tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28948972
Lý luận phê bình văn học
12.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (13)

3 – Các phương diện khác nhau của cái đẹp trong tự nhiên.


Như vậy, nói chung ta có thể gọi tự nhiên với tính cách sự thể hiện cảm quan của khái niệm cụ thể và của ý niệm là cái đẹp. Tự nhiên là đẹp bởi vì khi chiêm ngưỡng những hình tượng tự nhiên phù họp với khái niệm, chúng ta cảm thấy mơ hồ có tồn tại một sự tương ứng như vậy và sự khảo sát cảm quan đồng thời bộc lộ cho ta thấy tính tất yếu bên trong và mối liên hệ của toàn bộ tổ chức. Việc ngắm nhìn tự nhiên như một đối tượng đẹp không dẫn ta đi xa hơn cái tiên cảm mơ hồ này, tri giác này trong đó các bộ phận có vẻ xuất hiện tự do và độc lập, đồng thời lại nói lên sự nhất trí với nhau về hình thức, đường nét, vận động v.v cũng vẫn còn mơ hồ và trừu tượng. Tính thống nhất nội tại vẫn là nội tại, nó chưa xuất hiện trước trực giác dưới hình thức ý niệm tinh thần một cách cụ thể và việc quan sát mới chỉ bó hẹp vào tính phổ biến của một nhất trí tất yếu làm cho các bộ phận có sức sống.


Do đó, bây giờ với tính cách cái đẹp của tự nhiên chúng ta chỉ còn mối liên hệ nội tại làm các bộ phận có sức sống, mối liên hệ này toát ra ở trong tính cụ thể phù hợp với các khái niệm của các cấu tạo tự nhiên. Giữa mối liên hệ này với vật chất có tính đồng nhất trực tiếp: hình thức, bản chất chân thực và sức mạnh tạo thành của vật chất, nằm trực tiếp ở bên trong vật chất. Định nghĩa khái quát của cái đẹp ở giai đoạn hiện nay của chúng ta là như thế. Chẳng hạn, chúng ta say sưa ngắm nghía một tinh thể tự nhiên vì hình dáng đều đặn của nó không phải là do một tác động cơ học bên ngoài nào sản sinh ra mà là do sản phẩm của một sự qui định nội tại đặc thù và của một sức mạnh tự do do bản thân đối tượng này sản sinh ra một cách tự do. Hoạt động bên ngoài với tính cách bên ngoài cũng có thể là tự do, song ở trong tinh thể hoạt động này lại trở thành không phải là xa lạ với sự vật mà là một hình thức tích cực thuộc về khoáng vật này và phù hợp với bản tính riêng của nó. Ở đây là sức mạnh tự do của bản thân vật chất tự tạo ra hình thức của mình qua một hoạt động tiềm tàng chứ không phải bị qui định một cách bị động từ bên ngoài. Như vậy, chất liệu vẫn tự do cả ở bản thân nó, cả ở trong hình thức được thể hiện. Hoạt động tương tự của hình thức nội tại nói lên một trình độ cao hơn và cụ thể hơn ở trong thể hữu cơ sống, ở trong các đường nét của nó, ở trong các hình dáng các bộ phận và chủ yếu trong vận động và trong sự biểu hiện các tình cảm. Ở đây là bản thân hoạt động nội tại biểu lộ một cách sinh động.


Song, mặc dầu cái đẹp trong tự nhiên là có tính chất mơ hồ như một sức sống bên trong, chúng ta vẫn có thể nêu lên ba điểm:


Căn cứ vào trình độ sinh động, cũng như vào cái cảm tưởng mơ hồ về sự sống thực sự, ngoài ra dựa vào kiểu thông thường để biểu hiện sự sống ăn khớp với khái niệm sự sống, ta có một cơ sở để xét đoán. Xuất phát từ những khác nhau này, chúng ta gọi các động vật là đẹp hay xấu. Chẳng hạn những con lai trùng (tardigrade), loại động vật lê mình vất vả và toàn bộ hình dáng bên ngoài của chúng đều nói lên tình trạng bất lực không vận động nhanh được và không hoạt động được, làm cho ta chán do cái quán tính lừ đừ này. Bởi vì hoạt động, sự nhanh nhẹn chứng minh một ý niệm cao hơn của sự sống.


Cũng hệt như vậy, nhúng ta không thể xem những con lưỡng thê, một vài loại cá, cá sấu, cũng như nhiều loại sâu v.v là đẹp. Đặc biệt, chúng ta có những loại động vật trung gian làm thành bước quá độ từ hình thức này sang một hình thức khác và hợp nhất dưới hình thức pha trộn cả hai loại đều là những con vật xấu, mặc dầu chúng có thê làm ta ngạc nhiên. Chẳng hạn, chúng ta cho các con mỏ vịt là xấu, bởi vì nó là một sự pha trộn của loại chim và loại động vật bốn chân. Lúc đầu, chúng ta có thể cảm thấy đây chẳng qua là một thói quen, bởi vì ở trong biểu tượng của mình chúng ta vốn có sẵn một kiểu nhất định về động vật. Nhưng thói quen này không liên quan tới biểu tượng mơ hồ về chỗ các nét cấu tạo của cơ thể của con chim, chẳng hạn, là ở trong mối liên hệ tất yếu đối với nhau và về bản chất không cho phép mang những hình thức thuộc các loại sinh vật khác (bởi vì sẽ tạo ra những cấu tạo lai tạp). Những sự pha trộn như vậy do đó tỏ ra là kì quặc và mâu thuẫn. Sự hạn chế phiến diện của cách tổ chức có vẻ không hoàn mĩ và không có ý nghĩa, bởi vì không tương ứng với những đòi hỏi hạn chế bên ngoài, cũng như sự pha trộn và những bước quá độ mà chúng tôi vừa nói, mặc dầu ở trong vi cái đẹp sinh động ở trong tự nhiên.


Khi trước mắt chúng ta không có những sinh vật sống hữu cơ ( khi ta ngắm một phong cảnh chẳng hạn) chúng ta nói đến cái đẹp của tự nhiên theo một nghĩa khác. Ở đây, không có một khái niệm nhất định và sinh động ở trong thể thống nhất tinh thần có tính chất ý niệm cho thấy sự phân chia bộ phận một cách hữu cơ. Trước măt chúng ta có một trình độ đa dạng phong phú những đối tượng và một mối liên hệ bên ngoài những vật hữu cơ và vô cơ khác nhau: đường nét của núi non, những đường quanh co của dòng sông, những lùm cây, những lều tranh, những ngôi nhà, những thành phố, những cung điện, những đường cái, những tàu bè, bầu trời và mặt biển, thung lũng và hang đá. Nhưng ở trong tình trạng khác nhau này vẫn có một sự nhất trí bên ngoài được chúng ta nhận thấy làm cho chúng ta vui sướng.


Cái đẹp trong tự nhiên có được một tính độc đáo ở chỗ nó gây ở chúng ta những trạng thái tâm hồn phù hợp. Cảnh yên lặng của đêm trăng, cảnh yên tĩnh của thung lũng có một dòng suối chảy qua, cảnh trác tuyệt của mặt biển mênh mông nổi giận, cảnh hùng vĩ bình thản của bầu trời đầy sao chẳng hạn, là những trường hợp như vậy. Ta phải tìm ý nghĩa và ý nghĩa ở đây không phải nằm trong các sự vật xem như sự vật mà ở trong trạng thái tâm hồn do sự vật gây nên ở trong ta. Cũng vậy, chúng ta có một số động vật là đẹp khi chúng ta nhận thấy chúng có những biểu hiện của con người: chẳng hạn lòng dũng cảm, sức mạnh, sự tái tạo, lòng nhân từ v.v. Đây là những biểu hiện một mặt hiển nhiên là dành riêng cho các vật nói lên một mặt nào đó của đời sống động vật, nhưng mặt khác lại gắn liền với các biểu tượng, với các trạng thái tâm hồn của chúng ta.


Đời sống động vật trong khi làm thành đỉnh cao nhất của cái đẹp ở trong tự nhiên, đã biểu lộ một yếu tố đầy sức sống, song mọi đời sống động vật dẫu sao cũng đều hạn chế và gắn liền với những đặc tính nhất định. Phạm vi tồn tại của động vật là chật hẹp, những hứng thú của nó phục tùng nhu cầu tự nhiên: ăn uống, bản năng tính dục v.v. Đời sống tinh thần của động vật với tính cách nội dung bên trong biểu hiện ra ở hình tượng thể xác là nghèo nàn, trừu tượng, không có nội dung. Hơn nữa, cái nội dung bên trong này lại không được biểu hiện với tính cách bên trong. Ngoài ra, mặt bên trong không đóng vai mặt bên trong; sự sống tự nhiên của động vật không nói lên linh hồn củ động vật bằng cách làm cho cái linh hồn ấy toát ra từ bên trong, điều tự nhiên tóm lại là linh hồn không tài nào rời khỏi cái nơi nó được đặt vào để toát ra một cách ăn khớp với ý niệm. Như chúng tôi đã nói, linh hồn của động vật không làm thành cái thể thống nhất tinh thần vì nó có tính chất ý niệm; nếu như nó tồn tại cho mình thì nó đã bộc lộ cả trong sự tồn tại vì mình cũng như trong sự tồn tại vì những cái khác.


Chỉ có “cái tôi” tự giác mới là đại biểu cho cái thể thống nhất đơn thuần có tính chất ý niệm là cái tồn tại như là ý niệm đối với bản thân và biết rằng mình là như thế. Vì vậy cho nên tính hiện thực của cái tôi mang tính chất ý niệm, tinh thần, chứ không phải chỉ có tính chất cảm quan, và thể xác ở bên ngoài. Ở đây, lần đầu tiên hiện thực mới có được hình thức của khái niệm; khái niệm trong khi đối lập lại bản thân, trở thành sự khách thể hóa của chính mình và tồn tại ở trong cái khách thể ấy của chính mình. Trái lại, sự sống của động vật là một tính thống nhất chỉ ở trong bản thân động vật mà thôi bởi vì ở trong tính thống nhất ấy cái hiện thực mang tính cơ thể lại có một hình thức khác tính thống nhất tinh thần có tính chất lý tưởng của linh hồn. Còn “cái tôi” có ý thức đối với bản thân mình lại là một thể thống nhất trong đó các bộ phận đều có yếu tố chung là một tính tinh thần có tính chất lý tưởng ngang nhau. “Cái tôi” đối với những các khác cũng đóng vai một thể thống nhất có ý thức như vậy. Còn về diện mạo của động vật thì chúng ta chỉ có thể có một cảm giác mơ hồ rằng ở trong nó có linh hồn. Bản thân động vật chỉ có được một cái vẻ bên ngoài mơ hồ của linh hồn như một hơi thở lan khắp tất cả thể hữu cơ làm cho các bộ phận của cơ thể có được tính thống nhất và nói lên những mầm mống có tính đặc thù ở trong tất cả tập quán sinh hoạt của sinh vật.


Đây là thiếu sót đầu tiên ngay cả của sinh hình thức cao nhất của cái đẹp ở trong tự nhiên và thiếu sót này khiến ta nêu lên tính tất yếu của lý tưởng với tính cách cái đẹp trong nghệ thuật. Nhưng trước khi chuyển sang lý tưởng, chúng ta cần phải khảo sát hai thuộc tính là những hậu quả khác của thiếu sót này mà chúng ta đã tìm thấy ở trong một cái đẹp của tự nhiên.


Ở trên, chúng ta nói rằng linh hồn ở trong hình thể của động vật chỉ đóng vai một mối liên hệ mơ hồ của thể hữu cơ, làm thành điểm tập trung của hoạt động tinh thần nhưng nó lại không có một nội dung đầy đủ. Ở đây chỉ thấy tính linh hồn một cách mơ hồ và hoàn toàn chật hẹp. Chúng ta sẽ khảo sát vắn tắt sự biểu hiện trừu tượng này một cách độc lập.


 


 


CÁI ĐẸP BÊN NGOÀI CÓ HÌNH THỨC


TRỪU TƯỢNG VÀ CÁI ĐẸP CỦA TÀI LIỆU CẢM QUAN


 


Có một thực tại bên ngoài, thực tại này được qui định là bên ngoài nhưng nội dung bên trong của nó vẫn mang tính chất phiếm định và trừu tượng chứ không đạt đến trình độ sự sống cụ thể bên trong, dưới hình thức chủ thể thống nhất của linh hồn. Do đó, sự sống bên trong ở đây không có một tồn tại phù hợp với nó. Nó không đóng vai một sự sống bên trong đối với bản thân dưới hình thức tinh thần có tính chất lý tưởng, cũng không đóng vai một nội dung có tính chất lý tưởng mà làm thành một thể thống nhất bị qui định từ bên ngoài ở trong một hiện thực nằm bên ngoài.


Tính thống nhất cụ thể của yếu tố bên trong tóm lại là: một mặt, đời sống tâm lý, tự nó và vì nó, có một nội dung phong phú; mặt khác đời sống tâm lý sẽ làm cho cái hiện thực bên ngoài thấm nhuần nội cảm của mình, do đó mà làm cho thực tế bên ngoài trở thành sự biểu lộ kín đáo bên trong. Ở giai đoạn này, cái đẹp chưa đạt đến một vẻ đẹp thống nhất cụ thể; nó còn phải vươn tới đó để thực hiện với tính cách lý tưởng. Chính vì vậy thể thống nhất cụ thể vẫn chưa có thể đóng vai hình thức biểu tượng. Ta chỉ có thể phân tích nó tức là ta có thể khảo sát rời rạc và cô lập từng yếu tố tách biệt nhau vốn nằm ở trong thể thống nhất. Chính vì vậy bằng cách tách trước hết cái hình thức được tạo thành ra khỏi cái hiện thực cảm quan và bên ngoài, chúng ta sẽ có hai phương diện khác nhau mà ta phải khảo sát ở đây.


Nhưng vì chia tách như vậy, và do tính chất trừu tượng của hai mặt này cho nên bản thân thể thống nhất bên trong đối với cái hiện thực bên ngoài vẫn còn là một thể thống nhất cũng ở bên ngoài và do đó không làm thành cái hình thức cố hữu của khái niệm toàn vẹn ở bên trong, mà làm thành một tính ý niệm và một đặc tính chủ đạo từ bên ngoài đến.


Đây là những quan điểm mà bây giờ chúng ta sẽ bắt tay khảo sát chi tiết hơn.


Điều đầu tiên mà chúng ta phải đề cập đến mặt này đó là:


 


Cái đẹp của hình thức trừu tượng.


 


Hình thức cái đẹp của tự nhiên, vì là trừu tượng cho nên làm thành một hình thức nhất định và, do đó, một hình thức hữu hạn. Nó chứa đựng ở trong mình một thể thống nhất và một quan hệ trừu tượng với bản thân. Nói chính xác hơn, hình thức cái đẹp tự nhiên chi phối tính đa dạng bên ngoài phù hợp với đặc tính của nó, nhưng tính thống nhất này vẫn không trở thành sự sống cố hữu bên trong và không trở thành một hình tượng có tác dụng làm thành sinh động, trái lại vẫn là một đặc tính bên ngoài và là một thể thống nhất ở bên ngoài.


Người ta gọi loại hình thức này là tính đều đặn, tính đối xứng hay còn gọi đó là sự phù hợp qui luật và cuối cùng gọi là sự hài hòa.


 


Tính đều đặn.


Tính đều đặn xét ở bản thân là sự đồng nhất bên ngoài, hay đúng hơn là việc lặp đi lặp lại một hình tượng duy nhất nào đó, là cái cấp cho các hình thức của đối tượng một tính thống nhất có tác dụng quyết định. Do chỗ bản thân tính đều đặn đã mang tính trừu tượng đầu tiên, nên một sự thống nhất như vậy sẽ là khác xa cái chỉnh thể hợp lý của khái niệm cụ thể, và cái đẹp của tính đều đặn se trở thành cái đẹp của lý tính trừu tượng, bởi vì nguyên lý của lý tính là một tính nhất dạng và tính đồng nhất trừu tượng không bị qui định ở bản thân mình. Chẳng hạn, trong số các đường thì đường thẳng là đường đều đặn nhất, bởi vì đường thẳng chỉ có một hướng và hướng này bao giờ cũng là như nhau một cách trừu tượng. Cũng vì lý do ấy, hình lập phương là hình đều đặn nhất. Các mặt của hình lập phương đều là những diện tích lớn như nhau, ngoài ra hình lập phương còn gồm những đường và những góc bằng nhau và những góc này bởi vì chúng đều là góc vuông cho nên không thể thay đổi về mặt đại lượng như các góc tù hay các góc nhọn.


Tính đối xứng cũng gắn liền với tính đều đặn. Hình thức không phải là dừng lại ở trình độ trừu tượng cực đoan này, ở tính đồng nhất trong đặc tính. Có sự không đều đặn kết hợp với sự đều đặn và có sự khác nhau đột nhập vào sự đồng nhất trống rỗng. Và thế là xuất hiện đối xứng. Ở trong đối xứng không phải chỉ có một hình thức trừu tượng duy nhất lặp đi lặp lại, mà hình thức này còn đan chéo với một hình thức khác cũng lặp đi lặp lại, hình thức thứ hai, xét ở bản thân nó cũng được qui định và trước sau cũng là một nhưng so với hình thức thứ nhất thì nó khác và đồng thời bao giờ cũng kết hợp với hình thức thứ nhất. Nhờ sự kết hợp như vậy, nảy sinh một tính nhất dạng và một thể thống nhất có thuộc tính nhiều hơn và đa dạng hơn. Chẳng hạn, nếu như ở một mặt của tòa nhà có ba cửa sổ kích thước như nhau và cách nhau bằng ba khoảng cách như nhau, rồi lại có ba hay bốn cửa sổ khác cao hơn và cách xa nhau bởi những khoảng cách lớn hơn hay nhỏ hơn, rồi cuối cùng lại có ba cửa sổ kích thước giống như những cửa sổ đầu tiên và cũng giống như cửa sổ này về khoảng cách giữa chúng thì lúc bấy giờ trước mắt ta sẽ có một sự bố trí đối xứng. Như vậy, chỉ lặp lại đơn thuần và chỉ có tính chất nhất dạng của một đặc điểm duy nhất thì vẫn chưa đủ để tạo nên sự đối xứng. Đối xứng còn đòi hỏi những sự khác nhau về đại lượng, về vị trí, hình thức, về màu sắc âm thanh và những thuộc tính khác nữa và những thuộc tính này, đến lượt nó, lại phải kết hợp một cách như nhau. Chỉ có sự kết hợp nhất dạng những đặc tính khác nhau thì mới đem đến đối xứng.


Cả hai hình thức là tính đều đặn và tính đối xứng với tính cách một sự sắp xếp và một thể thống nhất thuần túy bên ngoài đều là những đặc tính về đại lượng. Bởi vì một đặc tính ở bên ngoài và không cố hữu nói chung là có tính chất số lượng. Trái lại, chất lượng làm cho một sự vật nào đấy thành chính nó, kết quả là sự vật này trở thành một sự vật khác với sự thay đổi về đặc tính chất lượng. Còn đại lượng và những biến đổi của đại lượng thì chỉ làm thành một đặc tính bàng quan đối với chất lượng khi các đại lượng này không được nêu lên thành một sự đo lường. Sự đều đặn và đối xứng trước hết là những đặc trưng nói lên các đặc tính thuộc đại lượng, tính nhất dạng của chúng và sự sắp xếp của những yếu tố không nhất dạng.


Khi nêu lên câu hỏi sự sắp xếp các đại lượng diễn ra ở đâu, ta sẽ nhận thấy rằng những cấu tạo hữu cơ cũng như các cấu tạo vô cơ đều đối xứng về kích thước và hình thức. Bản thân cơ thể của chúng ta chẳng hạn ít nhất là đều đặn và đối xứng một phần. Chúng ta có hai mặt, hai chân, hai háng bằng nhau, hai xương bả vai bằng nhau v.v Còn về các bộ phận khác của thân thể chúng ta, chúng ta biết rằng chúng không đều đặn: trường hợp của tim, gan, ruột v.v là thế. Nảy sinh câu hỏi: sự khác nhau giữa các bộ phận của thân thể chúng ta là lệ thuộc vào cái gì? Cái mặt của thể hữu cơ biểu lộ tính đều đặn về đại lượng, hình thức, vị trí v.v là có tính chất bên ngoài. Đặc tính đều đặn và đối xứng biểu hiện – theo khái niệm của đối xứng – ở nơi nào yếu tố khách quan – phù hợp với đặc tính của nó -, là ở bên ngoài đối với bản thân và không có một yếu tố chủ quan nào làm cho nó có sức sống. Cái hiện thực vốn chỉ bó hẹp vào mặt bên ngoài như vậy hoàn toàn phục tùng cái thể thống nhất trừu tượng bên ngoài mà chúng ta đã nói. Còn trong lĩnh vực cái gì sống và cá sức sống thì trái lại, và ở trong lĩnh vực tính chất tinh thần tự do thì lại càng như thế nữa, tính chủ thể, sinh động. Nhưng mặc dầu tất cả tự nhiên so với tinh thần, là sự tồn tại bên ngoài, sự đều đặn chỉ chiếm ưu thế ở nơi nào mặt bên ngoài của nó thống trị với tính cách mặt bên ngoài.


(aa) Nếu ta điểm qua những trình độ chủ yếu của tự nhiên thì chúng ta sẽ thấy rằng các vật, các tinh thể chẳng hạn vốn là những cấu tạo không có sự sống, có hình thức cơ bản là tính đều đặn và tính đối xứng. Kể ra, hình dáng của chúng, như chúng ta đã nói, là cố hữu đối với chúng và không bị qui định chỉ bởi ảnh hưởng bên ngoài. Hình thức đặc thù đối với chúng phù hợp với bản chất của chúng tạo nên cơ cấu bên trong và bên ngoài của chúng do một hoạt động sâu kín. Tuy vậy, hoạt động này vẫn chưa phải là toàn bộ hoạt động của cái khái niệm cụ thể có tác dụng cụ thể hóa, cái sau này giả thiết có những bộ phận độc lập với tính cách một tồn tại phủ định và, do đó, đem đến cho chúng sự sống như điều xảy ra trong đời sống động vật chẳng hạn. Trái lại, trong các khoáng vật thì tính thống nhất và đặc tính của hình thức vẫn giữ một tính chất phiến diện trừu tượng chỉ có thể hiểu được bằng lý tính và chính sự thống nhất này với bản thân đóng vai một yếu tố bên ngoài đã tạo nên tính đều đặn đơn thuần cũng như tính đối xứng, tức là một hình thức ở đấy các khái niệm trừu tượng đóng vai trò quyết định.


(bb) Thực vật đã ở một trình độ cao hơn tinh thể. Nó phát triển đến bước đầu của tình trạng có tổ chức và tiếp thu tài liệu ở trong hoạt động dinh dưỡng không ngừng. Nhưng bản thân thực vật vẫn chưa có một sự sống có sức sống thực sự bởi vì mặc dầu nó được cấu tạo một cách hữu cơ, hoạt động của nó vẫn không ngừng hướng ra ngoài. Nó bắt rễ vững chắc vào đất, và do đó không thể nào vận động và thay đổi vị trí, sự trưởng thành của nó tiếp tục không ngừng và việc đồng hóa không ngừng và việc dinh dưỡng không ngừng của nó không phải là một thể hữu cơ im lìm và bó hẹp vào bản thân, trái lại không ngừng mở rộng và hướng ra môi trường bên ngoài. Cố nhiên, động vật cũng sinh trưởng, nhưng sự trưởng thành của nó đến một kích thước nhất định cuối cùng dừng lại, và sự tái sản xuất của nó xét cho cùng là duy trì một cá thể trước sau duy nhất. Trái lại, thực vật sinh trưởng không ngừng và chỉ sau khi chết đi thì các nhành lá của nó mới thôi không tăng thêm. Trong quá trình sinh trưởng như vậy, bao giờ cũng sản sinh ra một bản mới chứ không phải là một bộ phận của nó mà thôi như trong trường hợp thể hữu cơ của động vật.


Trong quá trình đâm cành trổ nhánh, trong sự chuyển biến một cây thành nhiều cây khác, cây thiếu cái tính chất chủ thể có cảm giác và thiếu tính thống nhất có tính chất ý niệm của cảm giác. Mặc dầu thực vật tiếp thu thức ăn và đồng hóa tích cực thức ăn vào bản thân, để tự xác định mình một cách tự do dựa trên nguyên lý tích cực hoạt động ở trong lĩnh vực vật chất, nhưng về tính chất của sự tồn tại và của quá trình sinh sống, thực vật vẫn không có tính độc lập của chủ thể, không có tính duy nhất và tính thống nhất của nó vẫn là một cái gì ở bên ngoài. Do chỗ không ngừng hướng ra ngoài, cho nên tính đều đặn và tính đối xứng là những đặc tính đảm bảo tính duy nhất ở trong sự tăng trưởng bộc lộ ra ngoài của thực vật do bản thân nó làm thành đặc trưng chủ yếu của cấu trúc thực vật.


Mặc dầu tính đều đặn ở đây không thống trị nghiệt ngã như ở trong khoáng vật và không biểu lộ dưới hình thức những đường và những góc trừu tượng như vậy, nhưng tính đều đặn vẫn làm thành đặc trưng chủ đạo. Thân cây thường vươn lên theo đường thẳng, các mắt các đốt của thực vật cao cấp là hình tròn, hình thức lá cây tiến gần hình thức của các tinh thể, và các nụ về số lá cây, về vị trí và hình dáng của chúng đều mang dấu ấn một sự qui định đều đặn và cân xứng phù hợp với cái kiểu cơ bản của chúng.


(cc) Cuối cùng, thể hữu cơ của động vật có đặc điểm chủ yếu là phương thức cấu tạo riêng các bộ phận. Bởi vì trong thân thể của động vật, nhất là của động vật ở trình độ cao, thể hữu cơ một mặt là thể hữu cơ hiện đại, phong bế ở bản thân, do bản thân mình xác định mình và luôn quay trở về mình như một quả cầu và mặt khác với tính cách một thể hữu cơ bên ngoài, một quá trình bên ngoài và một quá trình hướng ra ngoài.


Các cơ quan trọng yếu nhất là những cơ quan bên trong như gan, tim, phổi v.v đều là những cơ quan có quan hệ mật thiết với sự sống, chúng cao quí hơn và không mang tính đều đặn. Trái lại, những bộ phận nào của thể hữu cơ của động vật không ngừng gắn liền với thế giới bên ngoài lại biệu lịi một cách bố trí đối xứng. Các quan hệ của thuần túy lý thuyết đều lệ thuộc vào các giác quan của thị giác và của thính giác; tất cả cái gì chúng ta nghe và chúng ta thấy, chúng ta vẫn để mặc nó như vậy, nghĩa là nguyên vẹn. Các cơ quan của khứu giác và vị giác, trái lại ta chỉ có thể bắt đầu ngửi được mùi khi đồ vật đã bắt đầu tự do nó bị tiêu thụ và chúng ta chỉ có thể nếm bằng cách phá hủy vật chúng ta nếm. Chúng ta chỉ có một cái mũi song nó lại gồm hai lỗ mũi, có một tổ chức đều đặn. Cái môi, răng v.v cũng như vậy nhưng có vị trí và hình dáng đều đặn nhất là mắt, tai cũng như các bộ phận dùng để dời chỗ vị trí và để thay đổi một cách thực tiễn những sự vật bên ngoài: đó là bằng tay chân.


Do đó, ta thấy rằng ngay trong thế giới hữu cơ, tính đều đặn cũng không phải là đã bỏ mất hoàn toàn cái quyền hạn của mình, nhưng điều này chỉ áp dụng cho các bộ phận đảm bảo những quan hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài chứ không phải cho những bộ phận thực hiện mối quan hệ của thể hữu cơ với chính mình với tính cách tính chủ thể của sự sống quay trở về bản thân nó.


Những đặc trưng chủ yếu của các hình thức đều đặn và đối xứng và địa vị thống trị của chúng trong các hiện tượng của tự nhiên là như thế.


Ở trong cái hình thức trừu tượng này, chúng ta cần phải phân biệt:


 


Sự phù hợp tính qui luật:


Bởi vì nó ở một trình độ cao hơn và làm thành bước quá độ tới tính chất tự do của các sinh vật, tới tính chất tự do cả của tự nhiên cũng như của tinh thần. Nếu xét ở bản thân nó thì tính thích hợp ở qui luật này vẫn chưa phải là thể thống nhất toàn vẹn có tính chủ thể, song cũng đã làm thành một chỉnh thể những khác biệt chủ yếu, là những cái không chỉ đóng vai những khác biệt và những đối lập mà đã biểu lộ tính thống nhất và mối liên hệ ở trong chỉnh thể của mình. Mặc dầu một thể thống nhất phù hợp với qui luật như vậy cũng như sự thống trị của nó vẫn còn thuộc lĩnh vực số lượng, nhưng nó đã không thể qui về những sự khác nhau có tính đại lượng ở bên ngoài đối với bản thân và về những sự khác nhau có thể đo lường được mà nó đã bao hàm những quan hệ chất lượng giữa các yếu tố khác nhau. Vì vậy cho nên nó không hiểu sự lặp lại trừu tượng một đặc trưng trước sau duy nhất, cũng như sự đan chéo đều đặn giữa tình trạng bằng nhau và không bằng nhau, mà là sự gặp gỡ, sự kết hợp cùng một lúc những mặt khác nhau một cách cơ bản. Khi nhìn thấy những sự khác nhau này kết hợp với nhau thông qua tính chỉnh thể, chúng ta cảm thấy hài lòng. Tính hợp lý của sự hài lòng này là ở chỗ các giác quan chỉ cảm thấy hài lòng trước cái chỉnh thể những sự khác nhau phù hợp với bản chất của sự vật. Song ở đây, mối liên hệ chỉ được đảm bảo bởi một khâu kín đáo, khâu nầy đối với trực giác, một phần do thói quen tạo nên, một phần là do một dự cảm sâu sắc hơn.


Ta có thể dùng một vài thí dụ để chứng mình một cách chính xác bước chuyển từ tính đều đặn sang tính qui luật. Những con đường song song có độ dài như nhau là đều đặn xét một cách trừu tượng. Người ta sẽ tiến lên một bước nếu như người ta chỉ xét giống nhau đơn thuần về mặt quan hệ trong trường hợp các đại lượng khác nhau, chẳng hạn trong trường hợp các tam giác đồng dạng. Độ nghiêng của các góc, các quan hệ giữa các đường đối với nhau vẫn không thay đổi, nhưng các đặc trưng số lượng lại khác nhau từ tam giác này tới tam giác khác. Cũng vậy, một hình tròn không có tính đều đặn như đường thẳng, nhưng nó vẫn chịu tính đặc thù của sự bằng nhau trừu tượng bởi vì các đường kính của nó đều có một độ dài như nhau. Đường tròn, do đó, vẫn còn là một đường cong ít thú vị. Trái lại các en-líp và các pa-ra-bôn có một tính đều đặn ít hơn và chỉ có thể nhận thức được là en-líp và pa-ra-bôn bằng cách dựa vào qui luật của nó. Chẳng hạn các đường kính vec-tơ của en-líp là không bằng nhau nhưng bị nhưng qui luật chi phối, cũng vậy có một sự khác nhau chủ yếu giữa trục lớn và trục bé và các tiêu điểm không trùng với trung tâm như ở trong hình tròn. Ở đây, chúng ta đứng trước những khác nhau về chất lượng do những qui luật và chính sự hợp nhất của chúng thành qui luật. Tuy vậy, nếu chúng ta chia hình en-líp theo hai trục (trục lớn và trục nhỏ) thì chúng ta sẽ có bốn phần bằng nhau: và ở đây nữa tính bằng nhau cũng thống trị toàn bộ.


Đường bầu dục, ngoài tính qui luật bên trong, còn có một tính chất tự do lớn hơn. Nó chịu một qui luật, song cho đến này người ta vẫn chưa có thể phát hiện và tính cái qui luật này một cách toán học. Nó không phải là một en-líp nhưng độ cong ở bên trên khác độ cong ở bên dưới. Nhưng ngay cả cái đường tự nhiên, tự do hơn này ở trong thế giới của tự nhiên vẫn cho ta hai nữa bằng nhau nếu ta cắt nó theo trục lớn.


Sự bằng nhau hoàn toàn biến mất nếu ta giữ tính qui luật của những đường giống như đường bầu dục, nhưng nếu như cắt theo trục lớn thì nó sẽ cho ta hai nữa không bằng nhau, nữa này không lặp lại nữa kia, mỗi nữa có cách quay riêng của nó. Đó là hai con đường gọi là hai con đường theo làm sóng mà Hô-gác (Hogarth) đã gọi là con đường của cái đẹp. Ở đây, những đường của cái nhánh ở bên này là khác ở bên kia. Ở đây vắng mặt tính đều đặn trần truồng mà chúng ta bắt gặp tính qui luật những hình thức đa dạng. Chính tác dụng này của cái qui luật đã qui định những hình thức rất đa dạng của những thể hữu cơ hữu sinh cao cấp.


Tính hợp qui luật ở đây là yếu tố chủ yếu qui định những sự khác nhau cũng như sự thống nhất của chúng. Nhưng một mặt, tính hợp qui luật chỉ có tác dụng một cách trừu tượng, nó chỉ thống trị mà không cho phép cá tính xuất hiện tự do bằng bất cứ hình thức nào. Không những thế, bản thân nó cũng không có cái tự do cao cấp tiêu biểu cho tính chủ thể và cũng không có khả năng phát hiện cho chúng ta cái biểu hiện đầy sức sống và có tính chất lý tưởng của nó.


Chính vì vậy ở giai đoạn này người ta phải nói đến tính hài hòa là một cấp độ cao hơn, cấp độ ở đấy tính qui luật biểu hiện.


 


Tính hài hòa:


Tính hài hòa là mối quan hệ những sự khác nhau về chất lượng. Nó làm thành một chính thể của các sự khác nhau này bắt nguồn từ bản chất và bản thân sự vật. Mối quan hệ này vượt ra ngoài tác dụng của các qui luật, mặc dầu nó còn có một mặt được biểu hiện bởi sự bằng nhau, nhưng lại vượt quá phạm vi của sự bằng nhau và sự lặp lại. Đồng thời, những sự khác nhau về chất lượng không phải đóng vai những sự khác nhau ở trong tình trạng đói lập và mâu thuẫn của chúng mà làm thành một thể thống nhất hài hòa nêu bật tất cả các thành tố tạo nên nó, nhưng nó chứa đựng tất cả các thành tố này ở trạng thái một chỉnh thể duy nhất.


Chính sự nhất trí này làm thành tính hài hòa. Một mặt tính hài hòa gồm có toàn bộ các phương diện chủ yếu, về mặt khác, nó gạt bỏ sự đối lập thuần túy của chúng đối với nhau. Kết quả là tạo nên ở giữa chúng một mối liên hệ bên trong và đó là yếu tố làm thành sự thống nhất của chúng. Người ta nói đến sự hài hòa của màu sắc, âm thanh v.v chính là theo nghĩa này. Chẳng hạn, màu lam, màu vàng, màu lục và màu đỏ làm thành những khu biệt tất yếu của màu sắc xuất phát từ bản chất của màu sắc. Điều tiêu biểu cho các màu sắc không phải chỉ là sự không giống nhau đơn thuần như trong trường hợp đối xứng, ở đấy các nhân tố khác nhau được kết hợp một cách đều đặn để tạo nên một sự thống nhất bên ngoài. Trái lại, đây là những sự đối lập trực tiếp của chúng như màu vàng đối lập với màu lam, cũng như tính chất trung hòa hóa của chúng và sự đồng nhất cụ thể của chúng. Cái đẹp của sự hài hòa ở chúng tóm lại là loại trừ mọi khác biệt và mọi đối lập giữa chúng, điều mà người ta phải tránh. Sự nhất trí được biểu hiện ở trong bản thân các sai biệt, bởi vì màu sắc không phải là đơn giản mà làm thành một tổng thể chủ yếu.


Đòi hỏi của cái tổng thể này có thể đi rất xa. Như Gơt nói, chỉ cần con mắt nhìn thấy một màu duy nhất trong những màu này là có thể nhìn thấy một cách chủ thể cả các màu khác nữa. Trong lĩnh vực âm nhạc, các chủ âm, các trung âm và các át âm làm thành những sai biệt âm thanh chủ yếu và được hợp nhất lại thành một thể duy nhất. Điều này cũng xảy ra ở trong sự hài hòa của hình dáng, của vị trí của nó, của sự im lìm, sự vận động của nó v.v. Ở trong sự hài hòa không chỉ biểu lộ sự sai biệt nào duy nhất và phiến diện bởi vì điều đó sẽ phá vỡ tính thống nhất nhất trí.


Nhưng hài hòa đơn thuần vẫn chưa là tính chủ thể tự do có tính chất ý niệm của linh hồn. Ở trong linh hồn, tính duy nhất nảy sinh không phải do sự hài hòa hay sự nhất trí đơn thuần mà do sự phủ định những sai biệt và sự phủ định này là cái duy nhất sản sinh ra tính thống nhất có tính chất ý niệm, tinh thần. Chính vì vậy mọi nhạc điệu, mặc dầu lấy hài hòa làm cơ sở vẫn có vẻ biểu hiện một cách chủ thể cao hơn và tự do hơn. Sự hài hòa thuần túy một mình nó không thể bộc lộ được vẻ sinh động chủ quan cũng như tính chất tinh thần, mặc dầu xét về mặt hình thức trừu tượng, nó đã làm thành trình độ cao nhất và tiến gần đến trạng thái tính chủ thể tự do.


Đặc trưng đầu tiên của tính thống nhất trừu tượng là như thế và những dạng thức biểu lộ đầu tiên của hình thức trừu tượng là như vậy.


 


Cái đẹp được quan niệm như một sự thống nhất trừu tượng của chất liệu cảm quan.


 


Phương diện thứ hai của sự thống nhất trừu tượng không liên quan tới hình thức và hình dáng mà liên quan tới chất liệu, tới cái cảm quan. Ở đây, sự thống nhất đóng vai trò một hòa hợp nhất định của chất liệu cảm quan mà không có sự sai biệt nào ở trong bản thân mình. Đây là tính thống nhất duy nhất mà chất liệu, được quan niệm như tài liệu cảm quan, có khả năng thể hiện. Xét về mặt này, tính chất thuần túy trừu tượng của chất liệu về măt hình thức, màu sắc, âm thanh v.v làm thành cái chủ yếu ở giai đoạn chúng ta xét đến. Những đường được vạch rõ ràng chạy dài đều đặn, không đi sai lệch sang phải , cũng không đi lệch sang trái, nhưng diện tích trơn làm chúng ta hài lòng vì có trình độ vững chắc và có tính thống nhất nhất dạng. Xuất phát từ khía cạnh này, bầu trời trong sáng, không khí trong suốt, mặt hồ bóng lộn như một tấm gương, mặt biển im lìm làm chúng ta hà lòng cũng vì những đặc điểm như vậy.


Về tính trong trẻo của âm thanh, vấn đề cũng thế. Một giọng nói trong trẻo, dù cho chúng ta chỉ nghe những âm thanh đơn thuần cũng đã có một cái gì thú vị và lôi cuốn, trái lại một giọng nói đục khiến người ta nghe không rõ các chấn động do các cơ quan phát ra và phát ra những âm thanh không thuần túy, thiếu trình độ chính xác. Cũng vậy, ngôn ngữ cũng có những âm thuần túy như các âm a, ê, I, ô, u và những âm pha trộn như ôu, au, ai v.v chủ yếu các thổ ngữ dân gian có những âm không thuần túy. Để cho các âm giữ được tính thuần túy, xung quanh các nguyên âm phải có những phụ âm, những phụ âm này không làm cho các nguyên âm bị nhòe mất như trong các ngôn ngữ miền Bắc, ở đấy các phụ âm thường làm hỏng mất âm thanh của các nguyên âm. Trong lúc đó tiếng Italia là ngôn ngữ giữ được tính chất thuần túy cho nên phù hợp với ca hát như vậy.


Những màu thuần túy, đơn giản không pha trộn, chẳng hạn màu đỏ, hay màu lam thuần túy là những màu hiếm có – bởi vì chúng thưởng chuyển sang đỏ nhạt, vàng nhạt, lục – cũng có một tác dụng như vậy. Màu tím, về bản thân nó, cũng có thể là thuần túy nhưng thuần túy một cách bên ngoài nghĩa là không có tính chất hỗn tạp , bởi vì bản thân màu tím không phải là một màu đơn thuần và sự khác nhau phân biệt nó với các màu khác không phải thuộc loại sai biệt do chính bản chất của màu sắc mà ra. Đây là những màu cơ bản mà giác quan nhận thức dễ dàng tính chất thuần túy, mặc dầu việc hợp nhất chúng thành một toàn thể hài hòa là khó khăn hơn, vì các màu này ở kế nhau làm nỗi bật rõ rệt hơn những sai biệt của chúng. Các màu giảm nhẹ, pha trộn rất nhiều không thú vị bằng, nhưng bởi vì chúng không có tình trạng đối lập mạnh mẽ cho nên tính không hòa hợp của các yếu tố tạo nên chúng ít đạp mạnh vào mắt chúng ta. Màu lục là sự pha trộn của vàng và lam, nhưng hai màu này ở đây chẳng qua bị trung hòa hóa mà thôi và chính nhờ sự trung hòa hóa này mà màu lục khi nó thực sự là thuần túy, đối với chúng ta là thú vị hơn, không chói mắt bằng màu lam và màu vàng với những sai biệt sắc cạnh.


Đó là những điểm quan trọng nhất thuộc về tính thống nhất trừu tượng, cũng như thuộc tính đơn giản, tính thuần túy của các chất liệu cảm quan. Nhưng trong trường hợp này cũng như trong trường hợp khác, đây là những điều trừu tượng chết cứng và là sự thống nhất chẳng có gì hiện thực hết. Thực vậy, tính thống nhất nàykhông có sự tồn tại chủ quan có tính chất ý niệm trong đó cái đẹp tự nhiên khi người ta khảo sát nó ở trong toàn bộ biểu hiện của mình, nói chung là thường thường không có sự tồn tại có tính chủ thể này. Sự thiếu sót chủ yếu này cho phép ta kết luận rằng lý tưởng vốn không tồn tại trong tự nhiên là điều cần thiết và đối với sự tồn tại của lý tưởng thì cái đẹp tự nhiên chỉ là một cái đẹp thứ yếu.


 


 


NHỮNG THIẾU SÓT CỦA CÁI ĐẸP


TRONG TỰ NHIÊN


 


 


Đối tượng thực sự của chúng ta khảo sát là cái đẹp trong nghệ thuật xem như hiện thực duy nhất xem như hiện thực duy nhất phù hợp với cái đẹp. Từ trước đến nay, chúng ta vẫn xem cái đẹp trong tự nhiên là biểu hiện đầu tiên của cái đẹp. Vấn đề bây giờ đặt ra là hiểu xem cái đẹp nghệ thuật ở chỗ nào.


Người ta có thể nói một cách trừu tượng rằng ý niệm là cái đẹp hoàn mĩ ở bản thân mình; trái lại tự nhiên sẽ là cái đẹp không hoàn mĩ. Nhưng những tiền đề trống rỗng này không làm cho ta tiến lên được bước nào. Bởi vì vấn đề là tìm hiểu chính xác xem cái gì làm thành sự hoàn mĩ của cái đẹp nghệ thuật và tình trạng không hoàn mĩ của cái đẹp tự nhiên. Như vậy, chúng ta phải nêu vấn đề như sau: Tại sao tự nhiên lại tất yếu là không hoàn mĩ về cái đẹp của nó và tính chất không hoàn mĩ này biểu hiện ở chỗ nào; và lúc đó tính chất tất yếu của tự nhiên và của lý tưởng mới xuất hiện trước mắt ta một cách hiển nhiên hơn. Sau khi đã vươn lên tới trình độ của sự sống động vật và xem cái đẹp có thể biểu hiện ở đấy như thế nào, bấy giờ chúng ta phải khảo sát kỹ hơn xem tính chủ thể và cá tính là những thuộc tính của sinh vật tóm lại là cái gì.


Chúng tôi đã nói đến cái vẻ đẹp với tính cách ý niệm cũng theo một ý nghĩa như người ta vẫn nói đến cái chân và cái thiện với tính cách những ý niệm: chúng tôi muốn nói rằng ý niệm là cái bản chất và cái phổ biến, là chất liệu tuyệt đối, không cảm quan là bản chất của thế giới. Định nghĩa một cách chính xác hơn, ý niệm tuy không những là thực tế và tính phổ biến mà còn là sự thống nhất của khái niệm và tính thực tại của khái niệm. Khái niệm biểu lộ với tính cách bản chất ở trong tồn tại khách quan của mình. Như chúng tôi đã nói ở trong pan giới thiệu, Platông là người đầu tiên tuyên bố rằng chỉ có ý niệm là chân thực và phổ biến và nó chính là cái cụ thể phổ biến. Nhưng bản thân ý niệm của Platông vẫn chưa phải là cái cụ thể thực sự bởi vì nó chỉ là tương ứng với cái chân thực nếu như ta khảo sát nó ở bên trong khái niệm và ở trong tính phổ biến của cái chân thực. Nhưng nếu khảo sát nó với tính cách một tồn tại phổ biến thì ý niệm của Platông vẫn chưa được thực hiện và vẫn chưa phải là cái chân thực vì bản thân ở trong sự tồn tại hiện thực của mình. Nó vẫn chỉ dừng lại ở trạng thái tồn tại vì mình. Ấy vậy mà, cũng như khái niệm nếu không tồn tại khách quan thì vẫn chưa là khái niệm thực sựp; cũng vậy ý niệm cũng chưa là ý niệm thực sự nếu không có sự tồn tại hiện thực của ý niệm và ở ngoài sự tồn tại này. Do đó, ý niệm phải tiến về phía tồn tại hiện thực, và ý niệm chỉ có được sự tồn tại như vậy do sự tồn tại chủ quan hiện thực phù hợp với khái niệm của tính thống nhất có tính chất ý niệm và của “sự tồn tại cho nó”. Chính vì vậy mà chẳng hạn có sự tồn tại hiện thực của giống là bắt nguồn ở trong cái cá thể cụ thể và tự do: sự sống chỉ tồn tại dưới hình thức những sinh vật cá thể, cái “thiện” chỉ được thể hiện bởi những con người cá thể và mọi chân lý chỉ là chân lý đối với một ý thức có thể hiểu biết, đối với một tinh thần tồn tại vì chính mình. Nhưng chỉ có cái cá biệt cụ thể mới là chân thực và hiện thực; trái lại cái phổ biến trừu tượng và cái đặc thù thì không phải như vậy. Cái tồn tại cho mình, cái tồn tại chủ thể này, do đó, là một điểm mà chúng ta phải duy trì. Nhưng sự tồn tại chủ quan là ở trong thể thống nhất phủ định, là kết quả của việc lý tưởng hóa tồn tại thực tế của chúng. Sự thống nhất của ý niệm và sự tồn tại hiện thực của khái niệm, do đó, là sự thống nhất phủ định của ý niệm với tính cách ý niệm và của tồn tại hiện thực của ý niệm, một sự thống nhất nảy sinh từ chỗ chúng ta đã giả thiết và gạt bỏ sự giữa ý niệm với sự tồn tại thực tế của nó. Chỉ có nhờ hoạt động này mà ý niệm mới tồn tại một cách khẳng định đối với bản thân và ý niệm là một sự thống nhất và một tồn tại chủ quan vô tận nhờ đó ý niệm liên quan với bản thân. Do chỗ chúng ta cần quan tâm ý niệm của cái đẹp trong sự tồn tại hiện thực của nó, chủ yếu như là một tồn tại chủ quan hiện thực, nghĩa là cá biệt, như là một ý niệm chỉ là hiện thực và chỉ có sự tồn tại hiện thực ở trong cái cơ thể cụ thể.


Ở đây, cần phải phân biệt hai hình thức của cái cá biệt: hình thức cái cá biệt tự nhiên trực tiếp và hình thức cái cá biệt tinh thần. Ý niệm tồn tại ở cả hai hình thức này và nội dung cơ bản của cả hai hình thức này và nội dung cơ bản của cả hai hình thức do ý niệm tạo nên và trong lĩnh vực đặc biệt mà chúng ta khảo sát do ý niệm cái đẹp tạo nên là như nhau. Nhưng nếu như cái đẹp tự nhiên cũng có nội dung hệt như lý tưởng thì cần phải nhận thấy rằng sự khác nhau về một mặt khác, sự khác nhau giữa hai hình thức qua đó thể hiện ý niệm (nghĩa là sự khác nhau giữa cái cá biệt tự nhiên và cái cá biệt tinh thần) cũng vẫn là một sự khác nhau chủ yếu giữa các nội dung của hai hình thức này. Thực vậy, vấn đề là tìm hiểu xem hình thức nào tương ứng thực sự với ý niệm, bởi vì ý niệm chỉ bộc lộ cái chính thể chân thực của nội dung của mình ở cái hình thức nào tương ứng thực sự với ý niệm.


Đây là điểm lúc này chúng ta phải khảo sát bởi vì ở trong sự khác nhau này về hình thức của cái cá biệt chứa đựng cả sự khác nhau giữa cái đẹp trong tự nhiên với lý tưởng.


Trước hết, về cái cá biệt trực tiếp thì nó thuộc tự nhiên cũng như thuộc tinh thần bởi vì tinh thần có một tồn tại bên ngoài ở trong thân thể và ngay cả về quan điểm tinh thần, nó chỉ tồn tại ở trong cái hiện thực trực tiếp. Do đó chúng ta có thể khảo sát cái cá biệt trực tiếp theo ba quan điểm.


 


Phương diện bên trong của hiện thực trực tiếp chỉ là một sự tồn tại bên trong.


 


Chúng ta đã thấy thể hữu cơ chỉ có được “sự tồn tại cho nó”, cái cá tính của nó do một quá trình diễn ra không ngừng trong cuộc đấu tranh chống lại cái tự nhiên vô cơ đối với nó mà nó hấp thụ, tiêu hóa, dinh dưỡng bằng cách biến cái bên ngoài thành cái bên trong và như vậy thực hiện “sự tồn tại – ở mình”. Chính ta đã thấy quá trình tiếp diễn không ngừng này của sự sống thể hiện một hệ thống những hoạt động  do một hệ thống những cơ quan đảm nhiệm. Cái hệ thống phong bế này có một mục đích duy nhất là duy trì  sinh vật bằng quá trình đã nói trên, và đời sống của sinh vật như vậy là một sự sống chỉ gồm những đòi hỏi và những diễn biến hay sự thỏa mãn những đòi hỏi ấy đều lệ thuộc vào hệ thống những cơ quan đã được nói đến. Kết quả là sinh vật được tổ chức theo nguyên lý tính mục đích; tất cả các bộ phận đều là những phương tiện để thực hiện một mục đích duy nhất: duy trì sự tồn tại của thể hữu cơ. Sự sống là nằm ở trong bản thân chúng; chúng gắn liền với sự sống cũng như sự sống là gắn liền với chúng. Kết quả của quá trình này là động vật, thể tồn tại cá biệt, có thể hưởng thụ sự tồn tại cá biệt của mình, bởi vì nó có cảm giác thấy mình sống. Sự so sánh động vật với thực vật nêu lên điều mà thực vật không có; động vật cảm giác thấy mình tồn tại và mình có được một linh hồn, bởi vì động vật luôn luôn tạo ra những cá thể mới gắn chặt với mình mà không tập trung chúng ở cái điểm phủ định là nơi cái cá thể trở thành một cái tôi độc lập và được phân biệt so với các cái tôi khác và so với thế giới bên ngoài. Tuy vậy, điều chúng ta thấy ở trong thể hữu cơ khi nó biểu hiện sức sống không phải là cái điểm tập trung này ở đấy thể thống nhất thực hiện, mà là tính đa dạng của các cơ quan. Vật hữu sinh vẫn còn chưa đủ tự do để khẳng định mình thành một chủ thể thống nhất ở một đặc điểm mặc dầu các bộ phận của nó đã tỏa ra ở trong cái thế giới bên ngoài. Trung tâm thực sự các hoạt động của đời sống hữu cơ đối với chúng ta vẫn dấu kín, chúng ta chỉ nhìn thấy những đường nét bên ngoài của hình thức, hình thức này lại được bao phủ bằng lông chim, vẩy cá, lông thú, da lông, gai nhọn v.v… Các vật che đậy này làm thành một thuộc tính  của động vật, nhưng đây là những sản phẩm mang tính thực vật của động vật. Chính nó làm thành nguyên nhân chính của tình trạng không hoàn mĩ của động vật xét theo quan điểm cái đẹp. Điều chúng ta nhìn thấy ở trong thể hữu cơ không phải là linh hồn. Cái biểu lộ ra ngoài và tỏ rõ từng giây từng phút không phải là sự sống bên trong; trái lại, đây là những cấu tạo chiếm một trình độ thấp so với sự sống thực sự. Động vật không biểu hiện sự tồn tại ở trong bản thân mình dưới một hình thức quan sát được. Bởi vì cái bên trong chỉ là cái bên trong cho nên cái bên ngoài cũng vẫn chỉ đóng vai cái bên ngoài, nghĩa là không có quan hệ gì, không có liên lạc gì với cái bên trong, không thấm nhuần linh hồn ở từng bộ phận của nó.


Trái lại, cơ thể con người về mặt này có ưu điểm hơn, bởi vì nó cho phép ta lúc nào cũng nhận thấy rằng con người là một sinh vật đơn nhất có cảm xúc, và có linh hồn. Da của y không phải phủ cái thứ áo quần không có sự sống, có tính chất thực vật: huyết mạch lưu thông biểu lộ trên toàn bộ diện tích, những nhịp đập của quả tim cũng biểu lộ ở khắp nơi ngay cả khi người ta quan sát từ bên ngoài làm thành một trong những dấu hiệu của sự sống, của sức sống có thể nói sôi nổi, của cái turgor vitae (sức sống sôi nổi). Da có được một mẫn cảm biểu lộ ở khắp nơi và biểu lộ tính chất mềm mại dịu dàng, cái màu da thịt đôi khi làm cho nhà họa sĩ phải tuyệt vọng. Nhưng mặc dầu thân thể của con người khác thân thể súc vật, biểu hiện sự sống bộc lộ ra ngoài của con người thì tự nhiên vẫn giữ những đặc quyền của mình và xuất hiện ở những dấu hiện ở trên da: những vết nứt, những nếp nhăn, những lỗ lông chân, lông, mạch máu v.v… Bản thân lớp da qua đó sự sống bên trong biểu lộ một lớp che ảnh hưởng của bên ngoài, một phương tiện đơn thuần phục vụ một yêu cầu tự nhiên.


Nhưng ưu điểm ưu việt của thân thể con người là ở tính nhạy cảm, nếu như tính nhạy cảm không phải bao giờ cũng đi đến những cảm giác thực sự thì ít nhất nó cũng là điều kiện gây khả năng nhạy cảm. Nhưng ngay ở đây nữa, người ta cũng nhận thấy một sự thiếu sót: tính nhạy cảm này không phải là tính nhạy cảm tập trung vào bên trong và lan ra khắp các bộ phận. Trái lại, một số cơ quan với các cấu tạo của nó là để phục vụ những chức năng động vật, trong khi những cơ quan khác lạ dùng để biểu hiện đời sống tâm hồn, các tình cảm và các dục vọng. Điều đó khiến cho linh hồn, đời sống bên trong, không biểu lộ trong tất cả tính thực tại của hình thể con người.


người ta cũng bắt gặp lại sự thiếu sót này ở trong một lĩnh vực cao hơn của tinh thần là các thể hữu cơ có tinh thần nếu ta khảo sát chúng ở trong sự sống trực tiếp của chúng. Các cơ cấu của chúng càng to lớn, càng phong phú thì các mục đích duy nhất làm cho tất cả thành sinh động và làm thành linh hồn của chúng lại càng cần đến nhiều phương tiện. Ở trong cái hiện thực trực tiếp, các phương tiện này đều là những cơ quan để phục vụ mục đích chung và tất cả những điều gì xảy ra đều được thực hiện do sự can thiệp của ý chí. Mỗi yếu tố của một thể hữu cơ như nhà nước, gia đình v.v… tức là mỗi cá nhân nếu tách rời ra đều biểu lộ một ý chí và một hành động trong mối liên hệ với các thành viên khác của cùng thể hữu cơ này. Nhưng cái linh hồn duy nhất nằm trong mối liên hệ này, tự do và trí tuệ của cái mục đích duy nhất không biểu lộ nguyên vẹn ở trong hiện thực và sự có mặt của chúng ở trong mọi bộ phận tạo thành của mối liên hệ còn xa lắm mới là hiển nhiên.


Người ta cũng có thể nói tương tự như vậy về các hành động và các biến cố cá biệt làm thành một cơ thể hữu cơ. Các lý do nội tại qui định chúng không phải bao giờ cũng lộ ra ngoài và không phải bao giờ cũng nhìn thấy qua trạng thái bên ngoài của sự thể hiện trực tiếp của chúng. Cái xuất hiện chỉ là một tổng thể thực tại; trái lại, cội nguồn bên trong làm nó sinh động và đem đến cho nó sự sống vẫn chưa vượt ra khỏi giới hạn của cái vùng sâu thẳm ở đấy nó tồn tại. Cái cá nhân đặc thù cũng xuất hiện ở trong quan hệ này dưới trạng thái như vậy. Cái cá nhân tinh thần là một tổng thể ở trong bản thân y, được tập hợp xung quanh một trung tâm tinh thần. Ở trong hiện thực trực tiếp của ý nghĩa là trong cách sống, trong cách hành động, trong những ham muốn và những công việc của y, ý chỉ xuất hiện dưới một trạng thái tản mạn. Như vậy muốn xét đoán về tính chất của y ta phải biết tất cả các hành vi và các dục vọng kế tiếp nhau. Trong tình trạng kế tiếp nhau như vậy vốn làm thành tính hiện thực của y, điểm tập trung hợp nhất không đóng vai cái cội nguồn cụ thể cho mọi cái khác.


(Còn tiếp).


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »