tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28968930
Lý luận phê bình văn học
12.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (14)

Thực trạng lệ thuộc của sự tồn tại cá biệt trực tiếp.


 


Từ những điều chúng ta vừa nói, ta rút ra một kết luận quan trọng. Như chúng ta đã thấy, sở dĩ ý niệm có được một tồn tại hiện thực là nhờ có tính chất trực tiếp của sự vật cá biệt. Nhưng tính chất trực tiếp này lại tạo ra giữa nó với cái thế giới bên ngoài những quan hệ rắc rối và chằng chịt. Ý niệm gặp phải áp lực những hoàn cảnh và những điều kiện bên ngoài, gặp phải tính chất tương đối của những mục đích và những phương tiện. Nó bị cuốn vào cơn lốc của những hiện tượng hữu hạn. Sự vật cá biệt trực tiếp, thực vậy, trước hết là một đơn vị phong bế ở trong bản thân, và với tính cách như vậy, nó tự vạch ranh giới của mình một cách phủ định đối với mọi cái gì không phải là nó. Đó là tình trạng cô lập trực tiếp bắt nó lâm vào một sự tồn tại có điều kiện, nó bị cái toàn thể mà tính hiện thực không phải nằm trong bản thân, thúc đẩy nó phải xác lập những quan hệ với tất cả những gì không phải là nó đến nỗi nó bị lệ thuộc vào những sự vật không phải là nó.


Trong tình trạng không tồn tại trực tiếp này, ý niệm thể hiện từng phương diện của mình một cách tách rời và mối liên hệ giữa các tồn tại tách biệt nhau, những tồn tại tự nhiên cũng như những tồn tại tinh thần chẳng qua là do sức mạnh bên trong của khái niệm tạo nên. Đối với tồn tại tách biệt này liên hệ đóng vai một cái gì từ bên ngoài đem đến, làm thành một tất yếu bên ngoài do vô số quan hệ qua lại tạo nên và do chỗ mối quan hệ chịu ảnh hưởng các quy luật lại bắt nguồn ở chỗ khác. Xét theo khía cạnh này, sự tồn tại trực tiếp làm thành một hệ thống những quan hệ tất yếu giữa các sự vật cá biệt với các sức mạnh được dùng làm phương tiện để phục vụ những mục đích xa lạ với sự vật hay bản thân sự vật cần một sự tồn tại ở bên ngoài mình để làm phương tiện. Và nói chung, ý niệm ở đây chỉ được thể hiện trong lĩnh vực của sự tồn tại bên ngoài, cho nên người ta có cảm tưởng nhìn thấy đây là một trò chơi của võ đoán và ngẫu nhiên, của sự nghèo nàn và thảm hại về tinh thần. Sự vật cá biệt trực tiếp sống trong vương quốc của tình trạng không tự do.


Một động vật đơn nhất chẳng hạn, bị ràng buộc vào một yếu tố tự nhiên nhất định: không khí, nước hay đất, các yếu tố này quy định mọi phương thức sinh hoạt, các phương thức tìm kiếm thức ăn và cùng với điều đó, động vật quy định tất cả hành vi của mình. Sự kiện này làm nảy sinh những sự khác nhau to lớn mà người ta nhận thấy trong toàn bộ đời sống động vật. Có nhiều loài động vật trung gian như những con chim biết bơi, những động vật có vú sống dưới nước, những giống lưỡng thê và những chủng loại quá độ, song đây chỉ là những sự pha trộn chứ không phải là những sự tổng hợp cao đẳng bao quát tất cả.


Ngoài ra, để tự duy trì, động vật luôn luôn bị lệ thuộc vào tự nhiên bên ngoài, vào tình trạng nóng, lạnh, thiếu thức ăn. Điều đó khiến cho gặp hoàn cảnh môi trường nghèo nàn, động vật có thể mất tính toàn vẹn của hình thức, mất vẻ đẹp rực rỡ, trở thành gầy gò và chỉ có phản ánh tình trạng thiếu thốn thảm hại của những điều kiện trong đó nó sống. Nó giữ được hay hủy bỏ mất vẻ đẹp cố hữu là tùy theo những điều kiện bên ngoài.


Cơ thể con người trong sự tồn tại thể xác cũng lệ thuộc như vậy vào các sức mạnh tự nhiên bên ngoài; mặc dầu là ít lệ thuộc hơn động vật. Nó cũng chịu những điều ngẫu nhiên hư vậy, chịu những tình trạng bất lực không sao thỏa mãn được, những đòi hỏi tự nhiên, những bệnh tật có tác dụng phá hoại, mọi tình trạng thiếu thốn và nghèo nàn.


Nếu ta vươn lên một mức độ cao hơn ở trong hiện thực trực tiếp, vươn lên mức độ những hứng thú tinh thần thì tình trạng lệ thuộc mà chúng tôi vừa nói tỏ ra hoàn toàn tương đối. Chúng ta đã thấy điều này qua sự tương phản giữa các mục đích củ đời sống tâm hồn và những mục đích cao cả hơn của tinh thần, hai mục đích này có thể cản trở nhau, kìm hãm nhau và thậm chí thủ tiêu nhau. Con người với tính cách một cá nhân, để duy trì sự tồn tại của cá nhân mình có thể trở thành một phương tiện phục vụ những người khác, phục vụ những mục đích hữu hạn của họ, và đến lượt họ, họ lại sử dụng những người khác làm phương tiện. Cá nhân, như ta thấy y ở trong cái thế giới hàng ngày và tầm thường, do đó không bộc lộ mình hoàn toàn trong các hoạt động. Nói khác đi, các hoạt động của y không làm thành biểu hiện của toàn bộ cá nhân. Cá nhân không thể hiểu được căn cứ vào bản thân y mà căn cứ vào cái không phải là y. Con người cá biệt, thực vậy, chịu ảnh hưởng những nhân tố bên ngoài, những luật lệ, những thể chế chính trị, pháp luật nhà nước, quan hệ công dân là những cái đã có, dù những điều này có phù hợp với nội tâm anh ta hay không. Ngoài ra, đối với những người khác, chủ thể không phải là một tổng thể ở bản thân mình, vì người ta có thể xét đoán và đánh giá anh ta căn cứ vào hứng thú trực tiếp theo các hành vi, các ý muốn và các ý kiến của anh ta đối với những người khác.


Điều con người quan tâm tới trước hết là cái gì liên quan tới các ý định và các mục đích của chính mình. Ngay những hành động to lớn và những biến cố to lớn – là sản phẩm của công trình tập thể – cũng chỉ biểu hiện ở trong cái thế giới những hiện tượng tương đối này dưới trạng thái những xu hướng cá nhân, phức tạp và đa dạng. Một cá nhân này hay một cá nhân khác đem đến cái cống hiến của mình bằng cách tuân theo một mục đích này hay một mục đích nọ mà anh ta có thể thực hiện được hay không, và nếu như trong trường hợp may mắn anh ta có thể thực hiện được, thì điều anh ta đạt được lại có vẻ hoàn toàn thứ yếu đối với cái toàn thể. Điều mà phần lớn các cá nhân thực hiện được về mặt này, nếu ta so sánh với tầm quan trọng của toàn bộ biến cố và của toàn bộ các mục đích mà họ thực hiện được thì chẳng qua chỉ là một sự nghiệp bộ phận. Và những người đứng đầu tưởng đâu rằng và cảm thấy rằng tất cả sự nghiệp này là sự nghiệp của mình thì có thể nói đều bị giam hãm trong cái lưới những toàn cảnh đặc biệt, những cản trở và những điều kiện tương đối.


Vì tất cả những lý do ấy, cá nhân, nếu chỉ xét ở lĩnh vực này, không cấp cho ta những điều làm cơ sở cho cái đẹp. Thực vậy, hiện thực trực tiếp của con người, các biến cố và các thể chế của y đều có một hệ thống nhất định và một tổng thể những hoạt động. Song, cái toàn thể này chỉ làm thành một tổng thể những chi tiết , những công việc và những hoạt động bị phân chia thành vô số bộ phận; kết quả là phần của mỗi người chỉ làm thành một bộ phận vô nghĩa của cái toàn thể. Kết quả là, dù cho các mục đích riêng mà mỗi cá nhân theo đuổi và các quyền lợi riêng khiến cho y hoạt động là như thế nào đi nữa thì tính chất tự do và độc lập của ý chí của y cũng vẫn mang tính hình thức, bị qui định bởi những hoàn cảnh và những điều ngẫu nhiên ở bên ngoài và bị kìm hãm bởi những cản trở tự nhiên.


Cái thế giới nôm na xuất hiện trước ý thức của mỗi con người và của mọi người là như thế đấy. Cái hữu hạn, cái quá độ và cái tượng đối thống trị thế giới này. Đây là cái thế giới bị tính tất yếu bọp nghẹt và con người riêng lẻ không thể thoát khỏi nó. Bởi vì mỗi cá nhân sống đều vấp phải mâu thuẫn sau đây: trong khi tự do mình là một đơn vị phong bế nhất định, cá nhân đồng thời lại lệ thuộc vào những sự vật khác. Cuộc đấu tranh để giải quyết mâu thuẫn này vẫn chỉ là những cố gắng và không sao thoát khỏi tình trạng chiến tranh không ngừng.


 


Tính chất hữu hạn của tồn tại trực tiếp của cá nhân.


 


Cuối cùng, sự vật cá biệt trực tiếp không những lệ thuộc vào thế giới tự nhiên và thế giới tinh thần mà còn không có tính độc lập tuyệt đối, bởi vì nó bị hạn chế hay đúng hơn, nó mang ở bản thân tính cá biệt hóa.


Mọi động vật cá biệt đều thuộc vào một giống nhất định, hạn chế, không thay đổi và không thể vượt ra ngoài các giớ hạn của mình. Tinh thần rất có thể có một cái nhìn chung về sự sống với cách tổ chức của nó, song trong tự nhiên hiện thực, cái thể hữu cơ phổ biến này lại bị tách ra thành vô số những điểm đặc thù, mỗi điểm như vậy đều có cái loại hình tiêu biểu và có trình độ phát triển riêng so với những mặt nhất định của thể hữu cơ. Ở trong những ranh giới không thể vượt qua được như vậy, người ta chỉ tìm thấy những điều ngẫu nhiên do những điều kiện bên ngoài đưa lại và sự lệ thuộc thay đổi tùy theo những điều kiện ngẫu nhiên và biểu hiện một cách đặc biệt ở từng sự vật cá biệt, phù hợp với các điều kiện này. Chính vì vậy mà tất cả những điều đó phá hoại cảnh tượng độc lập và tự do mà cái đẹp chân chính đòi hỏi.


Kể ra, tinh thần tìm thấy ở trong thể hữu cơ của mình sự biểu hiện hoàn toàn khái niệm vật hữu sinh tự nhiên. So với thể hữu cơ này, các giống động vật có thể tỏ ra là thiếu sót, thậm chí là những đại biểu thảm hại của sự sống ở những cấp thấp. Song thể hữu cơ của con người, cũng có những sự khác nhau về chủng loại mặc dầu thấp hơn nhiều, và biểu lộ những sự khác nhau về chủng loại và có một trình độ cao thấp khác nhau về hình thức cái đẹp đẽ phù hợp với điều đó.


Ngoài những sự khác nhau này mang tính chất chung, còn có nhiều điều ngẫu nhiên mang tính chất từng họ, được củng cố qua nhiều thế hệ, biểu lộ ở hành vi, cách biểu hiện, cách cư xử nhất định củ mình. Mọi điều này đem đến cho thể hữu cơ một tính chất cá biệt, hữu hạn và không tự do. Thêm vào đấy, lại có những đặc điểm về nghề nghiệp, những sự khác nhau về công việc ở trong những phạm vi sống chật hẹp, và cuối cùng lại có những nét đặc thù về tính cách và tính khí từng người cùng với những điều xuyên tạc và lệch lạc đi kèm theo các đặc điểm ấy. Nghèo nàn, lo lắng, giận dữ, tình trạng lãnh đạm và lạnh nhạt, những dục vọng điên cuồng, việc theo đuổi những mục đích phiến diện, tính chất thay đổi và sự tan rã về tinh thần, tình trạng lệ thuộc vào tự nhiên bên ngoài, nói chung mọi hạn chế của sự tồn tại con người đều in một dấu ấn loại biệt, bằng cách tạo nên những vẻ đẹp hết sức đặc thù với sự biểu hiện không thay đổi của nó. Ở trên những gương mặt, những dục vọng đã để lại dấu ấn những cơn bão táp có tác dụng phá hoại. Có những gương mặt chỉ biểu lộ một tâm hồn trống rỗng và nhạt tẻ, lại có những gương mặt khác hầu như đã hoàn toàn bỏ mất hình thức chung của mình.


Tính đa dạng của các hình thức ngẫu nhiên là không bao giờ cùng. Chính vì vậy trẻ em nói chung đẹp hơn người lớn. Ở trẻ em, mọi đặc điểm riêng đều còn nằm tiềm tàng như một cái mầm chưa bộc lộ, các dục vọng chật hẹp vẫn chưa làm trẻ em bị lay động và không có quyền lợi nào trong vô số những quyền lợi của con người đã in dấu vết tính tất yếu của chúng thay đổi những nét mặt. Nhưng mặt dầu trẻ em biểu lộ, có thể nói, mọi nét này ở trong biểu hiện sinh động của nó, trong tình trạng ngây thơ này, song trẻ em lại thiếu những nét sâu xa hơn của tinh thần mà hoạt động chỉ biểu lộ ở trong bản thân theo những hướng chủ yếu nhằm phục vụ những mục đích chủ yếu.


Tình trạng không hoàn mỹ của tồn tại trực tiếp cả về mặt vật chất lẫn tinh thần cần phải được xem chủ yếu là một tình trạng hữu hạn, không tương ứng với khái niệm của mình về sự biểu lộ tính hữu hạn của nó bằng sự không tương ứng này. Bởi vì khái niệm, và nói cụ thể hơn, bản thân ý niệm là vô hạn và tự do, mặc dầu đời sống động vật với tính cách sự sống vẫn làm thành một ý niệm nhưng nó lại không có được tính chất vô hạn và tự do. Tính chất này chỉ biểu lộ ở nơi nào khái niệm được nêu lên trong thực tại phù hợp với chính mình làm thành một cái gì chỉ làm chủ bản thân mình và không cho phép để lộ một cái gì khác nữa. Chỉ có như vậy thì khái niệm mới làm thành một tồn tại thực sự tự do và vô hạn. Nhưng sự sống tự nhiên không vượt ra khỏi phạm vi của cảm giác là cái vẫn nằm ở trong bản thân mình không thâm nhập vào toàn bộ thực tại. Ngoài ra, nó còn tỏ ra bị quy định trực tiếp, chật hẹp và lệ thuộc. Sở dĩ thế là vì nó không phải là tự do ở bản thân mà bị quy định bởi một cái khác. Đó cũng là số phận của cái hiện thực trực tiếp và hữu hạn củ tinh thần ở trong hiểu biết, ý chí các biến cố, các hành động và các số phận của tinh thần.


Mặc dầu ở đây đã hình thành những trung tâm chủ yếu nhưng chúng không phải chân thực ở mình và vì mình, và cũng như các chi tiết riêng biệt, chúng chỉ thể hiện cái chân thực trong các quan hệ qua lại của chúng với cái toàn thể. Cái toàn thể này với tính cách của mình, tương ứng với khái niệm của mình, nhưng không biểu lộ một cách toàn vẹn; trái lại, nó bị bó hẹp vào bên trong và chỉ tồn tại cho sự nhận thức cái bên trong bằng tư duy chứ không lộ rõ ở trong cái hiện thực bên ngoài làm thành sự tương ứng hoàn toàn của cái nội tại ở trong tự nhiên bên ngoài và rút ra hàng nghìn chi tiết cá biệt rải rác để tập hợp lại thành một biểu hiện duy nhất, một hình thức duy nhất.


Đó là lý do khiến cho ở trong tính chất hạn chế và ở trong tính tất yếu bên ngoài của nó, tinh thần không thể tìm lại được cái tự do thực sự và trực tiếp và tận hưởng cái tự do ấy, cho nên điều đó bắt tinh thần phải tìm ra sự thỏa mãn ở một trình độ cao hơn. Trình độ này là nghệ thuật và hiện thực của nghệ thuật là lý tưởng.


Như vậy, tính tất yếu của cái đẹp trong nghệ thuật là xuất phát từ những thiếu sót của hiện thực trực tiếp. Nhiệm vụ về sứ mạng của nghệ thuật có thể tóm lại ở chỗ nói lên những biểu hiện của sự sống và sự sống thấm nhuần tinh thần một cách hoàn toàn tự do, lộ ra bên ngoài, và làm cho biểu hiện bên ngoài phù hợp với khái niệm. Bây giờ chỉ có như thế cái chân thực lần đầu tiên mới thoát khỏi sự tồn tại hữu hạn và ở trong thời gian chứ không bi tan vào vô số các thành tố cá biệt. Đồng thời, nghệ thuật mang lại một biểu hiện bên ngoài ở đấy người ta nhìn thấy không phải tình trạng kém cỏi của tự nhiên và tính chất tẻ nhạt củ cuộc sống mà nhìn thấy một tồn tại xứng đáng với chân lý. Sự tồn tại này xuất hiện, tự do và độc lập trước mắt ta bởi vì nó bị qui định từ bên trong nó chứ không phải do một cái gì khác đưa vào bản thân nó.


 


 


 


 


Chương thứ ba


CÁI ĐẸP TRONG NGHỆ THUẬT


HAY LÝ TƯỞNG


 


 


Về cái đẹp trong nghệ thuật, chúng ta cần phải khảo sát ba điểm chủ yếu sau đây:


Thứ nhất, lý tưởng với tính cách lý tưởng.


Thứ hai, cách lý tưởng được thể hiện ở trong tác phẩm nghệ thuật.


Thứ ba, tính chủ thể sáng tạo của nghệ sĩ.


 


 


 


LÝ TƯỞNG XÉT Ở BẢN THÂN NÓ


 


 


Cái cá thể đẹp đẽ.


 


Những nhận xét trên đây về lý tưởng nghệ thuật cho phép ta nêu lên một cách hoàn toàn hình thức những kết luận sau đây. Cái chân thực chỉ tồn tại và là hiện thực khi nó được bộc lộ ở trong cái thực tế bên ngoài nhưng nó có thể khắc phục được sự chia tách giữa tồn tại và tính chân thực bằng cách hợp nhất cả hai và duy trì chúng thành một thể thống nhất làm thành, có thể nói cái linh hồn, cái chỉnh thể thấm nhuần từng bộ phận của hiện thực bên ngoài.


Chúng tôi xin giải thích điều đó bằng cách lấy thân thể con người làm thí dụ. Như chúng ta đã thấy; thân thể con người là một chỉnh thể, các khí quan làm thành những bộ phận của khái niệm. Mỗi bộ phận làm thành một hoạt động riêng và đều có chức năng mang tính chất bộ phận. Nhưng nếu như chúng ta tự hỏi mình xem tất cả tâm hồn biểu lộ với tính cách tâm hồn ở cơ quan nào thì chúng ta có thể trả lời ngay: ở trong đôi mắt. Tâm hồn tập trung ở trong đôi mắt và người ta không chỉ dùng đôi mắt để nhìn mà qua đôi mắt người ta còn thấy được tâm hồn. Cũng như khi nói đến vẻ bề ngoài của thân thể con người, chúng tôi đã nói rằng, toàn bộ diện tích của y khác thân thể của động vật: ở đâu đâu cũng biểu lộ nhịp đập của trái tim. Chúng tôi cũng sẽ nói về nghệ thuật có nhiệm vụ làm sao cho mọi điểm của các ngoại hình của nó, cái ngoại hiện trở thành con mắt, trung tâm của tâm hồn và làm cho người ta thấy được tâm hồn. Người ta nhớ khổ thơ hai câu nổi tiếng qua đó Platông nói về Aste(1):


“Khi anh nhìn ngàn sao, hỡi ngôi sao của tôi, ta muốn làm thành bầu trời.


Để dùng hàng nghìn con mắt ngắm nhìn anh!”


Ta có thể nói, bằng cách đảo ngược ý nghĩa, rằng nghệ thuật làm cho mỗi hình tượng của mình thành một Acgut(2) có nghìn mắt để cho tâm hồn và tinh thần biểu lộ ở mọi điểm của cái sáng tạo này. Nó biến không những hình dáng của thân thể, nét mặt cử chỉ và dáng điệu thành con mắt mà còn biến mọi hành vi và mọi biến cố, các tuyến điệu của tiếng nói, lời nói và âm thanh thành con mắt, tóm lại trong tất cả các điều kiện các hình tượng này xuất hiện cũng đều phải trở thành con mắt phản ánh một tâm hồn tự do trong cái vô tận bên trong của mình.


Bởi vì ở trong tác phẩm nghệ thuật mọi cái điều phải thấm nhuần tâm hồn, cho nên nảy sinh câu hỏi: cái tâm hồn mà tất cả các điểm của hiện tượng đều phải trở thành đôi mắt là cái tâm hồn gì, hay nói đúng hơn cái tâm hồn mà về bản chất của nó có thể biểu hiện hoàn toàn ở trong nghệ thuật là cái tâm hồn gì. Chúng ta vẫn thường nói đến cái tâm hồn loại biệt của kim khí, gỗ, đá, sao, động vật, các tính cách đa dạng của con người và các biểu tượng của nó.


Thực ra, danh từ “tâm hồn” theo ý nghĩa nói trên, khi áp dụng cho các sự vật của tự nhiên, chẳng hạn cho gỗ đá, cây cỏ chỉ dùng theo nghĩa bóng mà thôi. Tâm hồn của các đối tượng tự nhiên là hữu hạn, và chốc lát đối với bản thân mình, và đáng lý ra nên gọi đó là một tự nhiên được cá biệt hóa hơn là một tâm hồn. Cái cá tính cụ thể của các sự vật này đã biểu lộ hoàn toàn ở trong sự tồn tại hữu hạn của chúng. Do sự tồn tại hữu hạn của mình, việc sự vật được nâng lên lĩnh vực tính độc lập vô hạn và tự do vô hạn thì chẳng qua chỉ là một ngoại hiện mà thôi. nhưng khi đã xuất hiện, việc đã nâng lên như vậy bao giờ cũng chỉ có thể do từ bên ngoài, do nghệ thuật thông qua cái ngoại hình của mình chứ không hề bắt rễ vào bản thân các sự vật. Cũng vậy, cái tâm hồn có cảm giác là mang một sức sống tự nhiên vẫn là một cá tính chủ quan, nhưng ở bên trong, chỉ tồn tại ở trong hiện thực ở bản thân nó chứ không nhận thấy mình quay trở lại chính mình và do đó mà trở thành vô tận ở trong bản thân mình. Vì lý do ấy, chính nội dung vẫn là hữu hạn và các biểu hiện của nó một pan chỉ còn là vẻ sinh động hình thức, sự băn khoăn, vận động, khao khát, lo lắng và sự hài của cuộc sống bị lệ thuộc này, một phần chỉ là một biểu hiện của cuộc sống hữu hạn bên trong ở bản thân nó.


Chỉ cái vẻ sinh động này và sự sống của tinh thần mới làm thành một hiện tượng vô hạn tự do, và hiện tượng này cho phép nó trước sau vẫn là một cái gì ở bên trong đối với chính mình, và sau khi được biểu hiện, lại quay trở về mình và vẫn cứ là mình. Do đó, chỉ riêng có tinh thần mới có thể cấp cho cái vẻ bên ngoài của mình dấu ấn của tính vô hạn của bản thân và có thể tự do quay trở về bản thân, mặc dầu qua cái vẻ bên ngoài này, nó đã bước vào trạng thái hữu hạn. Song tinh thần chỉ là tự do và vô hạn do chỗ nó thực sự đạt đến tính phổ biến của mình, và cấp cho các mục đích mà nó nêu lên ở trong bản thân mình cái tính chất phổ biến như vậy. Còn nếu như nó không đạt được trình độ tự do này thì theo cái khái niệm riêng của mình, nó chỉ có thể đóng vai một nội dung chật hẹp, một tính cách khô héo, một tâm hồn tẻ nhạt và xanh xao.


Khi nội dung đã đi đến trình độ vô nghĩa như vậy thì ngay cả cái biểu hiện vô hạn của tinh thần, đến lượt mình, cũng sẽ trở thành hình thức như xưa, bởi vì lúc bấy giờ chúng ta chỉ có được một nội dung trừu tượng của tính tinh thần tự giác, với nội dung lại đối lập lại tính vô hạn của tinh thần tự do. Chính nhờ một nội dung chân thực và cốt tử như vậy mà sự tồn tại chật hẹp và thay đổi mới có được tính độc lập và tính bản chất. Ở đây, tính chính xác, tính xâu sắc và một nội dung được quy định chính xác và một cách bản chất đều được thực hiện cùng một lúc, và điều đó khiến cho sự tồn tại có thể biểu lộ qua cái nội dung chật hẹp của mình dưới hình thức của cái phổ biến cũng như dưới hình thức một tâm hồn vẫn giữ được bản chất củ mình.


Tóm lại, nghệ thuật có nhiệm vị lý giải và trình bày sự tồn tại ở trong các biểu hiện có tính chất hiện tượng thành chân thực, nghĩa là phù hợp với một nội dung bên trong nhất trí với bản thân mình và có giá trị riêng. Tính chân thực của nghệ thuật, do đó, không phải là một sự đúng đắn đơn thuần, chỉ lo bó hẹp vào cái gọi là bắt chước tự nhiên, mà nghệ thuật muốn được chân thực lại cần phải thể hiện một sự nhất trí giữa cái bên ngoài với cái bên trong, và cái bên trong , và cái bên trong phải là nhất trí với chính mình, và ở đây là điều kiện duy nhất để cho nghệ thuật có thể bộc lộ ra ngoài với tính cách nghệ thuật.


Trong khi kéo mọi cái ở trong các hình thức tồn tại khác bị xuyên tạc bởi vì những đặc thù ngẫu nhiên bên ngoài về một sự hòa hợp hài hòa với các khái niệm chân thực của mình, nghệ thuật đã giải phóng hiện tượng khỏi những cái không tương ứng với khái niệm chân thực này và sáng tạo ra lý tưởng thông qua một sự gạn lọc như vậy. Ta có thể gọi cách này là sự sịnh hót cũng như người ta nói về những người vẽ chân dung rằng họ nịnh hót cái nguyên mẫu của họ. Nhưng ngay cả người vẽ chân dung ít quan tâm tới lý tưởng nghệ thuật nhất, cũng phải nịnh hót theo cái nghĩa mà chúng ta dành cho chữ này, nghĩa là anh ta phải bỏ qua tất cả những chi tiết bên ngoài ở trong hình dáng về vẻ mặt, màu sắc, các nét của mặt, mọi phương diện thuần túy tự nhiên của sự tồn tại không hoàn mỹ của con người – tóc, chân lông, sẹo, những nốt trên mặt v.v… để chỉ tái hiện lại cái tính cách chung của đề tài trong những đặc điểm tinh thần lâu dài. Diễn đạt gương mặt bằng cách bắt chước đơn thuần, như một gương mặt ngồi yên trước mắt người vẽ chân dung với những đường nét bên ngoài hời hợt xuất hiện ngay trong lúc bắt chước là một việc, còn tái hiện lại những nét mặt chân thực qua đó nói lên bản thân tâm hồn của con người lại là một việc khác hẳn.


Bởi vì nếu lý tưởng đòi hỏi, đó là bản thân hình thức bên ngoài phải tương ứng với tâm hồn. Chính vì vậy mà những bức tranh được gọi là sinh động rất được thị hiếu ưa thích do bắt chước rất giống và khá thú vị những bức tranh của những kiệt tác nổi tiếng về nghệ thuật, miêu tả đúng đắn các chi tiết, áo quần v.v… nhưng về mặt biểu hiện tinh thần của các hình tượng thì thường thường lại đưa ra những gương mặt tầm thường và điều đó đã làm hỏng mất hiệu lực của những bức tranh này. Trái lại, hình các đức mẹ của Raphaen có những gương mặt, những gò má, những đôi mắt, mũi, miệng, xét với tính cách những hình thức nói chung là hoàn toàn phù hợp với tình yêu sung sướng vui tươi đồng thời với tình yêu hạnh phúc và khiêm tốn của người mẹ. Người ta có thể nói rằng mọi người đàn bà đều có thể có tình cảm như vậy, song không phải gương mặt đàn bà nào cũng có thể diễn đạt hoàn toàn một trình độ sâu sắc về tâm hồn như vậy.


Chính lý tưởng biểu lộ bản chất chân thực của mình bằng cách khiến cho sự tồn tại bên ngoài qui về tinh thần, hiện thực bên ngoài tỏ ra phù hợp với tinh thần đến mức trở thành một yếu tố bộc lộ tinh thần. Việc kéo về yếu tố bên trong như vậy không dẫn tới một sự khái quát hóa trừu tượng không đạt đến cái điểm cuối cùng do tư tưởng tạo nên mà có thể nói dừng lại giữa đường bằng cách bó hẹp vào sự trùng hợp hoàn toàn của yếu tố bên trong với yếu tố bên ngoài.


Lý tưởng khi làm thành một hiện thực trừu tượng rút ra từ khối lượng những điều đặc thù và ngẫu nhiên bởi vì yếu tố bên trong đóng vai một cá tính sinh động ở trong sự tồn tại bên ngoài này. Bởi vì tính chủ thể của cá nhân do chỗ mang ở mình một nội dung có tính chất bản chất và bắt nội dung biểu hiện qua sự tồn tại chủ quan này còn đứng ở giữa đường là nơi nội dung có tính chất bản chất vẫn chưa có thể bộc lộ một cách trừu tượng, dưới hình thức khái quát,ở tự bản thân mình, mà còn bị bó hẹp vào tính chất cá nhân và đan chéo với một sự tồn tại nhất định, cho nên sự tồn tại này đến lượt mình lại được giải phóng khỏi tính ước lệ hữu hạn và thực hiện một sự hài hòa tự do với đời sống bên trong của tâm hồn.


Sinle trong bài thơ: “Lý tưởng và cuộc đời” nói đến “cái đẹp của thế giới vắng lặng của các hình bóng” đối lập với thực tế, với những đau khổ và đấu tranh của nó. Cái thế giới của các hình bóng này là thế giới của lý tưởng. Các tinh thần xuất hiện ở đây tuy chết đối với sự tồn tại trực tiếp, đã thoát khỏi những đòi hỏi nghèo nàn của sự tồn tại tự nhiên, đã được giải phóng khỏi những sự trói buộc do tình trạng lệ thuộc vào những hình ảnh bên ngoài và tất cả những sự bóp méo và xuyên tạc gắn liền với tính chất chật hẹp mà các hiện tượng đem đến. Cố nhiên, lý tưởng bước vào lĩnh vực cảm quan và những hình thức tự nhiên của mình, nhưng lý tưởng đồng thời quay trở về mình bằng cách kéo theo mình cả thế giới bên ngoài. Bởi vì mọi cái gì ở trong hiện tượng bên ngoài cần tồn tại đều được nghệ thuật kéo về một sĩnh vực ở đây yếu tố bên ngoài có thể trở thành biểu hiện tự do của tinh thần.


Chỉ nhờ có lý tưởng mới tiếp xúc với chính mình ở trong yếu tố bên ngoài và dựa một cách tự do vào bản thân mình ở trong cái hạnh phúc dưới hình thức cảm quan, mới có được niềm vui và tự thưởng thức mình. Lời ca niềm hạnh phúc này vang lên qua mọi biểu hiện của lý tưởng, bởi vì hình tượng bên ngoài mở rộng đến đâu, linh hồn của ý tưởng vẫn không bao giờ biến mất và bắt gặp ở khắp nơi. Lý tưởng thực sự đẹp đẽ chính là nhờ thế: Vì cái đẹp chỉ tồn tại với tính cách một thể thống nhất hoàn chỉnh và của chủ thể; do đó chủ thể của lý tưởng cần phải khắc phục tình trạng phân tán tiêu biểu cho các trạng thái đặc thù của đời sống thực tế cho những mục đích và những nguyện vọng của chúng và quay trở về bản thân, đạt tới chính thể và tồn tại độc lập cao nhất.


Chúng ta có thể nói rằng nét cơ bản của lý tưởng đó là sự bình thản và hình thức trong sáng. Hình tượng nghệ thuật lý tưởng xuất hiện trước mắt ta với tính cách một vị thần hạnh phúc. Các vị thần hạnh phúc không chú ý tới những bất hạnh, những căm giận và hứng thú mà chúng ta đặt vào những lĩnh vực và những mục đích nhất thời và thái độ tập trung tích cực vào bản thân và phủ nhận tất cả cái gì đặc thù đã cấp cho họ cái vẻ bình thản tự tại và vui tươi như vậy. Xét theo ý nghĩa này, những lời của Sinle: “Cuộc sống là nghiêm túc, nghệ thuật là tươi vui” – Câu châm ngôn này nhiều khi đã gợi lên những lời châm biếm kệch kỡm, bởi vì nghệ thuật nói chung mà nhất là thơ của chính Sinle, nói riêng, vẫn mang tính chất hết sức nghiêm túc. Nghệ thuật lý tưởng thực ra không phải thiếu tính nghiêm túc nhưng ở ngay trong tính nghiêm túc này, cái nét chủ yếu của nghệ thuật cũng vẫn là niệm vui ở trong bản thân mình.


Chúng ta nhận thức được sức mạnh này của cá tính, sự chiến thắng này của cái tự do cụ thể tập trung vào bản thân ở trong vẻ thản nhiên tươi vui của các hình tượng của nghệ thuật cổ đại. Và điều này xảy ra không những trong những trường hợp chúng miêu tả một sự thỏa mãn đạt được không phải đấu tranh, mà ngay cả trong trường hợp tất cả sự tồn tại củ chủ thể là một bức tranh nêu lên cảnh tan vỡ sâu sắc của chủ thể ở bản thân. Chẳng hạn, nếu như các nhân vật bi kịch bị số mệnh đánh gục thì tâm hồn cua họ cũng rút lui vào bản thân bằng cách nói: số phận là thế! Như vậy, chủ thể bao giờ cũng trung thành với chính mình: y từ bỏ cái điều người ta đã cướp mất của y nhưng các mục đích này của y theo đuổi không những y không đạt được, mà bản thân y từ bỏ các mục đích ấy và nhờ vậy y vẫn cứ là mình. Con người bị số phận chà đạp có thể bỏ mất cuộc đời nhưng không bỏ mất tự do của mình. Chính thái độ độc lập bên trong này làm cho nhân vật bi kịch vẫn giữ được và vẫn biểu lộ thái độ bình thản yên tĩnh ngay trong đau khổ.


Trong nghệ thuật lãng mạn, tình trạng tan tác và không hài hòa của cuộc sống bên trong còn đi xa hơn, các mâu thuẫn miêu tả ở đây được đào sâu và có thể nổi bật trong tình trạng xung đột của chúng. Chẳng hạn, những bức tranh miêu tả cảnh nhục hình của Giêxu đôi khi nêu lên vẻ chế giễu và sự biểu hiện xấu xa đáng ghét trên các nét mặt của bọn lính tráng hành hạ Giêxu. Tình trạng trong sáng chiếm địa vị chủ yếu ở trong lý tưởng biến mất ở trong cách tái hiện sự chia rẽ và sự phân đôi, nhất là khi biểu hiện tật xấu, tội lỗi và cái ác. Và mặc dầu tình trạng tan tác ở trong nghệ thuật lãng mạn không phải bao giờ cũng chiếm một địa vị vững chắc như vậy, thường thường (tuy không phải bao giờ cũng thế) cái xấu hay, ít nhất cái không đẹp lại thay thế cái đẹp trong sáng. Trong hội họa Hà Lan biểu lộ sự trung thực không lay chuyển vào chính mình cũng như đức tin, nhưng tính chất vững chắc này vẫn không vươn lên được tới trình độ tươi sáng và thỏa mãn đã từng làm chủ trong lý tưởng. Đau khổ và vằn vặt ở trong nghệ thuật lãng mạn giày vò tâm hồn một cách sâu sắc hơn và các cảm nghĩ ở đây có tính chủ thể hơn là những người cổ đại, song trong nghệ thuật này vẫn có thể thể hiện một tình cảm dịu dàng về tinh thần, nỗi vui sướng do chỗ phục tùng số phận, hạnh phúc ở trong đau buồn và sự hưởng thụ ở trong đau khổ. Tuy vậy ở trong âm nhạc tôn giáo của Italia yếu tố nghiêm túc chiếm địa vị chủ đạo – ở đấy sự biểu hiện điều than thở thấm nhuần cái khoái lạc tương tự và sự hoán cải nỗi đau khổ. Nghệ thuật lãng mạn biểu hiện điều đó bằng nụ cười qua những giọt nước mắt. Những giọt nước mắt nêu lên nỗi đau buồn, nụ cười nêu lên sự trong sáng và nụ cười trong những giọt nước mắt nói lên tâm hồn vẫn điềm tĩnh mặc dầu bị hành hạ và khổ cực.


Nhưng nụ cười không được làm thành một biểu lộ tình cảm đơn thuần, nêu lên tính chất phù phiếm của một cá nhân nào đấy cũng không phải là do kết quả của thái độ liếc tình đối với chính mình để tỏ rằng mình cao hơn những điều vụn vặt vô nghĩa và những tình cảm thảm hại mà chúng gây nên: nụ cười phải biểu lộ sự chiến thắng và xuất phát từ tính tự do của một bản chất đẹp đẽ bất chấp mọi đau khổ. Chẳng hạn trong các trường ca về Xit người ta nói về Simen: “Nàng đẹp quá ở trong những dòng nước mắt”. Trái lại, tình trạng không tự chủ được mình là một điều xấu và đáng ghét hay buồn cười. Trẻ em chẳng hạn, gặp những điều không thích thú, dù nhỏ nhặt nhất, cũng khóc òa lên, điều đó làm ta phì cười; trái lại, những giọt nước mắt của một người nghiêm túc tự làm chủ được mình nhưng vẫn cảm động sâu sắc, gây nên một ấn tượng khác hẳn: nó làm ta cảm động.


Tiếng cười và nước mắt có thể chia tách khỏi nhau và được sử dụng một cách trừu tượng để làm thành những môtíp của nghệ thuật như tiếng cười ở trong bài hợp xướng “Người xạ thủ tự do” của Vêbe chẳng hạn. Nói chung, cái cười là một sự bột phát bất ngờ nhưng nó không được đi đến tình trạng làm mất thái độ tự chủ bởi vì nếu thế thì lý tưởng sẽ biến mất. Người ta tìm thấy ở đây một cái cười cũng thuộc loại này và cũng trừu tượng như vậy trong một đoạn hợp xướng gồm hai bộ phận của hai tác phẩm “Obêrôn” của Vêbe; song ở đấy khi nghe, ta bắt buộc cảm thấy lo ngại cho cổ họng và lòng ngực của người hát. Tiếng cười bất tận của các thần linh ở Hômerơ cấp cho ta một ấn tượng khác hẳn. Đây là cái cười xuất phát từ cái hạnh phúc phẳng lặng của các thần linh, chứ không phải là một tình trạng suồng sã trừu tượng.


Cũng hệt như vậy, tiếng khóc với tính cách biểu hiện một nỗi đau khổ không thể liềm chế được không có chỗ đứng ở trong tác phẩm lý tưởng. Về mặt này chúng tôi nhắc lại một lần nữa, tác phẩm “Người xạ thủ tự do” của Vêbe, ở đấy tiếng khóc mang tính chất một nỗi tuyệt vọng trừu tượng. Trong âm nhạc, tiếng hát là để biểu lộ niềm vui và nỗi sung sướng nghe mình hát cũng như tiếng hát tự do của con chim sơn ca. Dùng những tiếng kêu thét để biểu lộ nỗi đau khổ và niềm vui sướng vẫn chưa làm thành âm nhạc; ngay trong đau khổ cái giọng êm dịu của lời than phải xuyên qua nỗi đau buồn và làm cho nỗi đau buồn thành rạng rỡ đến nỗi người ta đi đến chỗ suy nghĩ rằng nếu đau khổ như vậy mà biểu hiện nỗi đau buồn bằng một lời than như vậy thì cũng bỏ công. Đó là vai trò cảu các giai điệu dịu dàng, của ca khúc trong mọi nghệ thuật.


Xuất phát từ đấy, ta có thể nhìn thấy một lời biện hộ, ít nhất trong một chừng mực nào đó, cho cái nguyên lý của “châm biếm” ngày nay, chỉ trừ một điều là một mặt, mỉa mai thường không có cái gì thực sự nghiêm túc, và nó thích sử dụng trong những đề tài kém cỏi, về mặt khác nó đi đến những đơn thuần của tâm hồn chứ không phải dẫn tới hành động thực sự và sự thực hiện thực sự. Chính vì vậy chẳng hạn Nôvalít, một trong những tâm hồn cao thượng nhất, đã chấp nhận quan diểm này chỉ đi đến chỗ từ bỏ mọi hứng thú cụ thể. Thoát ly hiện thữc để trở thành nạn nhân có thể nói của bênh lao về tinh thần. Đây là một ham muốn không chịu hạ thấp mình đến trình độ làm những hành động thực tế và đi đến sự sống thực tế bởi vì nó sự bị nhơ bẩn khi tiếp xúc với cái thế giới hữu hạn, mặc dầu nó vẫn cảm thấy sự trừu tượng hóa này làm cho nó không hài lòng.


Như vậy, châm biếm chứa đựng sự phủ định tuyệt đối, trong đó chủ thể trong khi hủy bỏ tất cả những gì mang đặc tính cụ thể và phiến diện, nó quay trở lại bản thân mình. Như chúng tôi đã nêu lên ở trên, khi khảo sát nguyên lý về sự châm biếm từ bên ngoài sự hủy bỏ làm ta ngạc nhiên không phải đóng vai một cái gì trống rỗng và vô nghĩa ở chính mình như điều xảy ra ở trong cái hài, là cái bản thân không không có giá trị và trống rỗng mà còn mở rộng ra đến những sự vật hoàn mỹ và tích cực. Với tính cách một nghệ thuật hủy bỏ tất cả do tính chất rầu rĩ vô bổ của nó, châm biếm, cũng như sự ham muốn mà chúng tôi đã nói ở trên, đi đến một trình độ không nhất quán, chẳng có gì là nghệ thuật cũng chẳng quan hệ gì với cái lý tưởng thực sự. Bởi vì lý tưởng cần đến một nội dung có tính bản chất ở bản thân mình, nội dung này tuy mang một hình thức và một hình tượng vay mượn từ bên ngoài, nhưng lại trở thành đặc thù và chứa đựng ở bản thân mình một sự hạn chế ở đấy tất cả những gì chỉ là bề ngoài đều bị bóp nghẹt và thủ tiêu. Chính nhờ có sự phủ định này đối với tài liệu bên ngoài trực tiếp mà cái hình thức nhất định và hình tượng cụ thể của lý tưởng cao cấp cho cái nội dung có tính bản chất một biểu hiện làm cho nó trở thành đối tượng của sự chiêm ngưỡng nghệ thuật và của biểu tượng.


 


Những quan hệ của lý tưởng đối với tự nhiên.


 


Mặt hình tượng và mặt bên ngoài mà lý tưởng cần đến chẳng kém gì một nội dung vững chắc ở bản thân mình, va cả hai mặt này thâm nhập vào nhau, tất cả phạm vi những vấn đề này bắt đầu chúng ta khảo sát các quan hệ giữa sự biểu hiện lý tưởng mà nghệ thuật nêu lên với tự nhiên. Bởi vì yếu tố bên ngoài của nghệ thuật và cấu tạo của nó là gắn liền với cái mà nói chung chúng ta gọi là tự nhiên. Về mặt này, cuộc tranh luận cổ xưa không ngừng được nêu lại về vấn đề nhưng vấn đề chưa giải quyết: phải chăng nghệ thuật nên cố gắng vươn tới một sự giống nhau bên ngoài giữa các biểu hiện của nó với các hiện tượng của tự nhiên hay là nghệ thuật cần phải nâng cao và hoán cải các hiện tượng tự nhiên. Với những cách diễn đạt mơ hồ như “quyền lợi của tự nhiên”, quyền lợi của cái đẹp”, “lý tưởng và sự trung thành với tự nhiên” người ta có thể bàn cãi không bao giờ dứt. Cố nhiên, tác phẩm nghệ thuật phải là tự nhiên, nhưng bởi vì còn có cả cái tự nhiên tầm thường, xấu xí mà nghệ thuật không nên bắt chước và mặt khác cuộc tranh luận vô tận và vô bổ này cứ tiếp tục hoài như thế.


Gần đây, vấn đề đối lập giữa đối tượng với tự nhiên lại được nêu lên hàng đầu và bắt đầu đóng một vai trò quan trọng nhờ Vinkenman. Như tôi đã nói điều này ở trên, thái độ say mê nghệ thuật đã thức tĩnh ở Vinkenman do ảnh hưởng của việc chiêm ngưỡng những tác phẩm cổ đại với các hình thức lý tưởng của chúng. Ông không thể yên lòng hễ còn chưa tìm đến nguyên nhân tính ưu việt của các tác phẩm này và chưa bắt thế giới thừa nhận lần nữa các kiệt tác này và nghiên cứu chúng. Nhưng việc thừa nhận như vậy dễ gây nên một cuộc chạy đua đi tìm cách biểu hiện lý tưởng ở đây người ta hy vọng tìm được cái đẹp. Song kết quả là người ta đã rơi vào những tác phẩm nhạt nhẽo, chết cứng, hời hợt, thiếu tính cách. Phôn Rumo, trong cuộc bút chiến đã nói trên, chống lại ý niệm và lý tưởng đã nhìn thấy tình trạng lý tưởng mất hẳn nội dung biểu lộ chủ yếu trong hội họa.


Lý luận cần phải giải quyết mâu thuẫn này. Còn về hứng thú thực tiễn, tính chất hữu hạn của bản thân nghệ thuật, lần này có thể chúng ta không nói đến. Người ta có thể đưa ra mọi nguyên lý để nêu bật những người tầm thường và tài năng của họ, song lý thuyết này bao giờ cũng vẫn không thay đổi, dù họ có theo một lý luận sai lầm hay một lý luận ưu tú nhất thì trước sau học cũng chỉ tạo ra những tác phẩm tầm thường và yếu đuối. Ngoài ra, nghệ thuật nói chung và hội họa nói riêng, vì những ảnh hưởng khác nữa đã từ bỏ việc tìm những cái gọi là lý tưởng như vậy và nhờ kích thước hứng thú đối với hội họa cổ của Italia và của Đức và đối với hội họa Hà Lan gần hơn cho nên họ đã đạt được hay ít nhất đã cố gắng đạt được một hình thức và một nội dung có thực chất hơn và sinh động hơn.


Song trong nghệ thuật không những các lý tưởng trừu tượng này mà cả tính tự nhiên trước đây được người ta thích cũng đã làm cho người ta chán ngấy. Trong kịch chẳng hạn, chúng ta đã chán những câu chuyện gia đình, giữa vợ chồng, con trai con gái, những lo lắng gây nên do tiền lương ít, thiếu phương tiện sinh sống, sự lệ thuộc vào các ông bộ trưởng cũng như những mưu mô của những người hầu phòng và các cô thư ký, chúng ta cũng đã chán những cuộc cãi vã giữa các bà chủ với các chị đầy tớ gái về việc nấu ăn cũng như những anh chàng ve vãn si tình với các cô gái đa cảm ở phòng khách. Tất cả những lo lắng và những khổ cực này người này cũng có thể thấy ở nhà mình dưới một hình thức ưu tú hơn và trung bình hơn. Thường thường, khi nói đến sự đối lập giữa lý tưởng với tự nhiên, người ta chủ yếu nhằm nói đến một nghệ thuật nào đó, chủ yếu là nói đến hội họa bởi vì lĩnh vực hội họa là cái cá biệt trực quan. Chúng tôi sẽ nêu lên vấn đề tính đối lập này dưới hình thức khái quát như nhau: nghệ thuật phải là thơ hay là văn xuôi vì yếu tố thực sự nên thơ ở trong nghệ thuật như là chúng tôi đã gọi là lý tưởng.


Nếu như câu chuyện chẳng qua nói về danh từ “lý tưởng” mà thôi, thì việc từ bỏ nó sẽ dễ dàng, nhưng lúc bấy giờ sẽ nảy sinh câu hỏi: ở trong nghệ thuật thơ là cái gì và văn xuôi là cái gì? Cần phải nói rằng nếu ta nhất thiết cố gắng cho đối tượng của nghệ thuật là một cái gì tự nó nên thơ thì người ta có thể, và đã từng kéo nghệ thuật đi theo một con đường sai lầm, khi hội họa, chẳng hạn, xuất phát từ một nội dung rõ ràng nên thơ tìm cách miêu tả cái gì rõ ràng là đối tượng của thơ, nhất là của thơ trữ tình. Trong cuộc triển lãm hội họa năm nay (1828) có giới thiệu một số bức tranh của những họa sĩ cùng thuộc một trường phái (gọi là trường phái Đuýtxenđoocphơ). Đề tài của tất cả các bức tranh này đều vay mượn ở thơ đặc biệt ở loại thơ chỉ miêu tả tình cảm. Nhưng nếu như ta nhìn các bức tranh này nhiều hơn và kỹ hơn, ta sẽ cảm thấy các bức tranh ấy là nhạt nhẽo và giả tạo.


Ở trong sự đối lập giữa lý tưởng và tự nhiên bao hàm những đặc trưng khái quát như sau:


Ngay xét về mặt hình thức, các tác phẩm nghệ thuật cũng mang tính lý tưởng, tinh thần. Thơ, như tên nó đã nói lên, là một tác phẩm do con người làm ra, là một cái gì con người đã quan niệm được, đã trau đi chuốt lại ở trong biểu tượng của mình và sau đó biểu lộ ra ngoài qua hoạt động của mình.


Nội dung có thể hoàn toàn không quan trọng hay có thể chỉ gây ở ta một hứng thú nhỏ nhặt, ở trong đời sống hàng ngày, ngoài sự biểu hiện nghệ thuật. Chẳng hạn, hội họa Hà Lan đã biết hoán cải các vẻ bên ngoài chốc lát của tự nhiên ở trong sự tái hiện củ con người và rút ra được những muôn vàn hiệu lực. Trong những bức tranh này, người ta chỉ cho chúng ta thấy những kim khí lấp lánh ánh sáng, ngựa, đầy tớ, những bà già, những nông dân buông ra những luồng khói từ những cái tẩu ngắn, rượu nho lấp lánh trong những cái bình trong suốt, những chàng trai mặc áo chẽn bẩn thỉu đánh bài. Những sự vật này và hàng trăm sự vật khác mà trong cuộc sống hàng ngày chúng ta không quan tâm đến, bởi vì khi đánh bài, uống rượu, nói chuyện và tán chuyện này chuyện nọ, chúng ta lại chú ý đến những hứng thú hoàn toàn khác hẳn. Còn ở trong cái nội dung mà nghệ thuật nêu lên cho chúng ta thấy, thì điều làm chúng ta quan tâm lại chính là những sự vật này ở trong cái biểu hiện bên ngoài do tinh thần tạo ra, tinh thần đã biến cái tính chất cảm quan bên ngoài của tất cả chất liệu thành một cái gì ở bên trong một cách hết sức sâu sắc. Sở dĩ thế là vì thay thế tấm len, tấm lụa thực, thay thế mớ tóc, những cốc rượu, thịt, và kim khí thực, chúng ta chỉ nhìn thấy màu sắc, thay thế toàn bộ những kích thước mà tự nhiên không thể bỏ qua nếu muốn biểu hiện, chúng ta chỉ thấy một diện tích ấy vậy mà chúng ta vẫn có ấn tượng của một đối tượng hiện thực.


So sánh với cái hiện thực nôm na thì cái vẻ bên ngoài do tinh thần tạo nên là một kỳ diệu mang tính chất lý tưởng, và có thể nói là một điều chế nhạo và mỉa mai đối với thế giới tự nhiên bên ngoài. Ta chỉ cần nghĩ đến những thủ pháp mà con người và tự nhiên đã bắt buộc phải làm trong đời sống hàng ngày. Họ đã bắt buộc phải sử dụng biết bao nhiêu biện pháp khác nhau vô số và đa dạng để tạo nên một cái gì giống như vậy. Cái kim khí mà người ta muốn gia công kháng cự lại dữ dội như thế nào. Trái lại, sự biểu hiện trong đó, nghệ thuật tìm được những đối tượng của mình là một yếu tố đơn giản và nhuần nhuyễn nghệ thuật, dễ dàng đưa ra một cách tự do từ cái thế giới bên trong của nó tất cả những gì mà con người và tự nhiên chỉ có được bằng những cố gắng nhiều khi vất vả.


Cũng vậy, các sự vật được biểu hiện và con người ở trong đời sống hàng ngày có một trình độ phong phú hữu hạn hoàn toàn không phải vô tận. Các ngọc, vàng, cây cỏ, đông vật v.v… tự bản thân nó là một tồn tại bên ngoài hạn chế, nhưng ở trong con người với tính cách một nghệ sĩ sáng tạo lại chứa đựng cả một thế giới cái nội dung mà nó lấy của tự nhiên. Ở trong lĩnh vực rộng lớn của biểu tượng và trực giác, con người đã tích lũy những kho tàn đồ sộ này, và có thể tiêu diệt chúng một cách rõ ràng và tự do, bằng cách lấy tự bản thân mình và không dùng đến môi giới của những điều kiện và những sự chế tạo mà hiện thực phải vâng theo. Ở trong tính chất lý tưởng này, nghệ thuật đứng ở giữa: một bên là sự tồn tại thuần khách quan nghèo nàn và vất vả, và một bên là biểu tượng thuần túy bên trong. Nghệ thuật cấp cho ta chính những sự vật ấy nhưng chúng lại mang dấu ấn đời sống nội tâm của ta. Nó không cấp cho ta những sự vật này để dùng vào một công dụng thực tiễn nào mà chỉ bó hẹp vào việc gây hứng thú đối với tính chất trừu tượng lý tưởng, cái vẻ bên ngoài mang tính chất tinh thần mà sự chiêm ngưỡng thuần túy lý thuyết nêu lên.


(Còn tiếp).


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.


 


 


 


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »