


 


 


I – THUỘC TÍNH CỦA LÍ TƯỞNG VỚI TÍNH CÁCH LÍ TƯỞNG.


 


Yếu tố thần linh với tính cách thống nhất và tính phổ biến.


Chúng ta đã thấy rằng nghệ thuật cần phải đặt vào trước hết là yếu tố thần linh vào trung tâm các biểu hiện của mình. Những yếu tố thần linh được quan niệm như là tính thống nhất và tính phổ biến chỉ có thể tiếp thu được đối với tư tưởng và vì bản thân chúng là một cái gì không có hình dáng, nên không thể trở thành đối tượng của hư cấu nghệ thuật. Chính vì vậy người Do Thái cổ và người Hồi giáo bị ngăn cấm không được phép xây dựng cho mình một hình ảnh về Thượng đế để chiêm ngưỡng một cách trực quan hơn vì họ không vượt ra ngoài giới hạn cảm quan. Ở đây không có chỗ đứng cho các nghệ thuật tạo hình: bởi vì các nghệ thuật này cần một hình tượng sinh động và cụ thể, và chỉ có thơ trữ tình là có thể ca ngợi sự hùng mạnh và sự vĩ đại của Thượng đế trong khi hướng về Thượng đế.


 


Yếu tố thần linh với tính cách một nhóm thần.


 


Mặt khác, vì yếu tố thần linh là đơn nhất và phổ biến, cho nó có một tính chất được qui định chủ yếu ở bản thân mình. Trong khi thôi không phải là một cái gì trừu tượng, nó nhập vào cái thế giới của các hình tượng có thể chiêm ngưỡng trực quan. Khi hư cấu lí giải thần linh, bằng cách thể hiện nó dưới một hình thức hình tượng nhất định, thì nảy sinh tính đa dạng của thuộc tính và chỉ ở đây cái lĩnh vực chân thực của nghệ thuật lí tưởng mới bắt đầu.


Bởi vì thứ nhất, cái bản thể thần linh đơn nhất, phân hóa ra và chia tách thành nhiều vị thần độc lập, tự túc, như ở trong chủ nghĩa đa thần của nghệ thuật Hy Lạp chẳng hạn; và ngay cả ở trong quan niệm Thiên chúa giáo, Thượng đế bên cạnh tính duy nhất thuần túy tinh thần ở trong bản thân cũng đóng vai một người thực tế tồn tại trực tiếp ở trong lĩnh vực trần tục và thế tục. Thứ hai, yếu tố thần linh ở trong hiện tượng cụ thể của mình và nói chung ở trong thuộc tính của mình biểu hiện cả trong trí tuệ và tình cảm, ý chí và hành động của con người. Những con người thấm nhuần tinh thần của Thượng đế, các thánh, các người tử vì đạo, các người hạn phúc và các người sùng đạo nói chung, cũng trở thành một đối tượng xứng đáng của nghệ thuật lí tưởng. Yếu tố thần linh khi chuyển sang sự cá biệt hóa, sẽ có được một tồn tại nhất định và, do đó, một tồn tại trần tục, và thứ ba, cùng với điều đó, xuất hiện những nét đặc thù của hiện thực chân tính. Bởi vì tất cả những cái gì lay động trái tim con người ở nơi sâu thẳm nhất và biểu lộ thành sức mạnh của nó, bất kỳ tình cảm, dục vọng, bất kỳ hứng thú sâu sắc nào, tóm lại tất cả sự sống cụ thể này làm thành tài liệu sinh động và lí tưởng là sự miêu tả và biểu hiện sự sống ấy.


Trái lại, yếu tố thần linh với tính cách tinh thần thuần túy trong bản thân mình chỉ là đối tượng của nhận thức tư tưởng. Còn cái tinh thần được thể hiện bằng xương bằng thịt ở trong hiện thực lại thuộc về nghệ thuật bởi vì nó bao giờ cũng chỉ nói với trái tim con người. Song ở đây lập tức xuất hiện những quyền lợi riêng và những hành động, những tính cách nhất định cùng với các trạng thái và các tình thế ở trong một giây phút nào đó, nói chung có một sự đan chéo với hoàn cảnh bên ngoài và ta cần phải nêu lên xem yếu tố lí tưởng trong mối liên hệ với đặc trưng này là ở chỗ nào.


 


Tính chất phẳng lặng của lí tưởng.


 


Theo những điều đã nói ở trên, muốn có lí tưởng giữ được tất cả tính chất của mình thì chúa Giêxu, các tông đồ, các thánh, những người hối lỗi và những người mộ đạo đều phải xuất hiện trước mắt ta với thái độ điềm nhiên hạnh phúc, hài lòng, dường như yếu tố trần tục với những túng thiếu và áp lực của vô số những điều rắc rối, những cuộc đấu tranh và những sự chống đối không thể đụng chạm đến họ. Đặc biệt, điêu khắc và hội họa đã tìm được những hình tượng lí tưởng theo nghĩa này để biểu hiện các thần linhkhác nhau, cũng như để biểu hiện Giêxu với tư cách đấng cứu thế, các tông đồ và các thánh.


Điều chân thực ở bản thân nó ở đây chỉ được miêu tả trong sự tồn tại của mình như là tương ứng với bản thân chứ không phải như là vượt ra khỏi phạm vi của mình và nhập vào các điều kiện xuyên tạc nó của sự tồn tại bên ngoài. Mặc dầu một sự miêu tả phong bế ở bản thân như vậy không phải không mang những nét riêng, song những yếu tố đặc thù không phù hợp với nhau ở trong sự tồn tại hữu hạn bên ngoài ở đây đều đã bị tước bỏ và trở thành một thuộc tính đơn thuần, kết quả là các dấu vết của một ảnh hưởng bên ngoài nào đó dường như bị gạt bỏ hoàn toàn.


Cái vẻ nghỉ ngơi vĩnh viễn, không làm gì hết, thái độ nghỉ ngơi ta thấy chẳng hạn ở Hêraklet, làm thành phương tiện lí tưởng với tính cách lí tưởng ngay trong thuộc tính của nó. Ngay cả khi các thần linh can thiệp vào các biến cố bên ngoài thì ở đây họ cũng phải giữ cái vẻ vĩ đại bất tử gắn liền chặt chẽ với họ. Giupite, Giunô, Apôlông, Macxơ chẳng hạn, đại diện cho những sức mạnh cụ thể nhưng đây là những sức mạnh cố định, có tự do đầy đủ ở trong bản thân mình ngay cả trong trường hợp hoạt động của họ là hướng về cái thế giới bên ngoài. Vấn đề không phải ở chỗ thuộc tính của lí tưởng có thể đóng vai một điểm đặc thù, mà là ở chỗ tự do tinh thần cần phải đóng vai một tổng thể, tổng thể này trong khi chỉ lệ thuộc vào bản thân, đồng thời lại có đầy đủ mọi khả năng riêng biệt.


Ở lĩnh vực thấp hơn, trong lĩnh vực tồn tại trần tục và của con người, sức mạnh của yếu tố lí tưởng biểu lộ ở chỗ một nội dung cốt tử nào đấy trong khi tràn ngập con người đồng thời có thể đóng vai hình thức tính riêng biệt của chủ thể. Nhờ đó, cái đặc thù ở trong hành động và tình cảm thoát khỏi ảnh hưởng của tính ngẫu nhiên và những nét riêng cụ thể xuất hiện nhất trí chặt chẽ với cái chân lí thực sự ở bên trong. Tất cả những gì được gọi là cao thượng, ưu tú và hoàn mĩ ở trong trái tim con người đều là biểu hiện của một bản chất chân thực có tính tinh thần của đạo đức, thần linh có sức mạnh biểu lộ ở chủ thể. Bởi vì con người chuyển hoạt động, sức mạnh ý chí, các hứng thú, các dục vọng v.v. của ý chí vào trong cái yếu tố có tính bản chất này để nhờ đó thỏa mãn những đòi hỏi chân thực bên trong của mình.


Nhưng mặc dầu đặc trưng của tinh thần và của biểu hiện bên ngoài của nó, ở trong lí tưởng chỉ bó hẹp vào bản thân, cái nguyên lí của tính đặc thù hướng về cái bên ngoài vẫn tỏ ra gắn liền trực tiếp với sự phát triển, và do đó – do cái hướng đi ra ngoài, - nên nó gắn liền với sự khác nhau và với cuộc đấu tranh của những mặt đối lập.


Điều này dẫn ta tới chỗ khảo sát chi tiết hơn các đặc trưng khác nhau ở trong bản thân mình của cái lí tưởng phát triển dưới hình thức một quá trình. Nói chung chúng ta có thể gọi đặc trưng này là hành động.


 


(Còn tiếp).


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »