tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950241
Lý luận phê bình văn học
11.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (12)

Chương thứ hai


CÁI ĐẸP TRONG TỰ NHIÊN


Cái đẹp là ý niệm được quan niệm thư một thể thống nhất trực tiếp của khái niệm với thực tại của nó trong chừng mực thể thống nhất này xuất hiện trực tiếp trong cái biểu hiện hiện thực cảm quan.


Sự tồn tại gần gũi nhất của ý niệm là tự nhiên và cái đẹp trong tự nhiên là cái đẹp thứ nhất về mặt trật tự.


CÁI ĐẸP TRONG TỰ NHIÊN


VỚI TÍNH CHẤT CỦA NÓ


Ý niệm với tính cách sự sống.


Trong thế giới tự nhiên, chúng ta phải phân biệt ngay sự khác nhau giữa một vài phương thức tồn tại của khái niệm với tính cách ý niệm.


Trước hết, khái niệm có thể chìm sâu trực tiếp vào tồn tại khách quan đến nỗi nó không xuất hiện ra ngoài thành một thể thống nhất chủ quan thuộc lĩnh vực ý niệm tinh thần, và có thể nói trở thành một cái gì không có linh hồn và hoàn toàn thuộc về tính vật chất cảm quan. Những thuộc tính vật lý, cơ giới của cơ thể là có tính chất như vậy. Một kim loại nào đó chẳng hạn, mặc dầu là một tổ chức đa dạng những thuộc tính cơ học và những thuộc tính vật lý, nhưng mỗi bộ phận nhỏ của kim loại này đều có những thuộc tính này như nhau. Vật thể này không những không có một tổ chức hoàn chỉnh khiên cho bản thân mỗi sự khác nhau đều có được một tồn tại vật chất đặc biệt, mà những sự khác nhau này của thể thống nhất phủ định cũng không có sự thống nhất tiêu cực, tinh thần và xuất hiện với tính cách có tinh thần. Sự khác nhau ở đây chỉ là một tập hợp trừu tượng của tác phẩm này, còn thể thống nhất làm thành một thể đồng dạng như nhau của chúng.


Phương thức tồn tại đầu tiên của khái niệm là như vậy. Những sự khác nhau của nó không có sự tồn tại độc lập và thể thống nhất có tính chất ý niệm của nó không nói lên tính tinh thần và do đó những vật thể cá biệt này chỉ là những tồn tại trừu tượng, không đầy đủ.


Thứ hai, các sự vật của tự nhiên ở trình độ cao hơn, làm cho những sự khác nhau mà khái niệm bao hàm được tự do, cho nên mỗi sự khác nhau này tồn tại độc lập cho chính mình ở bên ngoài cái khác. Ở đây lần đầu tiên bản chất chân thực của tính khách thể được bộc lộ. Tính khách thể đó là sự chia sẻ của những sự khác nhau của khái niệm ở trong tồn tại độc lập của chúng. Ở giai đoạn này, sức mạnh của khái niệm biểu lộ ở chỗ trong khi thể hiện tính toàn vẹn của các thuộc tính của mình, khái niệm lại bắt các vật thể cá biệt hợp nhất lại thành một thể duy nhất mặc dầu mỗi vật thể tự nó vẫn có một tồn tại độc lập.


Hệ thống mặt trời chẳng hạn là có tính chất như vậy. Mặt trời, các sao chổi, mặt trăng và các hành tinh một mặt, đóng vai những thiên thể độc lập khác nhau, nhưng mặt khác chúng còn biểu lộ rằng sở dĩ chúng chúng tồn tại chẳng qua là nhờ một vị trí nhất định mà chúng đã chiếm trong toàn bộ hệ thống các vật thể. Vận động loại biệt của chúng cũng như các đặc tính vật lý của chúng đều có thể xác định xuất phát từ vị trí chúng chiếm ở trong hệ thống này. Mối liên hệ này làm thành tính thống nhất bên trong của chúng làm cho các sự tồn tại riêng biệt kia liên quan với nhau và duy trì các tồn tại cá biệt của chúng.


Tuy vậy, khái niệm không chỉ dừng lại ở cái thể thống nhất của những tồn tại cá biệt độc lập. Cũng giống như những mặt khác nhau của nó, thể thống nhất đến lượt nó, cũng phải là hiện thực. Thể thống nhất bây giờ, phải vượt lên khỏi sự chia cách giữa các vật thể cá biệt khách quan và đến lượt nó, nó có tính chất hiện thực, vật chất độc lập. Trong hệ thống mặt trời chẳng hạn, mặt trời tồn tại với tính cách một thể thống nhất của toàn bộ hệ thống ở trong tình trạng đối lập với những sự khác nhau thực tế của nó.


Song sự tồn tại có tính chất ý niệm như vậy của thể thống nhất vẫn mang tính chất không làm người ta thỏa mãn, bởi vì một mặt nó chỉ trở thành thực tế với tính cách một quan hệ qua những vật thể riêng biệt, độc lập và mặt khác, với tính cách một vật thể duy nhất của hệ thống và hệ thống này là độc lập với các vật này cũng như đối lập với những sự khác nhau thực tế của chúng. Nếu như chúng ta xem mặt trời là linh hồn của toàn bộ hệ thống thì chúng ta cũng không nên quên hiện tượng rằng bản thân mặt trời có một tồn tại độc lập và nằm ngoài các thành viên được xem là sự giải thích cái linh hồn này. Bản thân mặt trời như vậy chỉ làm thành một yếu tố của khái niệm, một nhân tố của thể thống nhất, ở trong những điều đặc thù thực tế; nói khác đi, tính thống nhất này chỉ tồn tại ở bản thân và vì vậy nó là trừu tượng. Đồng nhất của mặt trời chỉ bị qui định bởi những thuộc tính vật lý của nó: nó là một vật thể chiếu sáng, có ánh sáng, chỉ có thể, và điều đó cấp cho nó một tính chất trừu tượng. Ánh sáng chỉ có một ngoại hiện đơn thuần không có sự khác nhau ở trong bản thân mình.


Như vậy, chúng ta thấy rằng ở trong hệ thống mặt trời, khái niệm đã trở thành hiện thực và mọi sự khác nhau của nó ở đấy đã được giải thích, bởi vì mỗi vật thể chỉ cho phép một thành tố duy nhất của khái niệm xuất hiện. Song ngay ở đây nữa, khái niệm cũng vẫn chìm đắm ở trong hiện thực của mình mà không đóng vai ý niệm và sự tồn tại vì bản thân mình ở bên trong. Hình thức chủ yếu của sự tồn tại của nó vẫn là sự tồn tại độc lập của các thành tố của nó.


Muốn tồn tại thực sự, khái niệm đòi hỏi những sự khác nhau thực sự, tức là tính thực tại của những sự khác nhau độc lập và của một thệ thống nhất cũng độc lập khách quan khiến cho các sự khác nhau có thể quay trở về thể thống nhất toàn thể. Do đó, nó đòi hỏi cái toàn thể này của các sự khác nhau tự nhiên, một mặt, phải nêu bật khái niệm như một biểu hiện thực sự của các thuộc tính của nó; và mặt khác cái toàn thể này phải nói lên ở trong một thành tố riêng tính độc lập hoàn chỉnh ở trong bản thân mình và bây giờ bắt gặp ở trong những khác nhau này đóng vai một thể thống nhất chủ quan, có tính chất ý niệm bằng cách có thể nói, cấp cho chúng một linh hồn. Lúc bấy giờ, những sự khác nhau này không phải chỉ là sự nối liền với nhau, chúng không phải là những bộ phận có những quan hệ nào đó với nhau. Trái lại, chúng là những thành viên tức là chúng không còn tồn tại từng cái rời, mỗi cái cho bản thân mình mà còn được một tồn tại thực sự ở trong tính thống nhất tinh thần có tính chất lí tưởng.chỉ ở trong tình trạng tổ chức hữu cơ như vậy thì tính thống nhất có tính chất lí tưởng của một khái niệm mới hình thành, tính thống nhất này là kẻ mang linh hồn và là linh hồn ở trong mỗi thành viên. Khái niệm không còn vùi mình trong thực tại, trái lại ở trong thực tại nó đóng vai một tính đồng nhất và tính phổ biến bên trong của chúng phù hợp với bản chất của mình.


Chỉ phương thức biểu hiện thứ ba này của tự nhiên mới làm thành phương thức tồn tại của ý niệm và ý niệm là sự sống ở trong tồn tại tự nhiên của nó. Tự nhiên vô cơ, chết cứng không phù hợp với những đòi hỏi của ý niệm và chỉ có tự nhiên hữu sinh hữu cơ mới có thể là hiện thực của nó. Thực vậy, trước hết tính hiện thực của những sự khác nhau nằm trong khái niệm là sâu sắc hơn ở trong thế giới hữu sinh, thế giới này thứ hai chứa đựng sự phủ định những sự khác nhau này cũng như thực tại của chúng, của khái niệm là phục tùng thực tại này. Thứ ba, cuối cùng thế giới hữu sinh chứa đựng cái nguyên lí sự sống với tính cách biểu hiện khẳng định của bản chất khái niệm ở trong tính thể xác thực thực tế của mình, với tính cách một hình thức vô hạn các khả năng vẫn cứ là mình dù cho nội dung là như thế nào.


Nếu như chúng ta khảo sát ý thức hằng ngày của chúng ta để hiểu xem sự sống tóm lại là cái gì, thì một mặt ta tìm thấy ở đấy biểu tượng về thể xác, và mặt khác tìm thấy biểu tượng về linh hồn. Chúng ta cấp cho thể xác và linh hồn những đặc tính tiêu biểu khác nhau. Sự phân biệt này giữa thể xác và linh hồn cũng rất quan trọng về mặt triết học và chúng ta phải chấp nhận nó. Song một điều quan trọng cũng chẳng kém đối với nhận thức đó là tính thống nhất của linh hồn và thể xác là điều từ xưa đã gây ra những khó khăn rất lớn cho việc nắm được nó trong tư tưởng. Chính nhờ sự thống nhất này mà sự sống là hiện tượng đầu tiên, tự nhiên, của ý niệm.


Chúng ta cần phải quan niệm tính thống nhất giữa linh hồn với thể xác không chỉ là một liên hệ đơn thuần giữa hai cái mà hiểu một cách sâu sắc hơn. Thể xác và cách tổ chức của thể xác cần được chúng ta xem là sự biểu hiện có tổ chức, có hệ thống của bản thân khái niệm: khái niệm ở các thành viên của một cơ thể sống, đem đến cho các thuộc tính của mình một tồn tại tự nhiên và bên ngoài như là trượng hợp đã xảy ra của hệ thống mặt trời ở một trình độ thấp hơn. Ấy vậy mà ở bên trong sự tồn tại hiện thực này, khái niệm vươn lên tới một thuộc tính của nó, và thể thống nhất có tính chất lý tưởng này là linh hồn. Nó làm thành thể thống nhất bản chất và là cái thể phổ biến bao quát tất cả, cí này là một quan hệ đơn thuần đối với bản thân lại đồng thời lại là “một tồn tại cho mình”của chủ thể. Cần phải hiểu sự thống nhất của thể xác và linh hồn theo cái nghĩa cao cả này. Đây không phải là hai thực thể khác nhau rồi sau đó kết hợp lại với nhau mà là một chính thể duy nhất có những thuộc tính như nhau.


Cũng như ta chỉ có thể quan niệm ý niệm nói chung với tính cách một khái niệm giả thiết sự khác nhau và sự thống nhất của cả hai, cũng vậy ta chỉ có thể nhận thức được sự sống là sự thống nhất của thân thể và linh hồn. Tính thống nhất vừa là chủ thể lại vừa có tính bản chất của linh hồn ở bên trong cơ thể bộc lộ chẳng hạn thành cảm xúc. Cảm xúc của một cơ thể sống cảm thấy không phải chỉ phụ thuộc một bộ phận riêng biệt của cơ thể, một cách độc lập, mà mang tính tinh thần, ý niệm của toàn bộ cơ thể. Cảm xúc lan ra tất cả các thành viên, biểu hiện khắp nơi ở hàng trăm hàng nghìn chỗ, tuy vậy vẫn không phải là cảm xúc của hàng trăm hàng nghìn cơ quan mà là của cái chủ thể duy nhất cảm thấy nó.


Bởi vì sự sống củ tự nhiên hữu cơ chứa đựng ở mình một sự khác nhau nhu vậy giữa sự tồn tại thực tế của các thành viên với linh hồn là cái chỉ ở đấy đơn thuần vì bản thân mình, vẫn giải quyết được sự khác nhau này dưới hình thức một thể thống nhất gián tiếp, cho nên tự nhiên hữu cơ ở một trình độ cao hơn là tự nhiên vô cơ. Chỉ có cái gì sống thì mới là ý niệm và chỉ có ý niệm mới là chân thực. Kể ra, ngay trong các vật thể vô cơ, sự chân thực này cũng có thể bị phá vỡ bởi vì thân hình chưa thực hiện hoàn toàn tính chất ý niệm và điều kiện của nó như trường hợp xảy ra khi bị bệnh chẳng hạn. Trong trường hợp này, khái niệm thống trị không phải như một sức mạnh duy nhất, mà khái niệm san sẻ quyền lực với các sức mạnh khác. Song sự tồn tại như vậy là một cuộc sống kém cỏi và hư hỏng, và một cuộc sống còn gọi là cuộc sống chỉ vì tình trạng không tương ứng giữa khái niệm với tính thực tại chưa phải là tuyệt đối mà chỉ là tương đối thôi. Nếu như không còn sự nhất trí nào ở giữa hai cái, nếu như thể xác hoàn toàn không có tổ chức thực sự cũng như không có tính chất thực sự lí tưởng của tổ chức này, thì sự sống lập tức sẽ biến thành cái chết, và cái chết sẽ biến đổi cái mà do tác động của linh hồn được duy trì  ở trong một thể thống nhất gắn bó thành những bộ phận độc lập.


Nói rằng linh hồn làm thành toàn bộ khái niệm với tính cách một thể thống nhất của chủ thể có tính chất ý niệm, và thể xác trái lại, cũng là cái chinh thể này, nhưng với tính cách một biểu hiện và sự phân biệt cảm quan của tất cả các bộ phận riêng biệt, hơn nữa nói rằng linh hồn và thể xác ở trong trạng thái sinh động làm thành một thể thống nhất, nói tất cả những điều như vậy dĩ nhiên là rơi vào mâu thuẫn. Bởi vì thể thống nhất có tính chất ý niệm không những không phải là một sự tách rời có tính chất cảm quan, nhờ đó mỗi điểm đặc thù có một tồn tại độc lập và có một vẻ đặc sắc riêng, mà còn là sự đối lập trực tiếp với cái thực tại bên ngoài này. Khẳng định tính đồng nhất của hai điều đối lập, tức là đưa ra một lập luận mâu thuẫn. Song những người nào cho rằng không có cái gì tồn tại mà lại chứa đựng ở nó mâu thuẫn dưới hình thức sự thống nhất của những mặt đối lập, thì người ấy đồng thời lại khẳng định rằng không có cái gì có sức sống mà tồn tại hết. Sở dĩ thế là vì sức mạnh của sức sống, và hơn thế nữa, sức mạnh của tinh thần chính là ở chỗ khẳng định mâu thuẫn, chịu đựng và khắc phục mâu thuẫn ở bản thân mình. Quá trình của sự sống chính là nhằm nêu lên và giải quyết mâu thuẫn giữa cái thể thống nhất có tính chất ý niệm với sự phân li thức tế của các thành viên và làm thành quá trình liên tục củ sự sống và sự sống chỉ tồn tại với tính cách một quá trình.


Quá trình sự sống bao gồm một hoạt động gồm hai mặt: một mặt, nó không ngừng đem đến một tồn tại cảm quan cho những sự khác biệt thực tại của mọi thành viên và của mọi đặc tính của một cơ thể. Nhưng mặt khác, nếu như các thành viên và các đặc tính nàt biểu lộ xu hướng cô lập hóa và ngừng đọng lại ở trong trạng thái độc lập và muốn phân ranh giới đối với nhau thì quá trình sự sống sẽ nêu tính chất lí tưởng khái quát của chúng lên hàng đầu. Tính chất lí tưởng này làm thành yếu tố đem đến cho chúng sự sống. Đây là chủ nghĩa duy tâm về sự sống. Bởi vì không chỉ có triết học mới là duy tâm mà thôi, mà ngay cả tự nhiên với tính cách sự sống thực tế cũng làm hệt như triết học duy tâm ở trong lĩnh vực tinh thần của mình.


Nhưng chỉ có sự phối hợp hai hoạt động này, chỉ có một mặt thể hiện không ngừng các đặc tính của cơ  thể và mặt khác lí tưởng hóa các đặc tính thực tế thành thể thống nhất có tính chất chủ thể của chúng – ở đây chúng ta không xét đến những hình thức riêng biệt – thì mới có thể làm thành một quá trình hoàn mĩ của sự sống. Nhờ sự thống nhất này của hai hoạt động mà tất cả các thành viên của cơ thể mới luôn luôn duy trì được mình, đồng thời không ngừng nhập vào tính lí tưởng là cái đem đến cho chúng  sự sống.


Các thành viên của cơ thể không biểu lộ ngay tính lí tưởng này: sở dĩ thế là vì thể thống nhất sinh động của chúng đối với chúng không phải là một cái gì bàng quan. Trái lại, nó làm thành một bản chất, ở đấy chúng có thể giữ được cái cá tính riêng biệt của mình, và chỉ cũng có thể giữ được cái cá tính ấy mà thôi. chính điều này làm thành sự khác nhau chủ yếu giữa một bộ phận của một toàn thể với một thành viên của cơ thể. Chẳng hạn các bộ phận riêng lẻ của cái nhà,- từng hòn đá, từng cửa sổ v.v trước sau vẫn là thế, dù cho toàn bộ chúng có làm thành ngôi nhà hay không; sự kết hợp của chúng với những cái khác đối với chúng là bàng quan, và khái niệm đối với chúng chỉ là một hình thức bên ngoài chứ không phải là một hình thức sống động ở trong các bộ phận thực tế và nâng các bộ phận này lên thành ý niệm của một thể thống nhất của chủ thể. Trái lại, mặc dầu các bộ phận của cơ thể có một thực tại bên ngoài, song khái niệm trong chừng mực này vẫn không làm thành cái bản chất riêng ở bên trong khái niệm, cho nên không gắn liền vào đấy từ bên ngoài như một hình thức chỉ hợp nhất chúng ở bên ngoài thôi mà còn làm thành sự tồn tại duy nhất.


Chính vì vậy, cho nên các bộ phận của một cơ thể không có được một trình độ thực tại của những hòn đá, hay của các hành tinh, của mặt trăng, của các sao chổi ở trong hệ thống hành tinh; trái lại sự tồn tại mang tính chất bị qui định bởi ý niệm, mặc dầu chúng là thực tế. Một bàn tay bị cưa mất, chẳng hạn, mất sự tồn tại độc lập của nó. Nó không còn là một bộ phận trước đây ở trong cơ thể, sự linh hoạt, các vận động, hình thức màu sắc v.v của nó đã thay đổi; hơn nữa nó, bắt đầu thối rữa và chấm dứt sự tồn tại. Nó không thể tồn tại như một bộ phận của cơ thể, nó chỉ có thể tồn tại thực sự như một thành viên của cơ thể, một hiện thực với điều kiện luôn luôn được nhập vào cái thể duy nhất có tính chất tinh thần do ý niệm nêu lên. Hình thức tồn tại cao nhất ở trong phạm vi một cơ thể sống là ở điểm: cái hiện thực, cái tích cực không ngừng được nêu ra dưới hình thức phủ định và dưới hình thức ý niệm, đồng thời tính chất ý niệm này lại đảm bảo duy trì các sai biệt thực tế và là nhân tố chủ yếu của sự tồn tại vững chắc các sai biệt thực tế này.


Chính vì lí do ấy, tính thực tại mà ý niệm có được với tính cách một sự sống tự nhiên là một thực tại có tính chất hiện tượng. “Hiện tượng” ở đây chẳng qua là sự tồn tại của một thực tại, nhưng sự tồn tại này không bắt nguồn trực tiếp ở bản thân mình mà là đồng thời tồn tại một cách phủ định. Song quá trình phur định của các thành viên tồn tại trực tiếp bên ngoài với tính cách một hoạt động lí tưởng hóa lại chứa đựng ở mình không phải chỉ độc có quan hệ phủ định: quá trình này cũng là khẳng định sự tồn tại cho mình ở trong sự phủ định ấy.


Từ trước đến giờ, chúng ta chỉ mới khảo sát cái thực tại đặc thù ở trong tính cá biệt phong bế của nó như là một cái gì tích cực. Nhưng sự độc lập này lại bị phủ định ở trong cái tồn tại sinh động và chỉ có thể thống nhất tinh thần có tính ý niệm ở trong các cơ thể thể xác thì mới giữ được cái quyền và các sức mạnh khẳng định đối với bản thân. Cần phải quan niệm tinh thần là tính ý niệm có tác dụng khẳng định ngay cả ở trong sự phủ định của nó. Vì vậy nếu như linh hồn biểu hiện ở trong cơ thể thì bản thân biểu hiện này đồng thời cũng mang tính chất khẳng định. Thực vậy, linh hồn bểu hiện mình như một sức mạnh đối lập lại tính đặc thù độc lập của các thành viên, nhưng linh hồn lại tạo ra các thành viên này bởi vì nó chứa đựng ở bản thân (với tính cách yếu tố lý tưởng và ở bên trong) cái được biểu hiện ra ngoài thành những hình thức và thành các bộ phận. Như vậy, cái được biểu hiện ra ngoài đó chính là cái tồn tại bên trong với nội dung khảng định; cái bên ngoài nếu chư chỉ là cái bên ngoài thì chẳng qua chỉ là một thể trừu tượng và phiến diện mà thôi.


Ở trong cái thể hữu cơ có sự sống chúng ta bắt gặp một tồn tại bên ngoài trong đó cái tồn tại bên trong bộc lộ dưới hình thức cái bên ngoài, và cái bên ngoài lại biểu hiện cái nội tại và là khái niệm của cái nội tại. Nhưng bởi vì ở trong tồn tại khách quan, khái niệm với tính cách khái niệm, là cái tính chủ thể liên quan tới bản thân và tồn tại cho mình ở trong tính thực tại của nó, cho nên kết quả là sự sống chỉ tồn tại dưới hình thức một vật sống, dưới hình thức một chủ thể cá biệt. Chỉ có sự sống mới tìm thấy điểm thống nhất có tính chất phủ định này. Điểm này là phủ định, bởi vì chỉ có cách biến các sai biệt thực tế thành ý niệm thì mới nêu bật được “cái-tồn tại-cho mình” có tính chất chủ thể; nhưng điều này đồng thời lại đòi hỏi chủ thể phải ttự khẳng định là một “tồn tại cho mình”.


Chú ý tới mặt này của tính chủ thể là rất quan trọng. Sự sống lần đầu tiên trở thành hiện thực chỉ dưới hình thức một tính chủ thể cá biệt đầy sắc sống. Nếu như người ta hỏi ý niệm sự sống biểu hiện ở trong các cá thể hiện thực có sức sống bằng cách nào thì có thể trả lời như sau. Sự sống trước hết phải là hiện thực với tính cách tính hoàn chỉnh của một thể hữu cơ đầy sức sống, nhưng thể hữu cơ này thứ hai phải tỏ ra không phải là một cái gì im lìm bất động mà là một quá trình tiếp tục nhằm thực hiện tính lý tưởng, ở đấy biểu lộ cái linh hồn đầy sức sống. Thứ ba chinh thể này không phải được qui định và thay đổi do những nhân tố bên ngoài, mà nó hình thành và hoàn thành quá trình của mình từ bên trong và trong quá trình này bao giờ nó cũng có quan hệ với bản thân dưới hình thức một thể thống nhất có tính chất chủ thể và với tính cách một mục đích tự thân.


Tính độc lập, tính tự do của thể hữu sinh có tính chủ thể biểu lộ chủ yếu ở trong vận động tự phát. Các vật thể vô sinh của tự nhiên vô cơ đều có tính không gian bất động không thay đổi; chúng làm thành một thể thống nhất với vị trí của chúng và gắn liền vào đấy hay là chúng vận động do tác động từ bên ngoài. Các vận động của chúng không phải xuất phát từ bản thân. Và khi người ta phát hiện rằng ở chúng có vận động thì vận động ấy là do một ảnh hưởng xa lạ đối với chúng mà chúng ra sức loại trừ. Mặc dầu vận động của các hành tinh v.v không phải làdo kết quả của một sự thúc đẩy từ bên ngoài và là xa lạ đối với các thiên thể này, nhưng vận động ấy cũng vẫn gắn liền với một qui luật bất biến và gắn liền với tính tất yếu trừu tượng của qui luật này. Động vật sống thì không thể. Do chỗ tự vận động tự do, động vật phủ định sự lệ thuộc của mình vào một vị trí nhất định và các vận động của chúng biểu lộ một cố gắng không ngừng để giải phóng mình ra khỏi tình trạng lệ thuộc này. Người ta cũng nhận thấy trong các vận động của động vật rằng động vật thủ tiêu (cố nhiên là thủ tiêu một cách tương đối) tính hạn chế trừu tượng đối với những hình thức vận động nhất định: quỹ đạo, tốc độ vận động v.v. Nói chặt chẽ hơn, động vật có ở bản thân mình, trong cơ thể mình một tính không gian cảm quan và có sự sống tức là tự mình vận động ở trong cái thực tại ấy, chẳng hạn sự tuần hoàn của máu, vận động của chân tay v.v.


Nhưng vận động không phải là biểu hiện duy nhất của sự sống. Động vật có thể phát ra âm thanh một cách tự do, điều mà các vật thể vô cơ không thể làm được, các vật thể vô cơ chỉ có thể phát ra những tiếng động và những âm thanh do tác động từ bên ngoài, và việc phát âm thanh một cách tự do như vậy đã làm thành một biểu hiện cao hơn của tính chủ thể hữu sinh.


Nhưng hoạt động ý niệm hóa sâu sắc nhất lại biểu lộ ở chỗ cái cá nhân sinh động, mặc dầu bị giam hãm ở trong bản thân và bị ngăn cách khỏi cái thực tại còn lại, song mặt khác ý lại làm cho thế giới bên ngoài sở dĩ tồn tại là vì bản thân cá nhân y làm điều đó một phần một cách lý thuyết bằng thị giác v.v một phần một cách thực tiễn bằng cách bắt các sự vật bên ngoài phải phục tùng nó. Nó sự dụng, nó đồng hóa các sự vật trong quá trình dinh dưỡng và như vậy, không ngừng tái sản xuất ra bản thân như vậy diễn ra ở trong những vật có cơ thể phát triển nhất trong những khoảng cách ít nhất cố định tách rời khỏi nhau, phù hợp với những đòi hỏi với việc tiêu thụ thức ăn và trình độ no nê thỏa mãn.


Trong mọi hoạt động này, khái niệm sự sống xuất hiện ở trong các cơ thể có sự sống. Tính chất ý niệm này không chỉ là sản phẩm của sự suy nghĩ của chúng ta, mà nó còn tồn tại khách quan ở trong bản thân cái chủ thể sống, và do đó chúng ta có quyền gọi sự tồn tại này là chủ nghĩa duy tâm khách quan. Linh hồn với tính cách một tồn tại có tính chất ý niệm như vậy biểu lộ ở chỗ nó không ngừng hạ thấp tính thực tại của thân thể xuống trình độ chỉ là cái ngoại hiện mà thôi và như vậy linh hồn biểu lộ một cách khách quan ở trong yếu tố thân thể.


 


Sự sống tự nhiên với tính cách cái đẹp.


 


Với tính cách ý niệm khách quan có tính chất cảm quan, sự sống tự nhiên là đẹp. Điều này có nghĩa là cái chân thực, ý niệm ở trong hình thức tự nhiên gần gũi nhất là sự sống, và tồn tại trực tiếp dưới hình thức một thực tại cá biệt và ăn khớp. Nhưng vì đây chỉ là sự biểu hiện cảm quan trực tiếp, cho nên một tồn tại sống động, đẹp một cách tự nhiên không phải là đẹp “cho bản thân mình”, cũng không phải là sản phẩm của bản thân nó mà là đẹp cho chính mình, vì cái đẹp. Cái đẹp trong tự nhiên sở dĩ là đẹp là vì một cái khác, tức là vì chúng ta, vì cái ý thức tiếp nhận cái đẹp. Vì vậy, nảy sinh vấn đề sự sống trong sự tồn tại trực tiếp của nó đối với chúng như thế nào là đẹp và vì sao lại đẹp.


Điều đầu tiên đập vào mắt chúng ta khi ta nhìn một vật sống ở trong các biểu thực tiễn và hành động tự vệ của nó đó là vận động tự phát. Nếu khảo sát như một vận động nói chung thì vận động tự phát chỉ là vận động tự do, trừu tượng của sự thay đổi vị trí biểu hiện trong thời gian. Vận động này ở động vật có vẻ võ đoán và vận động của động vật có vẻ ngẫu nhiên – âm nhạc và vũ điệu cũng bao hàm hành động, song vận động ở đây xét ở bản thân nó không phải là do ngẫu nhiên, cũng không phải võ đoán mà thực ra là đều đặn, được xác định, cụ thể, đầy nhịp độ và chúng ta thấy thế ngay dù cho chúng ta hoàn toàn bỏ qua cái ý nghĩa được vận động biểu hiện một cách đẹp đẽ. Mặc khác, nếu như chúng ta chỉ thấy vận động của động vật thể hiện một mục đích nào đó ở bên trong thì mục đích này vẫn mang tính chất hoàn toàn ngẫu nhiên và hạn chế bởi vì nó bị một vật nào đó kích thích. Nhưng nếu đi xa hơn, chúng ta sẽ thấy vận động là một hoạt động có mục đích và là sự phối hợp tất cả các bộ phận của cơ thể, thì lúc đó chúng ta sẽ đưa ra một phán đoán chỉ có thể là do hoạt động lí tính chúng ta.


Điều này cũng xảy ra nếu như chúng ta suy nghĩ về cách vận động thỏa mãn các yêu cầu của mình, cách nó ăn, lấy thức ăn, nuốt, tiêu hóa thức ăn và nói chung là làm mọi điều cần thiết để tự duy trì. Bởi vì ở đây, trước mắt chúng ta, chúng ta chỉ có một trong hai trường hợp: hoặc là mặt bên ngoài của các nhu cầu cá biệt và sự thỏa mãn võ đoán và ngầu nhiên các nhu cầu ấy (lúc này chúng ta không chú ý đến hoạt động bên trong của thể hữu cơ); hoặc là mọi hoạt động này, mọi phương thức biểu hiện của nó đều trở thành đối tượng của lí tính, lí tính cố gắng tìm hiểu tính chất hợp mục đích của chúng: sự phối hợp giữa các mục đích bên trong của động vật với các cơ quan thực hiện các mục đích ấy.


Sự quan sát cảm quan các ham muốn cá biệt và ngẫu nhiên, các vận động võ đoán và các cách thỏa mãn các nhu cầu cũng như sự khảo sát dựa trên lí tính không thể nêu lên cho ta thấy biểu hiện đời sống động vật ở trong tự nhiên là cái đẹp. Cái đẹp là ở biểu hiện bên ngoài, ở hình dáng cơ thể trong khi cơ thể nằm yên cũng như trong khi nó hoạt động, và không lệ thuộc vào mục đích thỏa mãn các nhu cầu cũng như vào tính ngẫu nhiên cô lập của một vận động võ đoán. Cái đẹp chỉ có thể biểu hiện trong hình tượng, bởi vì chỉ có hình tượng là cái biểu hiện bên ngoài ở đấy chủ nghĩa duy tâm khách quan của yếu tố sự sống mới trở thành đối tượng tri giác đối với chúng ta là những chủ thể tri giác và khảo sát các đối tượng một cách cảm quan. Tư duy lí giải chủ nghĩa duy tâm này ở trong khái niệm của nó và lấy nó làm đối tượng của bản thân mình do tính phổ biến của đối tượng, trong khi đó thì cái đẹp được khảo sát qua tính hiện thực cụ thể của nó. Và tính hiện thực này được đại biểu bởi diện mạo bên ngoài của cái thể hữu cơ có nhiều bộ phận. Đối với chúng ta thể hữu cơ vừa là “cái tồn tại” vừa là ngoại hiện, khi tính đa dạng thuần túy thực tại của các bộ phận tạo nên thể hữu cơ cần phải được nhìn ở trong cái chỉnh thể có sự sống của hình tượng với tính cách một ngoại hiện.


Dựa trên cái khái niệm về sự sống mà chúng tôi đã giải thích, chúng ta nhận thấy đặc trưng sau đây của cái ngoại hiện ấy còn chặt chẽ hơn: hình ảnh cơ thể được nói lên bởi phạm vi nó chiếm trong không gian, bởi giới hạn, bở ngoại hình của nó. Nó khác các hình ảnh khác về tinh thần, màu sắc, vận động v.v và bởi một tập hợp những chi tiết khác cũng thuộc loại này. Để cho thể hữu cơ biểu lộ sự sống của mình ta phải nhận thấy rằng sự tồn tại thực sự không phải là ở tính đa dạng này. Tuy vậy, sở dĩ thế là do chỗ các bộ phận và các hình thức biểu hiện khác nhau trong khi xuất hiện trước mắt ta như những yếu tố cảm quan, đồng thời lại vừa hợp nhất thành một chính thể và làm thành một cá thể, cái này là một cái gì duy nhất cho nên các đặc điểm khác nhau này vẫn nhất trí với nhau.


Nhưng trước hết thể thống nhất này cần phải đóng vai một thể đồng nhất  không có chủ ý, và không phải là một mục đích trừu tượng không được xem từng bộ phận cá biệt chỉ là những phương tiện để đạt đến một mục đích cụ thể, và chỉ có một địa vị phụ thuộc đối với mục đích này, cũng như không được bỏ mất những sự khác biệt của chúng ở trong kết cấu và tỏng hình thể.


Thứ hai, nếu ta quan sát các bộ phận của một thể hữu cơ sống thì thấy chúng đều có cái vẻ ngẫu nhiên, nghĩa là không bộ phận nào qui định bộ phận khác. Không có bộ phận nào có hình thức này hay hình thức nọ, bởi vì một bộ phận kia cũng có hình thức như thế như điều ta vẫn thấy trong trường hợp những vật tuân theo một quy tắc duy nhất. Trong các vật được qui định như vậy, một đặc tính trừu tượng qui định hình dáng, độ lớn v.v các thuộc tính của tất cả các bộ phận, chẳng hạn các cửa sổ của một ngôi nhà, ít nhất các cửa sổ cũng thuộc một loại như nhau đều to lơn như nhau. Cũng vậy, các binh sĩ của một đạo quân chính qui trong một trung đoàn thường ăn mặc như nhau. Các bộ phận khác nhau của mũ, hình dáng, màu sắc của chúng không phải là ngẫu nhiên đối với nhau và quần áo của mỗi người có một hình thức được qui định do chỗ quần áo của người khác cũng có hình dáng như vậy. Ở đây các hình thức khác nhau cũng như tính độc đáo của các hình thức đều không có dịp tự khẳng định mình.


Trong trường hợp một cá thể sống hữu cơ thì tình hình khác hẳn. Ở đây mỗi bộ phận là khác các bộ phận khác: mũi khác trán, miệng khác má, ngực khác cổ, tay khác chân v.v. Bởi vì khi ta quan sát, mỗi bộ phận đều khác và đều có một hình thức độc đáo và hình thức này không bị qui định một cách tuyệt đối bởi một bộ phận nào khác cho nên bộ phận nào cũng độc lập ở bản thân mình và nhờ vậy mà thành tự do và ngẫu nhiên so với bộ phận khác. Sở sĩ thế là vì mối liên hệ vật chất không đụng chạm đến hình thức của chúng với tính cách hình thức.


Thứ ba, mặc dầu tình trạng độc lập này, vẫn có một mối liên hệ nội tại, một tính thống nhất không mang tính nhất dạng bên ngoài và trừu tượng, loại trừ các đặc điểm đặc thù; trái lại tính thống nhất này phải gìn giữ và phát triển các nét đặc thù độc đáo. Tính thống nhất này không xuất hiện trực tiếp và cảm quan đối với người xem giống như sự khác nhau giữa các thành viên; trái lại nó phải là một tất yếu ẩn náu, nội tại nhằm tạo nên tính nhất trí giữa chúng. Nhưng chí có tư duy mới có thể nắm được cái tính thống nhất này mà bên ngoài thì vô hình và tất yếu, một tính thống nhất mà trực giác không thể nào nhận thấy được. Trong trường hợp này tính thống nhất này sẽ có vẻ như vắng mặt ở trong cái đẹp trực quan, và trực giác sẽ không nhìn thấy nó ở trong cái tồn tại sống động nói lên cái ý niệm đã được thể hiện. Chính vì vậy cho nên tính thống nhất còn phải bộc lộ cả ra ngoài nữa, miễn là nó không thể chỉ là một yếu tố cảm quan và không gian như một yếu tố nêu lên do cái ý niệm đã cấp cho nó sự sống. Nó xuất hiện ở cái cá thể với tính chất ý niệm phổ biến của các bộ phận, và làm thành nền tảng vững chắc, tạo thành chỗ dựa cho chủ thể sống.


Tính thống nhất của chủ thể này biểu lộ trong đời sống hữu cơ dưới hình thức cảm giác. Linh hồn đóng vai linh hồn ở trong cảm giác và trong biểu hiện của cảm giác bởi vì đối với cảm giác, sự tồn tại đơn thuần của các bộ phận cơ thể ở cạnh nhau vẫn chưa phải là cái chân thực, và tình trạng phức tạp của các hinhf thức có tính chất không gian vẫn không tồn tại đối với cái mặt ý niệm có tính chất chủ thể có cảm giác. Thực vậy, tính thống nhất giả thiết có tính đa dạng, có cơ cấu đặc thù và có sự kết hợp hữu cơ của các bộ phận. Song do chỗ cái linh hồn biết cảm giác biểu lộ qua các bộ phận, cho nên tính thống nhất nội tại có mặt ở mọi nơi lại loại trừ các bộ phận này khiến bộ phận không chỉ đại diện cho bản thân chúng mà còn nói lên cái cảm giác đã khiến cho chúng có tình cảm.


Lúc đầu, ta không thấy sự biểu hiện cái cảm nghĩ có tính chất tâm hồn mang tính tất yếu của một quan hệ tương hỗ giữa các bộ phận riêng biệt của cơ thể; trực giác cũng không làm thành một trực giác về tính thống nhất tất yếu của sự phân chia hiện thực và của tính duy nhất có tính chất chủ thể của tình cảm với tính cách tình cảm.


Nếu như hình tượng thân hình phải nêu bật ở bản thân nó sự nhất trí nội tại này giữa các bộ phận của cơ thể và tính tất yếu của sự nhất trí này, thì đối với chúng ta mối quan hệ này có thể chẳng qua chỉ là một thói quen do chỗ của các bộ phận này vẫn ở gần nhau. Thói quen này đã dẫn tới việc xây dựng một kiểu nhất định và những loại hình lặp đi lặp lại của cái kiểu ấy. Song bản thân thói quen, đến lượt nó, chẳng qua chỉ là một tất yếu thuần túy chủ quan. Nếu dựa trên tiêu chuẩn này thì chúng ta có thể, chẳng hạn, cho những động vật nào không trùng với các cơ thể chúng ta thường vẫn quen nhìn hay đối lập lại kinh nghiệm hàng ngày của chúng ta là những vật xấu. Chẳng hạn, chúng ta có thể cho những con cá có thân hình không cân đối kết thúc bằng một cái đuôi ngắn và cặp mắt chỉ ở một bên là những con cá kì quặc. Chúng ta sẽ cho những động vật có cơ quan được tập hợp khác hẳn điều mà chúng ta vẫn quen nhìn là những động vật xấu. Ở trong thế giới thực vật, chúng ta càng quen hơn với những sự thiên lệch đa dạng, mặc dầu chúng ta có thể cảm thấy ngạc nhiên khi nhìn cây xương rồng với gai góc của nó và hình dáng thẳng góc của các cành. Con người đã nghiên cứu lịch sử tự nhiên và có những kiến thức nhiều mặt ở lĩnh vực này sẽ viết vô cùng chính xác về tất cả những bộ phận cá biệt của thể hữu cơ và đồng thời sẽ nhớ rõ vô số loại kết hợp của các bộ phận này, cũng như những liên hệ của chúng với nhau cho nên anh ta sẽ không thấy điều ấy là lạ lùng.


Nếu như ta thâm nhập sâu hơn nữa vào mối quan hệ này giữa các bộ phận, ta có thể mài sắc các quan niệm và phát triển những khả năng xét đoán đến nỗi chỉ cần nhìn một bộ phận tách rời là đã có thể nói lên toàn bộ cái hình thức trong đó nó là một bộ phận tất yếu. Chẳng hạn Quy-vi-ê (Cuvier) đã nỗi tiếng về mặt này. Chỉ cần nhìn một cái xương mà thôi, dù đó là xương của một động vật đã hóa đá hay là của một động vật thường, là ông có thể xác định cái xương này thuộc cá thể nào. Đây chính là trường hợp của câu ex ungue leonem (nhìn móng chân thấy ngay được con sư tử) theo nghĩa đen của nó: các móng chân và xương đùi cho phép ta nhận ra được cấu trúc của răng, và đến lượt nó, cấu trúc của răng lại cho phép ta hồi phục lại xương hông hay xương sống v.v.


Theo cách lí giải như vậy, việc nhận thức một thể loại động vật không chỉ còn là vấn đề thói quen mà thôi mà sợi dây chỉ đạo là sự suy nghĩ và những đặc trưng tư duy nhất định. Chẳng hạn Qui-vi-ê trong các việc phục hồi của mình là dựa vào cái nhìn bên trong của ông cho rằng một thuộc tính và một đặc điểm lặp đi lặp lại phải nói lên một thể thống nhất trong tất cả các bộ phận riêng biệt tách ròi nhau, và vì vậy, có thể nhận ra được tính thống nhất này trong các bộ phận. Đặc điểm ăn thịt chẳng hạn, là một thuộc tính chung như vậy, và sau đó thuộc tính này làm thành qui luật tổ chức của mọi bộ phận. Một động vật ăn thịt cần đến những loại răng khác, những loại xương khác v.v bởi vì nó phải đi kiếm mồi và chộp lấy mồi cho nên chân nó không thể mang vó mà cũng phải có móng. Dựa theo những qui luật chung thuộc loại này, người ta xác định được hình thức tất yếu và liên hệ của mọi bộ phận. Quan niệm thông thường cũng bắt đầu tuân theo những thuộc tính chung như vậy khi chúng ta muốn giải thích sức mạnh to lớn của sư tử, diều hâu v.v.


Một phương thức khảo sát như vậy xét với tính cách phương thức khảo sát, có thể gọi là đẹp đẽ và tài tình, bởi vì nó cho phép chúng ta nhận thấy tính thống nhất của các cấu tạo cơ thể trong tất cả các hình thức của nó, một tính thống nhất không phải đơn điệu mà giữ được những sự khác nhau loại biệt của mọi bộ phận của cơ thể. Song yếu tố chủ đạo trong phương thức khảo sát như vậy không phải là trực giác mà là cái tư duy phổ biến đã lãnh đạo trực giác. Chính vì vậy chúng ta không nói rằng quan hệ của chúng ta đối vơi sự vật là bị qui định bởi cái đẹp của sự vật, mà chúng ta nói rằng phương thức khảo sát sự vật là đẹp vì nó là sự suy nghĩ có tính chất chủ thể. Nếu khảo sát gần hơn nữa, chúng ta sẽ thấy rằng nguyên lí chủ đạo những suy nghĩ này là xuất phát từ một mặt riêng, rất hữu hạn: đó là phương thức dinh dưỡng của súc vật , đặc tính ăn thịt, ăn cỏ, của súc vật v.v. nhưng nếu chỉ dựa vào một thuộc tính như vậy mà thôi thì sẽ không đạt đến trực giác về tình trạng gắn bó đã nêu lên ở trên, của toàn thể, của khái niệm, của bản thân linh hồn.


Nếu như ở trong lĩnh vực này chúng ta muốn nhận thức được tính thống nhất hoàn chỉnh bên trong của sự sống thì ta có thể đạt đến bằng tư duy và bằng cách lí giải dựa vào khái niệm. Trong thế giới tự nhiên, linh hồn với tính cách linh hồn vẫn chưa có thể được người ta nhận thức bởi vì thể thống nhất chủ quan trong tính chất ý niệm của linh hồn vẫn chưa có được một tồn tại vì bản thân mình. Nhưng nếu chúng ta tư duy để đạt đến linh hồn theo khái niệm của linh hồn thì chúng ta sẽ có được hai phương diện để khảo sát linh hồn: chúng ta chiêm ngưỡng cái hình tượng mang linh hồn và chúng ta suy nghĩ về khái niệm linh hồn với tính cách linh hồn. Nhưng khi trực giác cái đẹp thì đối với sự suy nghĩ của chúng ta đối tượng không được phép đóng vai một tư duy hay một đối tượng của tư duy – làm thành một cái gì trực giác và thậm chí đối lập lại với trực giác. Chỉ còn lại một cách: đối tượng tồn tại cho cảm giác bên ngoài và ta có được cái lí giải cảm quan hình thức tự nhiên với tính cách phương thức thực sự để khảo sát cái đẹp trong tự nhiên.


“Nghĩa” (Sinn)(5) chính là cái từ kỳ diệu được dùng với hai nghĩa đối lập: thứ nhất nó chỉ những cơ quan tri giác trực tiếp, thứ hai chúng ta có thể dùng nó để gợi ý nghĩa tư tưởng, cái khái quát. Một mặt “Sinn” chỉ phương diện bên ngoài trực tiếp của tồn tại và mặt khác nó chỉ bản chất bên trong của tồn tại này. Sự khảo sát có suy nghĩ không tách hai mặt này ra khỏi nhau, trái lại trong khi đi về một hướng nó còn chưa đựng ở mình cả hướng đối lập nghĩa là trong khi nhận được một trực giác cảm quan trực tiếp, nó đồng thời bao quát cả bản chất và khái niệm.


Bởi vì khi tri giác sự vật, người tri giác tiếp nhận các đặc tính này ở một tình trạng thống nhất, không bị phân chia cho nên anh ta vẫn chưa nhận thức được cái khái niệm thực sự mà chỉ cảm thấy nó một cách mang máng, mơ hồ thôi. chẳng hạn, khi nêu lên sự tồn tại của ba giới tự nhiên là khoáng vật, thực vật và động vật, chúng ta cảm thấy trước rằng ở trong các trình độ kế tiếp nhau này có một tất yếu bên trong có tính chất khái niệm chứ không chỉ hài lòng ở biểu tượng đơn thuần về một tính mục đích bên ngoài. Ngay trong tính đa dạng của các hình thức ở trong ba thế giới này, cái trực giác có suy nghĩ vẫn cảm thấy trước một cách mơ hồ sự can thiệp của một sự hướng dẫn có tính chất tinh thần: do đó mà có một bước tuần tự tiến dẫnf hợp lí trong cách cấu tạo khác nhau của núi non cũng như trong thứ tự kế tiếp nhau của các loại thảo mộc và các loại động vật. Chúng ta sẽ thấy ở trong mỗi cơ thể động vật, trong mỗi con sâu nào đó cũng có một cách tổ chức hợp lí như vậy với sự phân chia thành đầu, ngực, bụng, đuôi. Cũng hệt như vậy, chúng ta thấy có sự tương ứng với khái niệm ở năm giác quan mặc dầu lúc đầu các giác quan này có vẻ là một tập hợp ngẫu nhiên.


Cách khảo sát và phát hiện hợp lí bên trong của tự nhiên và của các hiện tượng của tự nhiên mà Gơt đã làm cũng mang tính chất như vậy. Với một trí thông minh đặc biệt Gơt bắt đầu khảo sát một cách hồn nhiên các sự vật, đồng thời cảm thấy hết sức rõ ràng mối liên hệ duy lý của chúng. Ta cũng có thể hiểu lịch sử làm thế nào để qua những biến cố cá biệt và những nhân vật cá biệt nêu ngầm ý nghĩa cốt tử và mối liên hệ tất yếu của chúng.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »