tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29862783
Tiểu thuyết
03.10.2009
Heinrich Böll
Đêm thánh vô cùng

Murke nói:


- Mười một giờ làm tiếp.


- Wulla, cho nửa lít  bia.


Schwendling hét về phía quầy rồi nói với Murke:


- Này, theo lẽ chú phải được nghỉ ngoại kỳ mới đúng, cái đó chắc phải dễ sợ lắm. Lão già có kể cho tôi nghe nó như thế nào.


Murke im lặng, Schwendling nói tiếp:


- Chú biết điều mới  nhất về Muckwitz chưa?


Murke lắc đầu thờ ơ nhưng cũng hỏi lấy lệ:


- Vậy ông ta thế nào?


Wulla đem bia tới, Schwendling uống một ngụm rồi làm ra vẻ quan trọng:


- Muckwitz làm phóng sự truyền thanh về thảo nguyên.


Murke cười, hỏi:


- Còn Fenn thì sao?


Schwendling nói:


- Anh ta làm phóng sự về đài nguyên.


- Còn Weggucht?


- Weggucht làm phóng sự về tôi, và sau này, tôi sẽ làm một bài về hắn, theo phương châm: Mày làm phóng sự về tao thì tao phóng sự lại mày…


Lúc ấy, một cộng tác viên tự do đứng phắt dậy, cường điệu hét vào căngtin:


- Nghệ thuật – nghệ thuật – chỉ có mi mới đáng kể thôi.


            Murke thụp xuống như người lính khi nghe tiếng súng cối bắn ra từ đường hào của địch. Anh uống một hớp nước táo và lại giật mình khi nghe loa phóng thanh gọi:


- Yêu cầu tiến sĩ Murke tới phòng thu mười ba! Yêu cầu tiến sĩ Murke tới phòng thu mười ba!


Loa phóng thanh bắc trên quầy căngtin, ngay dưới khẩu hiệu ông giám đốc cho sơn lên tường: Kỷ luật là tất cả.


Schwendling nói:


- Thôi, chẳng làm gì được đâu, chú đi đi.


- Phải rồi, chẳng làm được gì cả.


Murke nói rồi đứng dậy, để tiền để nước táo trên bàn, thu nhỏ người lại khi đi ngang qua các cộng tác viên tự do. Tới thang máy liên tục, anh nhảy vào và đi lên phía trên, qua năm cái gạt tàn Schrưrschnauz. Anh thấy ảnh thánh tâm chúa Giêsu vẫn còn trên khung cửa của người phó đạo diễn và nghĩ thầm: “May quá, giờ ít ra có một tấm ảnh tồi trong đài phát thanh.”


Anh mở cửa vào phòng đạo diễn, thấy anh kỹ thuật ngồi một mình với bốn hộp cáctông, anh mệt mỏi hỏi:


- Có chuyện gì vậy?


Anh kỹ thuật nói:


- Họ xong sớm hơn dự tính nên ta được nửa giờ. Tôi nghĩ có lẽ anh muốn dùng nửa giờ ấy cho việc khác.


Murke bảo:


- Thật đúng thế, tôi có hẹn lúc một giờ. Vậy ta hãy  bắt đầu. Bốn hộp cáctông để làm gì vậy?


- Tôi dành mỗi hộp cho một cách, đối cách ở hộp thứ nhất, hộp thứ hai dành cho thuộc cách, hộp thứ ba tặng cách, và trong hộp kia - anh chỉ hộp cáctông bên phải phía ngoài cùng, một hộp nhỏ mang dòng chữ SÔ-CÔ- LA NGUYÊN CHẤT, và bảo - để hai hộp cách tốt bên góc phải, hộp cách xấu góc trái.


- Thật tuyệt, vậy anh đã cắt rời thứ rác rưởi đó rồi?


Anh kỹ thuật bảo:


- Vâng, và nếu anh đã ghi thứ tự các trường hợp để dán thì trễ lắm một tiếng nữa, chúng ta xong. Anh ghi chưa?


- Rồi.


Murke nói rồi lấy trong túi một mảnh giấy mang số 1 tới 27, sau mỗi số có ghi cách tương ứng.


Murke ngồi xuống, đưa bao thuốc lá mời anh kỹ thuật; họ cùng hút, và anh kỹ thuật đặt vào cuộn chiếc băng thu các bài thuyết trình của Bur-Malottke đã được cắt ra làm nhiều khúc. Murke nói:


- Ở chỗ thứ nhất, ta phải dán đối cách vào.


Anh kỹ thuật thò tay vô hộp thứ nhất lấy một đoạn băng dán vào chỗ trống.


- Chỗ thứ hai, tặng cách.


Họ làm việc mau lẹ, và Murke thấy nhẹ người vì việc nhanh chóng như vậy. Anh nói:


- Bây giờ đến lượt hô cách, dĩ nhiên ta lấy cái xấu.


Anh kỹ thuật cười và dán hô cách xấu của Bur-Malottke vào băng. Anh nói:


- Tiếp theo, tiếp theo!


- Thuộc cách.


Ông giám đốc đọc thư thính giả hết sức cẩn thận. Thư ông đang đọc có lời lẽ như sau:


Đài phát thanh quí mến,


Chắc hẳn Đài không có thính giả nào trung thành hơn tôi. Tôi là một bà lão, một má già bảy mươi bảy tuổi, và tôi nghe đài hằng ngày từ ba mươi năm nay. Tôi không bao giờ tiếc lời khen ngợi. Có lẽ Đài còn nhớ thư tôi viết về đài phát thanh: “Bảy linh hồn của nàng bò Kaweida”. Bài đó hay tuyệt – nhưng bây giờ tôi phải giận Đài mới được! Sự hờ hững của Đài đối với những tâm hồn chó bắt đầu gây phẫn nộ. Cái đó, đài còn gọi là chủ nghĩa nhân đạo nữa chớ. Chắc hẳn Hitler có nhiều khuyết điểm. Nếu có thể tin những lời người ta nói thì ông ta thật đáng ghê tởm, nhưng ông ta được cái này: ông ta thương chó và biết lo cho chúng. Chừng nào chúng mới lại được hưởng quyền làm chó ở đài phát thanh Đức? Thế nào kia, chớ như đài phát thanh “Như chó với mèo” mà đài phát thử thì không được: đó là một xúc phạm đối với mọi tâm hồn chó. Nếu như con Lohengrin bé nhỏ của tôi nói được, nó sẽ cho đài biết! Con vật dễ thương đã sủa giữa lúc phát cái bài dở ấy, nó đã sủa khiến tim người ta phải rộn rã(1) vì xấu hổ. Mỗi tháng tôi trả hai mác lệ phí như các thính giả khác nên có quyền đặt câu hỏi: chừng nào chó mới lại được hưởng quyền của chúng ở đài phát thanh?


Thân ái – mặc dù tôi rất giận Đài –


Jadwiga Herchen, vô nghề nghiệp


T.b: Nếu như trong những kẻ vô liêm sỉ được Đài chọn làm cộng tác viên không ai có khả năng đánh giá tâm hồn chó một cách đúng đắn thì Đài hãy sử dụng những bài viết thử tôi gởi kèm theo đây. Tôi không nhận thù lao. Đài có thể chuyển thẳng tới Hội bảo vệ thú vật.


Đính kèm: 35 bản thảo. J. H. của Đài.


Ông giám đốc thở dài. Ông ta tìm các bản thảo nhưng hiển nhiên là bà thư ký đã loại bỏ rồi. Ông giám đốc nhét thuốc lá vào ống điếu, châm lửa, liếm cặp môi đầy sức sống, nhấc ống nghe lên và yêu cầu nối đường dây với máy của Krochy. Trong phòng Tiếng nói văn hóa trên kia, Krochy có một buồng nhỏ tí với một bàn giấy nhỏ tí nhưng đẹp mắt và quản lý một phạm vi cũng nhỏ như cái bàn giấy của anh ta: con vật trong văn hóa. Khi nghe tiếng xưng tên khiêm nhường của Krochy ở đầu dây bên kia, ông giám đốc hỏi:


- Krochy à, lần cuối ta nói về chó là lúc nào vậy?


Krechy bảo:


- Về chó à? Thưa ông giám đốc, theo tôi biết, chưa bao giờ, ít ra trong thời gian tôi làm ở đây, chưa ạ.


- Và anh làm ở đây bao lâu rồi, Krochy?


Trong phòng mình, Krochy run rẩy vì giọng nói của ông giám đốc trở nên thật êm dịu; anh biết điều ấy chẳng có gì tốt cả. Anh ta nói:


- Tới nay được mười năm, thưa ông giám đốc.


- Khỉ thật, vậy mà anh chưa nói gì về chó cả, cái đó thuộc phạm vi của anh kia mà. Bài phát thanh cuối cùng của anh gọi là gì?


- Bài phát thanh cuối cùng của tôi gọi là…


Krochy nói lắp bắp. Ông giám đốc bảo:


- Anh không cần phải lặp lại lời tôi, ta không phải trong quân đội.


- Chim cú ở tường thành.


Krochy rụt rè nói. Giọng ông giám đốc êm dịu trở lại:


- Trong vòng ba tuần tới, tôi muốn nghe một bài về tâm hồn chó.


- Xin vâng.


Krochy nghe tiếng “cách” do ông giám đốc để ống nghe xuống, anh thở dài thườn thượt:


- Chúa ơi!


Ông giám đốc vớ lấy một thư thính giả khác.


Đúng lúc đó, Bur-Malottke bước vào. Ông ta được quyền vào đây bất cứ lúc nào mà không cần báo trước, và ông ta dùng quyền ấy rất thường. Ông ta vẫn còn đổ mồ hôi, mệt nhọc ngồi xuống cái ghế đối diện với ông giám đốc và nói:


- Chào ông nhé.


- Chào ông - Ông giám đốc để thư thính giả qua một bên - Tôi có thể giúp ông điều gì không?


Bur-Malottke bảo:


- Ông làm ơn tặng tôi một phút.


- Bur-Malottke (ông giám đốc vừa nói vừa làm một cử chỉ oai vệ và sinh động) thì cần gì phải xin một phút, ông muốn sử dụng hàng giờ, hàng ngày cũng được.


Bur-Malottke nói:


- Không, không phải một phút thông thường mà một phút truyền thanh kia.


Lúc ấy, ông giám đốc trở nên nghiêm nghị như vị thống đốc Ba Tư đang chia các tỉnh. Ông chua chát bảo:


- Hy vọng không phải một chút chính trị.


- Không, nửa phút địa phương và nửa phút tiêu khiển.


- Thật may mắn, tôi còn dư sáu mươi chín giây tiêu khiển và tám mươi ba giây địa phương, tôi sẵn sàng tặng Bur-Malottke một phút.


- Lòng tốt của ông khiến tôi phải xấu hổ.


Ông giám đốc hỏi:


- Tôi có thể giúp ông điều gì nữa không?


Bur-Malottke bảo:


- Tôi sẽ rất mang ơn ông, nếu ta có dịp bắt tay vào sửa tất cả những băng tôi nói từ 1945 tới nay. Một ngày kia, - ông ta xoa trán và buồn bã nhìn bức Brller chính cống treo trên bàn viết của ông giám đốc - một ngày kia, tôi sẽ… (ông ta ngập ngừng, vì điều sắp báo cho ông giám đốc biết sẽ làm hậu thế hết sức đau lòng) một ngày kia, tôi sẽ – tôi sẽ mất – (và ông ta lại ngập ngừng một lúc để ông giám đốc có cơ hội tỏ vẻ kinh ngạc và xua tay chống lại ý nghĩ ấy) và tôi sẽ không chịu nổi khi nghĩ rằng sau khi mất, người ta có thể phát những băng trong đó tôi nói những điều mình không tin tưởng nữa. Nhất là giữa cái sôi nổi của năm 1945, tôi đã để cho mình bị lôi cuốn nên có những phát biểu chính trị khiến tôi bây giờ hết sức băn khoăn, và tôi chỉ có thể giải thích chúng bằng sự bồng bột của tuổi trẻ đã đậm nét trong tác phẩm của tôi tự thuở nào. Các bài viết đang được sửa chữa, tôi mong ông sớm tạo cơ hội cho tôi sửa lại các bài đọc của mình.


Ông giám đốc im lặng, khẽ ho húng hắng, trán lấm tấm những giọt mồ hôi trong suốt. Ông sực nhớ là từ năm 1945 đến nay, mỗi tháng Bur-Malottke nói ít nhất một giờ, và ông ta tính nhanh trong khi Bur-Malottke tiếp tục nói: mười hai lần mười là một trăm hai mươi giờ Bur-Malottke đã  nói. Bur-Malottke bảo:         


- Chỉ những đầu óc tăm tối mới cho là tính tiểu kỹ không xứng đáng với thiên tài, và chúng ta biết rằng (ông giám đốc cảm thấy được mơn trớn vì chữ “chúng ta” đã liệt ông vào hạng đầu óc sáng suốt) những thiên tài thực sự là những người tiểu kỹ. Himmelsheim đã bỏ tiền riêng để đóng lại cả một đợt phát hành cuốn Seelon, chỉ vì ông ta cảm thấy ba bốn câu trong tác phẩm đó không thích hợp nữa. Khi nghĩ đến việc những bài thuyết trình tôi không tin là đúng nữa có thể được phát khi mình đã từ trần, ý nghĩ ấy tôi không chịu được. Ông có đề nghị nào để giải quyết vấn đề này không?


Những giọt mồ hôi trên trán ông giám đốc lúc ấy đã lớn hơn. Ông ta nói nhỏ:


- Trước hết, phải làm bản kê tất cả những bài thuyết trình của ông rồi kiểm xem còn đủ những băng ấy ở phòng lưu trữ hay không.


Bur-Malottke nói:


- Hy vọng  người ta không xóa băng nào mà không báo cho tôi biết. Người ta đã không báo gì cho tôi, vậy thì không có băng  nào bị xóa cả.


Ông giám đốc nói:


- Tôi sẽ bảo họ làm mọi việc cần thiết.


- Tôi yêu cầu điều ấy.


Bur-Malottke nói giọng châm chọc rồi đứng dậy:


- Chào ông.


- Chào ông.


Ông giám đốc đưa Bur-Malottke ra cửa.


Ở căngtin, các cộng tác viên tự do quyết định đặt bữa ăn trưa. Họ đã uống nhiều rượu mạnh và vẫn tiếp tục nói chuyện nghệ thuật, điềm tĩnh hơn nhưng không kém phần đam mê. Bọn họ giật mình sợ sệt khi thấy Wanderburn. Wanderburn là một thi sĩ vóc người to lớn với dáng vẻ ưu sầu, với mái tóc đen, gương mặt dễ có cảm tình và hơi hằn nét vinh quang. Hôm ấy, ông ta không cạo râu nên càng dễ có cảm tình hơn nữa. Ông ta tới bàn các cộng tác viên tự do và bảo họ:


- Các con cho ba uống cái gì đi. Trong nhà này, tôi luôn luôn có cảm tưởng sắp chết khát.


Họ đưa ông ta ly rượu mạnh chưa ai uống và phần còn lại của một chai nước khoáng. Wanderburn uống, để ly xuống, lần lượt nhìn ba anh kia rồi nói:


- Tôi cảnh báo các anh, phải đề phòng cái đài bẩn thỉu này – cái thùng cứt thủng, láng bóng và trơn tru như lươn này. Nó sẽ làm chúng ta hỏng cả.


Lời cảnh báo của ông ta rất thật tình và gây ấn tượng tốt cho các anh trẻ tuổi; nhưng các anh đâu có biết ông ta mới từ phòng thu ngân ra, sau khi nhận số tiền thù lao to lớn cho việc cải biên sơ sài cuốn thánh kinh Job. Ông ta nói:


- Họ chặt chúng ta ra từng khúc, rút hết sinh lực của chúng ta rồi dán chúng lại, và không ai trong chúng ta có thể chịu nổi cả.


Ông ta uống hết nước khoáng, để ly xuống bàn rồi bước ra cửa, chiếc áo khoác phất phơ một cách ưu sầu.


Đúng mười hai giờ, Murke xong việc dán băng. Họ vừa dán xong khúc băng cuối cùng, một tặng cách, Murke đã đứng dậy. Anh nắm chốt cửa định mở thì anh kỹ thuật bảo:


- Một lương tâm nhạy cảm và tốn kém như vậy, tôi cũng mong được có. Ta làm gì với nó đây?


Anh ta chỉ hộp thuốc lá nằm trên kệ, giữa những hộp cáctông đựng băng mới. Murke nói:


- Anh cứ để nó ở đó.


- Chi vậy?


- Có lẽ mình còn cần.


- Anh cho là có thể ông ta lại bị lương tâm cắn rứt nữa à?


Murke bảo:


- Biết đâu. Tốt hơn, ta đợi xem sao. Thôi chào anh.


Anh ra thang máy liên tục phía trước, đi xuống tầng hai, và lần đầu tiên trong ngày, anh vào phòng mình. Bà thư ký đã đi ăn. Humkoke, sếp của Murke, đang ngồi đọc sách cạnh máy điện thoại. Ông cười với Murke, đứng dậy bảo:


- À ra anh vẫn còn sống. Có phải sách của anh đây không? Anh để nó trên bàn viết vậy à?


Cuốn sách có áo bìa màu lục – xám – cam, mang tựa đề Kênh thơ trữ tình của Batley; sách nói về một thi sĩ Anh trẻ tuổi đã lập danh mục tiếng lóng Luân Đôn cách đây một trăm năm. Murke nói:


- Sách đó tuyệt hay.


Humkoke bảo:


- Đúng, nó tuyệt hay, còn anh thì chẳng bao giờ khôn cả.


Murke nhìn ông tỏ ý hỏi.


- Anh chẳng bao giờ biết là những cuốn sách tuyệt hay không được để khơi khơi trên bàn như vậy, nếu như Wanderburn có thể đến, và Wanderburn có thể đến bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên ông ta sẽ thấy nó ngay, sẽ mở ra đọc năm phút, và hậu quả là gì, anhh biết không?


Murke im lặng. Humkoke tiếp:


- Hậu quả là hai bài truyền thanh dài một tiếng về Kênh thơ trữ tình của Batley. Thằng đó một ngày nào còn dám đem cả bà của mình ra làm phóng sự nữa là. Nhưng khổ nỗi, bà của hắn lại cũng là bà tôi. Murke này, anh phải ghi nhớ: không bao giờ để những sách tuyệt hay trên bàn, nếu như Wanderburn có thể đến. Và tôi lặp lại: hắn có thể đến bất cứ lúc nào. – Thôi, anh về đi, chiều nay anhh được nghỉ, và chắc chắn anh đáng được nghỉ. À, cái đồ tồi đó đã xong chưa? Và anh có nghe lại lần nữa không?


Murke nói:


- Cháu xong cả rồi nhưng việc nghe lại các bài thuyết trình thêm một lần nữa, cháu không thể làm được, không cách nào được.


- Không cách nào được là cách nói rất trẻ con.


- Nếu hôm nay phải nghe chữ nghệ thuật lần nữa, cháu sẽ bị cuồng loạn.


- Anhh đã bị rồi, và tôi công nhận anh có lý do để bị cuồng loạn. Ba giờ Bur-Malottke đủ để vật ngã kẻ mạnh nhất, còn anh thì chưa được gọi là mạnh nữa kia.


Humkoke ném cuốn sách xuống bàn, bước một bước về phía Murke rồi tiếp:


- Lúc vào tuổi anh, có lần tôi phải cắt bỏ ba phút một bài diễn văn của Hitler. Lúc khởi sự nghe băng lần đầu, tôi là đảng viên đảng Quốc xã, nhưng khi nghe xong bài diễn văn lần thứ ba, tôi không còn là đảng viên nữa. Đó là cách điều trị mạnh bạo, ghê rợn nhưng rất công hiệu.


Murke nói nhỏ:


- Chú quên rằng cháu còn được Bur-Malottke chữa lành bệnh trước khi nghe băng ông ta nữa kia.


Humkoke cười:


- Anh đúng là ác thú. Thôi anh về đi, ông giám đốc sẽ nghe băng lại lúc hai giờ. Nhưng người ta phải kiếm ra anh nếu có việc gì.


Từ hai tới ba giờ, cháu ở nhà.


- Còn cái này nữa, (Humkoke vớ lấy hộp bánh vàng để trên cái kệ gần bàn giấy của Murke) những khúc băng gì trong hộp vậy?


Murke đỏ mặt nói:


- Đó là… cháu sưu tầm một loại băng thừa nhất định.


- Loại băng thừa nào?


Humkoke hỏi. Murke trả lời:


- Im lặng. Cháu sưu tập sự im lặng.


Humkoke nhìn Murke tỏ ý hỏi, anh tiếp:


- Khi cháu phải cắt những chỗ người ta nghỉ nói – cả những tiếng thở dài, hơi thở, sự im lặng tuyệt đối – cháu không bỏ vào thùng rác mà giữ chúng lại. Tuy nhiên, các băng của Bur-Malottke không cho được tới một giây im lặng.


Humkoke cười:


- Dĩ nhiên, ông ta thì làm sao có thể im lặng được. Rồi anh làm gì với những khúc băng ấy?


- Cháu dán chúng liền với nhau rồi tối ở nhà, cháu cho băng chạy. Cháu chưa có nhiều, mới ba phút thôi – chỉ vì người ta ít khi im lặng.


- Tôi phải lưu ý anh là không được phép đem những khúc băng về nhà.


Murke hỏi:


-  Kể cả sự im lặng hay sao?


Humkoke cười, bảo:


- Thôi, anh về đi.


Và Murke ra về.


Lúc hai giờ mấy phút, ông giám đốc vào stuđiô của mình thì bài thuyết trình của Bur-Malottke vừa mới được phát:


… và bất cứ nơi nào, bất cứ lúc nào, bằng bất cứ cách nào và vì bất cứ lý do gì, chúng ta bắt đầu chuyện nghệ thuật, thì trước hết, chúng ta phải kính cẩn nghiêng mình trước đấng cao cả mà chúng ta tôn kính và phải tiếp nhận nghệ thuật như quà tặng của đấng cao cả mà chúng ta tôn kính. Nghệ thuật…


Không, tôi không thể đòi hỏi ai nghe một trăm hai mươi giờ Bur-Malottke được. Không, ông ta nghĩ, có những điều không thể làm được, những điều mà cả khi giao cho Murke, tôi cũng không thích thú chút nào. Ông ta trở về phòng làm việc, bật loa phóng tanh đúng lúc Bur-Malottke nói: “Hỡi đấng cao cả mà chúng con tôn kính…”. Không, ông giám đốc nghĩ, không  thể nào.


Ở nhà, Murke nằm dài trên đivăng hút thuốc. Trên cái ghế gần bàn có để tách trà, và Murke nhìn lên trần nhà sơn trắng. Một cô gái tóc vàng đẹp như tranh đăm đăm nhìn ra đường qua khung cửa sổ. Giữa Murke và cô gái, trên bàn để đồ hút là một máy ghi âm đang thu. Không một lời nói, không một tiếng động. Người ta có thể tưởng cô gái là người mẫu chụp ảnh, cô đẹp và im lặng đến thế. Cô bất chợt nói:


- Em không chịu nổi nữa, em hết chịu nổi. Việc anh đòi hỏi ở em thật vô nhân đạo. Nhiều đàn ông đòi hỏi những điều vô luân ở một cô gái, nhưng em sắp nghĩ là điều anh đòi hỏi ở em còn vô luân hơn nữa.


Murke thở dài nói:


- Trời ơi, Rita ạ, cái đó anh phải cắt bỏ hết. Em hãy biết điều, hãy dễ thương và im lặng vào băng dùm anh ít nhất năm phút.


- Im lặng vào! (Cô gái nói, và cô nói điều đó một cách mà ba mươi năm trước, có lẽ người ta gọi là “gắt gỏng”). Im lặng vào là phát minh của anh. Em thích có lần được nói vào băng – nhưng im lặng vào…


Murke đứng dậy tắt máy ghi âm:


- Rita à, phải chi em hiểu được là đối với anh, sự im lặng của anh là quí biết chừng nào. Mỗi tối, khi anh mệt, khi anh phải ngồi ở đây, anh sẽ cho máy phát sự im lặng của em. Hãy dễ thương và im lặng vào băng dùm anh ít nhất năm phút nữa và đừng để anh phải cắt băng. Em biết việc cắt xén đối với anh khó như thế nào.


Cô gái bảo:


- Được, nhưng ít ra cho em xin điếu xì gà.


Murke mỉm cười, đưa điếu xì gà cho cô gái và nói:


- Như vậy, anh sẽ được sự im lặng của em cả trong bản thật lẫn bản thu băng, tuyệt lắm.


Anh lại cho băng chạy, hai người im lặng ngồi đối diện nhau cho tới khi điện thoại reo. Murke đứng dậy, nhún vai tỏ vẻ ngạc nhiên và nhấc ống nghe lên.


- A-lô. -Humkoke nói- Các bài thuyết trình đều qua trót lọt, sếp không nói gì xấu cả… Bây giờ anh có thể đi xinê. Và nhớ nghĩ đến tuyết.


- Tuyết gì hở chú?


Murke hỏi, vừa nhìn ra ngoài: đường phố đang chói chang nắng hạ. Humkoke nói:


- Trời ơi. Anh biết mà, ngay bây giờ, ta phải nghĩ đến chương trình mùa đông. Tôi cần những bài ca ngợi tuyết, những truyện kể về tuyết. Ta không thể dẫm chân mãi ở Schbert(1) và Stifter(2). Hình như không ai đoán được là ta thiếu những bài hát, những truyện kể về tuyết như thế nào. Anh thử tưởng tượng xem, nếu mùa đông sắp tới dai dẳng, khắc nghiệt, đầy tuyết và băng giá: ta lấy đâu ra những bài về tuyết? Vậy anh hãy nghĩ ra tất cả những gì có chất tuyết nhé.


Murke nói:


- Dạ, cháu sẽ cố gắng.


Lúc ấy, Humkoke đã để máy xuống. Murke bảo cô gái:


- Em à, giờ ta có thể đi xi-nê.


Trong thời gian ấy, phó đạo diễn kịch truyền thanh đang nghe lại vở kịch phải phát tối nay. Anh ta thấy hay, chỉ không hài lòng về đoạn kết. Anh ta ngồi cạnh anh kỹ thuật ở buồng đạo diễn của phòng thu mười ba, vừa nhai một diêm quẹt vừa chăm chú đọc bản thảo.


(Âm hưởng trong một nhà thờ lớn trống trải)


Kẻ vô thần: (nói lớn và rõ ràng) Ai còn nghĩ đến tôi, khi tôi đã làm mồi cho loài giun dế?


(Im lặng)


Kẻ vô thần: (nói lớn hơn một chút) Ai chờ đợi tôi, khi tôi đã ra cát bụi?


(Im lặng)


Kẻ vô thần: (lớn hơn nữa) Và ai còn nghĩ đến tôi, lúc tôi đã thành cây cỏ?


(Im lặng)


Kẻ vô thần hét mười hai câu hỏi như thế nào vào nhà thờ, và sau mỗi câu là: (Im lặng).


Anh phó đạo diễn lấy diêm quẹt đã nhai nát ra, đút cái mới vào miệng rồi đưa mắt hỏi anh kỹ thuật. Anh này bảo:


- Vâng, nếu anh hỏi tôi: tôi thấy im lặng hơi nhiều


Anh phó đạo diễn nói:


- Tôi cũng vậy. Chính tác giả cũng thấy điều đó nên giao cho tôi sửa lại. Theo ông ta, chỉ cần tiếng gọi “Chúa” – nhưng phải là tiếng không có âm hưởng của nhà thờ, hay cũng có thể nói, nó phải ở trong một khoảng âm hưởng khác. Nhưng anh thử nghĩ xem, tôi lấy tiếng đó ở đâu bây giờ?


Anh kỹ thuật mỉm cười, vớ lấy hộp thuốc lá vẫn còn nằm trên kệ, bảo:


- Đây, đây là tiếng gọi “Chúa” trong một khoảng vô âm hưởng.


Người đạo diễn phụ nuốt chửng diêm quẹt vì ngạc nhiên, mắc nghẹn ở cổ nhưng rồi cũng đưa nó ra miệng trở lại được. Anh kỹ thuật mỉm cười nói:


- Cái đó chẳng khó gì. Chúng tôi phải cắt nó ra từ một bài thuyết trình, cả thảy hai mươi bảy lần. Người đạo diễn phụ bảo:


- Tôi không cần nhiều như vậy, chỉ mười hai lần thôi.


- Việc cắt bỏ sự im lặng và dán mười hai lần chúa vào dĩ nhiên rất dễ dàng – nếu anh chịu trách nhiệm.


- Anh là một thiên thần. Và tôi sẽ chịu trách nhiệm về việc đó. Nào, ta hãy bắt đầu. (Người đạo diễn phụ sung sướng nhìn những khúc băng nhỏ đen đen trong hộp thuốc lá của Murke rồi tiếp): Anh đúng là một thiên thần. Thôi ta khởi sự đi.


Anh kỹ thuật vui vẻ khi nghĩ tới những khúc băng im lặng anh có thể tặng cho Murke: Im lặng nhiều, cả thảy gần một phút; chưa bao giờ anh tặng Murke nhiều im lặng  như vậy, và anh thích người thanh niên ấy. Anh mỉm cười:


- Tốt, ta bắt đầu.


Anh phó đạo diễn thọc tay vào túi áo gilê lấy bao thuốc lá nhưng cùng lúc nắm phải một mảnh giấy nhỏ vò nát: anh ta vuốt thẳng thớm rồi đưa cho anh kỹ thuật xem:


- Những vật tồi như thế lại tìm thấy ở đài phát thanh, buồn cười không? Tôi thấy nó trước cửa phòng mình.


Anh kỹ thuật ngắm nhìn tấm ảnh, bảo:


- Vâng, thật buồn cười. (Rồi anh đọc lớn dòng chữ phía dưới): Tôi cầu nguyện cho bạn ở nhà thờ thánh Jacob.


(còn tiếp)


Nguồn: Đêm thánh vô cùng. Truyện của Heinrich Böll. Phạm Hải Hồ dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Lương Văn Hồng và Triệu Xuân chủ biên. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info








(1)  Franz Schubert (1797-1828): nhà soạn nhạc người Áo thuộc phái lãng mạn. Ông mất sớm trong sự nghèo khó bệnh tật, để lại một di sản nghệ thuật to lớn và đa diện.




(2)  Adallbert Stifter (1805-1868): nhà thơ và họa sĩ.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »