tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30256969
Lý luận phê bình văn học
11.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (11)

Chương thứ nhất


KHÁI NIỆM CÁI ĐẸP NÓI CHUNG


Ý niệm.


 


Chúng tôi đã dùng danh từ ý niệm cái đẹp để gọi cái đẹp. Cần phải hiểu điều này như sau: bản thân cái đẹp cần phải được lí giải là một ý niệm, không những thế, nó là một ý niệm mang một hình thức nhất định tức là “lí tưởng”. Ý niệm nói chung chẳng qua là khái niệm, cái thực tại, mà khái niệm đại diện và là thể thống nhất của cả hai cái. Khái niệm xét về mặt bản chất vẫn chưa phải là ý niệm, mặc dầu thường thường người ta không phân biệt hai cái này. Chỉ có khái niệm nào xuất hiện ở trong tính thực tại của nó và ở trong sự thống nhất với thực tại này thì mới là ý niệm mà thôi.


Chúng ta không nên hình dung sự thống nhất này là một sự trung hòa hóa đơn thuần khái niệm và hiện thực, ở đấy cả hai đều mất tính đặc thù và thuộc tính của mình chẳng khác gì ka-li và a-xít trung hòa hóa lẫn nhau làm thành một chất muối sau khi đã trung hòa hóa sự đối lập. Trái lại, trong cách quan niệm của chúng tôi về thể thống nhất thì khái niệm vẫn thống trị. Sở dĩ thế là vì tương ứng với bản chất của nó khái niệm đã là đồng nhất với thực tại rồi và vì vậy khái niệm tự bản thân mình sản sinh ra thực tại với tính cách cái thực tại riêng của mình và cái này là hình thức tự phát triển của ý niệm. Ở đây khái niệm không bỏ mất cái gì của mình hết, nó chỉ tự thể hiện mình mà thôi, khái niệm vẫn ở trong thể thống nhất với mình trong tính khách thể này. Sự thống nhất này của khái niệm và thực tại là đặc trưng trừu tượng của ý niệm.


Mặc dầu ở trong lí luận nghệ thuật người ta hay dùng danh từ “ý niệm”, nhưng một số người hết sức ưu tú, sành nghệ thuật lại hết sức thù địch với danh từ này. Thí dụ ở gần đây nhất và thú vị nhất của một thái độ như vậy đối với danh từ “ý niệm” là cuộc bút chiến của ông Phôn Rumo(3)  ở trong tác phẩm “Những khảo sát Italia”. Ông xuất phát từ hứng thú thực tiễn đối với nghệ thuật và tuyệt nhiên không đề cập tới cái mà chúng ta gọi là ý niệm. Sở dĩ thế là vì ông Phôn Rumo không biết cái khái niệm mà triết học hiện đại gọi là ý niệm, cho nên ông đã lẫn lộn ý niệm với biểu tượng mơ hồ và tới cái ý tưởng trừu tượng không có cá tính, là cái đã được nêu lên bởi những lý thuyết và những trường phái nghệ thuật nổi tiếng. Ông Phôn Rumo nêu lên những hình thức tự nhiên chính xác trong tính chân thực của nó và đường nét rõ ràng dùng nó để đối lập lại cái lý tưởng trừu tượng và ý niệm do nghệ sĩ tự mình tạo ra. Cố nhiên sáng tác nghệ thuật nếu vâng theo những khái niệm trừu tượng như vậy sẽ là không hợp lý và cũng sẽ không làm người ta thỏa mãn, chẳng khác gì những nàh tư tưởng suy nghĩ theo những biểu tượng nhất định và trong cách suy nghĩ anh ta tự bó hẹp vào những nội dung phiếm định. Nhưng cái mà chúng tôi gọi bằng danh từ “ý niệm” thì lại tránh được sự chỉ trích như vậy về mọi mặt bởi vì ý niệm là hoàn toàn cụ thể ở trong bản thân mình; ý niệm là một thể hoàn chỉnh  của những đặc trưng và nó chỉ bó hẹp với tính cách thể thống nhất trực tiếp với cái tính khách quan ăn khớp với nó.


Trong khi phát biểu ở trong “Những khảo sát Italia” (tập I, trang 145-146), ông Phôn Rumo đã đi đến kết luận sau đây: “Cái đẹp theo ý nghĩa khái quát nhất, và nếu như người ta muốn nói, hiện đại nhất, bao quát mọi đặc tính của các sự vật làm kích thích thị giác, bằng cách nhờ đó đem đến sự thỏa mãn, hay dùng thì giác để cổ vũ tâm hồn một cách đặc biệt và làm cho tâm hồn hoân hoan”. Theo ông, các đặc tính này đến lượt nó, lại chia ra làm ba loại. “Có đặc tính chỉ tác động tới con mắt, có đặc tính tác động tới các khả năng đặc biệt, bẩm sinh của con người là nắm được những quan hệ có tính chất không gian và cái thứ ba tác động trươc hết tới trí tuệ và sau đó thông qua nhận thức mà tác động tới “tình cảm”. Theo tác giả, đặc tính cuối cùng này, quan trọng nhất, là bắt nguồn từ những hình thức, “tức là những cái gây nên một khoái cảm nhất định có tính chất đạo đức và tinh thần, hoàn toàn độc lập đối với các hứng thú về tình cảm, và cái đẹp, khoái cảm này một phần bắt nguồn từ những biểu tượng được gợi lên (phải chăng đây là những biểu tượng đạo đức và luân lí), một phần bắt nguồn trực tiếp từ việc đơn thuần sử dụng năng khiếu nhận thức minh bạch” (trang 144).


Đó là đối với những định nghĩa về cái đẹp được nêu lên bởi một người được am hiểu sành sỏi về nghệ thuật. Đối với một trình độ học vấn nhất định, những lập luận này có thể là đủ, nhưng chúng không thể nào làm chúng ta thỏa mãn về mặt triết học. Về thực chất lập luận này chẳng qua chỉ qui về chỗ mĩ cảm là để làm cho tình cảm thị giác cũng như tinh thần và cả trí tuệ, được thỏa mãn và kích thích cảm nghĩ. Mọi lập luận của Phôn Rumo đều quanh xung quanh việc kích thích sự thỏa mãn như vậy. Nhưng Căng đã bác bỏ tất cả việc qui hành động của cái đẹp về tình cảm, về khoái cảm, Căng đã đi xa hơn mĩ cảm.


Chúng ta hãy rời khỏi cuộc tranh luận này để xét đến những ý niệm mà cuộc tranh luận này chưa đề cập tới. Như chúng ta đã thấy, ở trong ý niệm có sự thống nhất cụ thể của khái niệm và tính khách thể.


Về bản chất của khái niệm với tính cách khái niệm thì khái niệm không phải là một thể thống nhất trừu tượng ở bản thân nó đối lập lại những sự khác nhau tiêu biểu cho thực tại; trái lại, với tính cách khái niệm, nó đã là một thể thống nhất của những thuộc tính đã được khu biệt và, do đó, nó là một thể toàn vẹn cụ thể. Chẳng hạn, những quan niệm như “con người” “màu xanh” v.v trước hết không chỉ được xem là khái niệm mà còn được xem là những biểu tượng trừu tượng phổ biến. Các biểu tượng này chỉ trở thành khái niệm trong trường hợp chúng chứa đựng ở chính mình những mặt khác nhau ở trong một thể thống nhất. Chính tính thống nhất cụ thể này ở bản thân mình mới làm thành khái niệm. Chẳng hạn biểu tượng “xanh” với tính cách màu sắc có khái niệm của mình là tính thống nhất loại biệt của cái sáng và cái tối và biểu tượng “con người” bao quát những mặt đối lập giữa cảm tính và lí tính, xác thịt và linh hồn; song con người không đơn thuần gồm những mặt này với tính cách những bộ phận tạo thành không liên quan với nhau, trái lại con người chứa đựng các bộ phận ấy phù hợp với khái niệm của y ở trong một thể thống nhất cụ thể, trực tiếp. Còn khái niệm ở trình độ này làm thành một thể thống nhất tuyệt đối của các thuộc tính của mình, trong đó các thuộc tính này không tồn tại tự do tự bản thân chúng, cũng không thể vượt ra ngoài sự thống nhất này để thể hiện thành một tồn tại riêng biệt độc lập. Vì vậy khái niệm chứa đựng ở nó một đặc trưng dưới hình thức một thể thống nhất và dưới hình thức tính phổ biến tinh thần, lí tưởng của những cái làm thành tính chủ thể khiến cho khái niệm khác cái tòn tại hiện thực và khách quan.


Chẳng hạn “vàng” có một trọng lượng nhất định, một màu sắc nhất định, những quan hệ nhất định đối với các loại a-xít. Đó là những thuộc tính khu biệt, nhưng các thuộc tính này lại hòa đúc thành một thể thống nhất bởi vì mỗi bộ phận nhỏ nhất của “vàng” đều chứa đựng các thuộc tính ấy trong một thể thống nhất không thể phân chia, nhưng ở bản thân, trong khái niệm của “vàng” thì chúng ta lại hợp nhất thành một thể thống nhất không thể chia cắt. Các mặt khác nhau trong khái niệm chân chính đều ở trong một thể thống nhất và không có sự đối lập như vậy. Biểu tượng chúng ta về mình và “cái tôi” tự nhận thức mình nói chung cấp cho ta một thí dụ còn thích hợp hơn. Cái mà chúng ta gọi là “ tinh thần”, hay chính xác hơn “cái tôi”, chính là bản thân khái niệm ở trong sự tồn tại tự do của nó. “Cái tôi” chứa đựng ở mình nhiều biểu tượng và nhiều tư tưởng hết sức khác nhau; đó là cả một thế giới những biểu tượng. Song cái nội dung vô cùng đa dạng này, bởi vì nó nằm trong “cái tôi” cho nên nó vẫn hoàn toàn không có thể xác và không có tính vật chất và có thể nói nó được cô đọng lại ở trong thể thống nhất lí tưởng, tinh thần với tính cách “cái tôi” thuần túy, hoàn toàn trong suốt ở trong bản thân mình. Phương thức nhờ đó khái niệm chứa đựng các thuộc tính khu biệt ở trong một thể thống nhất lí tưởng, tinh thần là như thế đấy.


Các thuộc tính mật thết nhất của khái niệm, thuộc về khái niệm, thuộc về khái niệm theo chính bản chất của nó là các thuộc thính phổ biến, đặc thù và đơn nhất. Mỗi đặc tính này xét ở nó sẽ là một trừu xuất phiến diện, trần truồng. Song chúng có mặt ở trong khái niệm không phải trong tình trạng phiến diện như thế, mà trong sự thống nhất có tính chất ý niệm, có tính chất tư tưởng. Khái niệm là một cái phổ biến một mặt tự phủ định mình qua bản thân mình để trở thành cái đặc thù và cái xác định; nhưng mặt khác lại vượt bỏ cái đặc thù này với tính cách làm thành sự phủ định cái phổ biến. Sở dĩ như vậy là vì cái đặc thù chỉ là đại diện cho những mặt đặc biệt của bản thân cái phổ biến, cái phổ biến không dẫn tới một cái tuyệt đối nào khác, trái lại chính vì thế mà phải phục hồi sự thống nhất của cái đặc thù với bản thân nó tức là với cá phổ biến. Trong khi quay trở về bản thân như vậy, khái niệm là một sự phủ định không cùng, nhưng đây không phải là phủ định đối với một cái gì khác mà là tự xác đinh mình và trong việc tự xác định mình này, khái niệm chỉ liên quan tới cái thể thống nhất tự khẳng định mình mà thôi. Điều chúng tôi đã nói tóm tắt trên đây về bản chất của tinh thần có thể xem là minh họa cao nhất của khái niệm này về tự nhiên.


Nhờ chỗ bản thân nó là vô hạn, tự thân khái niệm đã là một chinh thể. Bởi vì khái niệm là sự thống nhất với bản thân ở trong một sự tồn tại khác, cho nên khái niệm là tự do và mọi sự phủ định của nó đều là tự khẳng định mình chứ không phải là một sự hạn chế do một cái gì khác ở bên ngoài gây nên. Nhưng với tính cách một chỉnh thể như vậy, khái niệm đã bao hàm ở mình tất cả những gì sẽ nêu bật được hiện thực với tính cách hiện thực và làm cho ý niệm quay trở về sự thống nhất gián tiếp. Người nào cho rằng ý niệm là một cái gì hoàn toàn khác hẳn khái niệm,là một cái gì đặc thù, thì người ấy chẳng biết gì về bản chất của ý niệm cũng như về bản chất của khái niệm. Song khái niệm vẫn khác ý niệm ở chỗ khái niệm chỉ là đặc thù hóa in-abstracto (“một cách trừu tượng”) bởi vì tính chất xác định nằm ở trong khái niệm vẫn bó hẹp vào tính thống nhất và vào tính phổ biến của tinh thần, của lý tưởng vốn là yếu tố của khái niệm.


Nhưng trong trường hợp này, bản thân khái niệm cũng vẫn còn giữ tính phiến diện và còn phạm khuyết điểm sau đây: mặc dầu chính nó là một chỉnh thể, song khái niệm chỉ phát triển tự do mặt thống nhất và mặt phổ biến mà thôi. bởi vì tính phiến diện này không phù hợp với bản chất khái niệm của mình cho nên vượt bỏ nó theo khái niệm của mình. Khái niệm tự phủ định mình với tính cách sự thống nhất lý tưởng của tinh thần và tính phổ biến của ý niệm, và mọi cái gì chúng bao hàm ở trong trạng thái chủ thể lý tưởng đều có khả năng trở thành một tồn tại khách quan, độc lập, hiện thực. Khái niệm tự khẳng định mình là một tồn tại khách quan bằng hoạt động của mình.


Vì vậy tính khách quan xét ở bản thân nó chính là tính thực tại của khái niệm, nhưng của một khái niệm đóng vai một sự cá biệt hóa độc lập và một sự khu biệt hóa hiện thực mọi yếu tố tạo nên mình và một tính thống nhất lý tưởng, tinh thần là tính thống nhất của khái niệm xét về mặt chủ thể.


Bởi vì chỉ có khái niệm mới nên cấp cho mình một tồn tại khách quan và tính thực tế cho nên tính khách quan cần phải làm cho khái niệm mang tính hiện thực. Song khái niệm lại là một thể thống nhất của ý niệm tinh thần qua môi giới các yếu tố cá biệt của mình. Sự thống nhất có tính chất ý niệm của các đặc thù cần phải được phục hồi ở trong chính những sự khác nhau đã phân chia chúng trong hiện thực. Sức mạnh của khái niệm chính là do chỗ nó không từ bỏ tính phổ biến của mình và không tan biến vào tính khách thể mà vẫn biểu lộ tính thống nhất qua hiện thực và ở trong lĩnh vực của hiện thực. Bởi vì khái niệm tiêu biểu ở chỗ nó giữ tính thống nhất với bản thân ở trong sự tồn tại khác của nó. Chỉ có như thế khái niệm mới làm thành một chỉnh thể hiện thực và chân thực.


Chính thể này là ý niệm. Ý niệm không chỉ là một thể thống nhất có tính chất lý tưởng, tinh thần và chủ thể của khái niệm, mà còn là tính khách thể của nó. Song đây là một tính khách thể không đối lập lại khái niệm như một cái gì chỉ đối lập mà thôi, mà ở đấy khái niệm còn liên quan với bản thân mình. Xét về cả hai mặt về mặt chủ thể cũng như về mặt khách thể của khái niệm, ý niệm là một toàn thể và đồng thời còn là một sự hòa hợp đã được thực hiện và không ngừng được thực hiện của các mặt này và là một tính thống nhất của chúng đã được điều hòa. Chỉ có hiểu như vậy thì ý niệm mới là chân lí và là toàn bộ chân lí.


 


Sự tồn tại bên ngoài của ý niệm.


 


Vì vậy, mọi cái gì tồn tại chỉ là chân thực trong chừng mực nó là sự tồn tại của ý niệm. Chỉ có ý niệm là cái yếu tố thực sự chân thực. Một hiện tượng là chân thực không phải bởi vì nó có sự tồn tại bên trong hay bên ngoài, mà nó là hiện thực, là chân thực trong chừng mực hiện thực này tương ứng với khái niệm. Chỉ vớ sự tương ứng như thế thì cái tồn tại mới trở thành hiện thực và chân thực, không phải theo cái nghĩa chủ quan của từ này – với tính cách biểu lộ một sự nhất trí với các biểu tượng của tôi – nhưng chân thực theo cái nghĩa khách quan: “cái tôi”, hay một đối tượng bên ngoài, một hành vi, một biến cố, một trạng thái trong hiện thực của nó chỉ là sự hiện thực hóa của bản thân khái niệm của nó. Nếu như nếu như sự đồng nhất hóa này không được thực hiện thì vật tồn tại này sẽ là một hiện tượng ở đấy, thay thế cái khái niệm toàn vẹn, chỉ có một mặt này tỏ ra độc lập đối với thể thống nhất và tổng thể đến nỗi có một thái độ độc lập với cái khái niệm chân thực. Như vậy, chỉ có cái hiện thực ăn khớp với khái niệm mới là hiện thực chân thực và nó là chân thực bởi vì ý niệm tự thể hiện mình ở đấy.


 


Ý niệm cái đẹp.


 


Ở trên chúng ta đã nói rằng cái đẹp là ý niệm. Bây giờ, chúng ta phải nói thêm rằng cái đẹp và cái chân thực đều là một bởi vì tự thân cái đẹp phải là chân thực. Nhưng nói rằng cái chân thực là khác cái đẹp thì cũng đúng như vậy. Vậy ý niệm là chân thực bởi vì nó tồn tại và được tư duy với tính cách ý niệm căn cứ vào bản chất của mình và theo nguyên lý phổ biến của mình. Nếu như tình hình là như thế thì cái có giá trị đối với tư duy không phải là sự tồn tại cảm quan và bên ngoài của ý niệm mà chỉ là cái ý niệm phổ biến. Song ý niệm cần phải thể hiện ra bên ngoài và có được một tồn tại nhất định với tính cách một tồn tại khách quan tự nhiên và có tính tinh thần. Cái chân thực với tính cách cái chân thực cũng tồn tại. Trong chừng mực nó tồn tại trực tiếp đối với ý thức ở trong sự tồn tại bên ngoài và khái niệm thống nhất trực tiếp với biểu hiện bên ngoài cho nên ý niệm không những là chân thực mà còn đẹp nữa. Như vậy cần phải định nghĩa cái đẹp là một hiện tượng cảm quan, là một ngoại hiện cảm quan nói chung không giữa một tính độc lập nào ở trong bản thân mình; cả hai cái đều không phải từ bỏ sự tồn tại trực tiếp, bởi vì sự tồn tại này chỉ là sự tồn tại về sự khách thể hóa của khái niệm và được nêu lên làm thành một hiện tượng cảm quan. Hiện tượng này thể hiện khái niệm như một tồn tại ở trong thể thống nhất với tính khách quan của nó tức là thể hiện bản thân ý niệm ở trong cái tồn tại khách quan này.


Do đó, lí tính không thể nào lí giải được cái đẹp. Lí tính không thâm nhập được vào cái tính thống nhất này mà bao giờ cũng duy trì các yếu tố khác nhau tạo nên tính thống nhất trong tình trạng độc lập và riêng biệt đối với nhau. Bởi vì thực tại là một cái gì khác hẳn tính lý tưởng, và cái cảm quan là một cái gì khác hẳn khái niệm, khách thể là một cái gì khác hẳn chủ thể cho nên chúng ta không có quyền hợp nhất những mặt đối lập như vậy. Như vậy lí tính bao giờ cũng dừng lại ở tình trạng hữu hạn phiến diện, và không chân thực. Trái lại cái đẹp là vô hạn và tự do ở bản thân mình. Nếu như cái đẹp có thể có một nội dung đặc thù và do đó hạn chế, thì nội dung ấy vẫn phải đóng vai một tổng thể vô hạn ở bản thân mình và phải có một tồn tại tự do. Sở dĩ thế là vì cái đẹp bao giờ cũng là một khái niệm có đặc điểm sau: cái đẹp không đối lập lại tính khách thể của mình bằng cách đưa ra một biểu hiện hữu hạn phiến diện và một sự đối lập trừu tượng với tính khách thể ấy mà trái lại, cái đẹp hòa lẫn với tính khách thể ấy và trở thành vô tận ở bản thân mình chính là nhờ tính thống nhất tiềm năng và sự hoàn mĩ này.


Khái niệm cũng thế: trong khi làm cho sự tồn tại thực tế bên ngoài nhờ đó nó trở thành sinh động, khái niệm được hưởng tính chất tự do ở trong tính khách thể này nó biểu hiện ở đấy như ở bản thân mình. Sở dĩ thế là vì khái niệm không cho phép mặt bên ngoài của cái đẹp tự do tuân theo những qui tắc riêng, trái lại chính khái niệm qui định mặt bên ngoài phải mang diện mạo nào, và chính bằng cách ấy mà khái niệm thực hiện được sự nhất trí với chính mình, mà bản chất của cái đẹp lại chính là ở sự nhất trí ấy. Còn tính chủ thể, tính thống nhất, tâm hồn và cá tính làm thành mối liên hệ và sức mạnh củng cố sự nhất trí này.


Chính vì vậy, khi chúng ta khảo sát cái đẹp trong những mối quan hệ của nó với tinh thần của chủ thể thì cái đẹp không tồn tại đối với một trí tuệ không tự do nằm ở trong tính hữu hạn của mình cũng như đối với một ý chí hữu hạn.


Chúng ta, với tính cách những người có trí tuệ hữu hạn, chúng ta tri thức những đối tượng bên trong và bên ngoài, chúng ta quan sát, chúng ta có một nhận thức cảm tính về các đối tượng ấy. Chúng ta kéo chúng về trực giác, biểu tượng và thậm chí về những khái niệm trừu tượng của cái lí tính biết tư duy của ta là cái sẽ cấp cho chúng hình thức trừu tượng của cái phổ biến. Tính chất hữu hạn và không tự do của mọi điều đó tóm lại là các đối tượng được xem là độc lập. Chúng ta thích nghi mình theo các sự vật, mặc cho chúng tự do hành động và bắt các biểu tượng v.v… phải phục tùng sự tín ngưỡng về các sự vật, bởi vì chúng ta yên trí rằng chúng ta chỉ có thể hiểu đúng các đối tượng trong chừng mực chúng ta nhìn chúng với thái độ bị động và bó hẹp mọi hoạt động của mình vào mặt chú ý một cách hình thức tránh hư cấu, từ bỏ mọi ý kiến và mọi thành kiến có sẵn. Trong khi cấp cho sự vật tính tự do phiến diện này, chúng ta lại xác lập trực tiếp tính chất không tự do của cách lí giải của chủ thể. Bởi vì đối với cách quan niệm của chủ thể, nội dung đã trở thành một cái đã có sẵn, thành ra việc tự qio định mình một cách chủ quan bị thay thế bởi sự tiếp nhận đơn thuần từ bên ngoài và trí giác đơn thuần tồn tại dưới hình thức một tồn tại khách quan. Theo tiền đề này, chỉ có thể đạt đến cái chân thực bằng cách bắt chủ thể phải phục tùng khách thể.


Điều này cũng xảy ra, nhưng ngược lại ở trong hoàn cảnh ý chí hữu hạn. Ở đây các hứng thú, các mục đích và các ý định là ở trong chủ thể. Chủ thể này muốn khẳng định chúng bất chấp sự tồn tại và các đặc điểm của sự vật, bởi vì chủ thể chỉ có thể thực hiện ý định của mình trong chừng mực thủ thể thủ tiêu các đối tượng hay thay đổi chúng, cải biến chúng, cấp cho chúng một hình thức nhất định, thủ tiêu các đặc tính của chúng hay để cho các đặc tính tác động vào nhau: chẳng hạn nước ảnh hưởng đến lửa, lửa ảnh hưởng đến sắt, sắt ảnh hưởng đến gỗ v.v. Ở đây chúng ta làm cho sự vật mất tính độc lập bởi vì chủ thể bắt chúng phải phục vụ mình, khảo sát chúng và sử dụng chúng với tính cách những công cụ hữu ích, nghĩa là chúng là những vật mà khái niệm và mục đích của chúng lại không phải nằm ở trong bản thân chúng mà nằm ở trong chủ thể. Kết quả là bản chất thực sự của chúng lại là ở chỗ chúng là những phương tiện để đạt đến những mục đích của chủ thể. Chủ thể và đối tượng đã đổi vai trò cho nhau: các đối tượng đã trở thành mất tự do và các chủ thể đã trở thành tự do.


Thực ra, trong cả hai quan hệ, cả hai vế đều là hữu hạn và phiến diện, và tự do của chúng chỉ là một tự do giả hiệu.


Về mặt lí luận, chủ thể là hữu hạn và không tự do, bởi vì trước đấy phải giả thiết có những sự vật độc lập. Về mặt thực tiễn, chủ thể là không tự do do tính phiến diện, do đấu tranh và mâu thuẫn nội tại giữa các mục đích và các sự thúc đẩy của các dục vọng do hoàn cảnh bên ngoài gây nên. Thêm vào đấy còn có sự kháng cự của các đối tượng là cái không bao giờ loại trừ được. Bởi vì sự chia tách và sự đối lập của hai vế, của các đối tượng và mặt chủ thể làm thành tiền đề của quan hệ này và được xem là cái khái niệm chân thực của nó.


Đối tượng cũng phạm tính hữu hạn và không tự do này ở cả hai mặt mà chúng ta khảo sát. Về mặt lý thuyết, tính độc lập của nó, mặc dầu được xem là một tiền đề, chỉ là một tự do ở bên ngoài. Bởi vì chỉ có tính khách quan thực sự tồn tại mà thôi, nhưng khái niệm của nó (tức là thể thống nhất có tính chủ thể và tính phổ biến) lại không tồn tại ở trong lĩnh vực của nó ở các sự vật và vì nó. Khái niệm này nằm ngoài các sự vật mà mỗi đối tượng do chỗ khái niệm của nó ở ngoài nó, cho nên sự vật chỉ tồn tại như một điều cá biệt đơn thuần, hướng về cái thế giới bên ngoài do tính chất vô cùng đa dạng của nó, và bị thay đổi, bị gò ép và biến mất do tác động của những sự vật khác. Về mặt thực tiễn, tình trạng lệ thuộc này của các sự vật được nêu lên một cách cụ thể với tính cách một tiền đề và sự kháng cự của sự vật chống lại ý chí vẫn là tương đối theo nghĩa sự vật không có sức mạnh cần thiết để khẳng định triệt để tính độc lập của mình.


Khi ta khảo sát các đối tượng với tính cách những đối tượng đẹp, chúng ta kết hợp cả hai quan điểm bởi vì chúng ta loại trừ phiến diện của chúng cả về mặt chủ thể, cả về mặt đối tượng, và do đó chúng ta loại trừ tính hữu hạn và tính không tự do của chúng.


Về mặt lý thuyết, đối tượng không được khảo sát đơn thuần như một vật chỉ tồn tại đơn nhất, và do đó khái niệm chủ thể của nó là nằm ngoài tính khách thể của nó: đối tượng không được xem là có những mặt đa dạng nhất ở trong cái hiện thực cá biệt của mình, phân tán theo những hướng khác nhau nhất, đan chéo với những quan hệ đa dạng bên ngoài. Trong sự tồn tại của một đối tượng đẹp ta thấy khái niệm của nó được thể hiện và xuất hiện với tất cả tính thống nhất sinh động và tính chủ thể của nó. Đối tượng, do đó, đã từ bỏ tình trạng hướng ra ngoài để quay về bên trong, thủ tiêu sự lệ thuộc vào những vật khác và chấm dứt tình trạng hữu hạn không tự do của mình để biến tình trạng ấy thành tự do vô hạn đối với những người chiêm ngưỡng nó.


Đối với đối tượng, “cái tôi” cũng không còn là một khái niệm trừu tượng đơn thuần chỉ có thể ghi lại, tri giác bằng cảm quan, quan sát và biến đổi những trực giác và những quan sát rời rạc thành những tư tưởng trừu tượng. Bản thân cái tôi đã trở thành cụ thể ở bản thân mình trong đối tượng này vì nó hợp nhất khái niệm và đối tượng làm một, hợp những mặt trước đây vẫn bị chia tách và, do đó, mà trừu tượng (tức là đối tượng) thành một tồn tại cụ thể ở bản thân mình.


Còn về mặt thực tiễn như chúng ta đã nêu lên điều này một cách chitiết hơn, khi ta khảo sát cái đẹp, thì dục vọng lùi về phía sau, chủ thể gạt bỏ các mục đích của mình đối với đối tượng và xem đối tượng như là một mục đích tự thân độc lập ở trong bản thân nó. Do đó, thái đọ xem đối tượng chỉ là hữu hạn và là quan hệ thuần túy bị loại trừ, tức là người ta loại trừ thái độ xem đối tượng chẳng qua là một phương tiện hữu ích để thực các mục đích bên ngoài, và vì đối tượng này không thể tự do chống cự lại việc thực hiện các mục đích ấy cho nên đối tượng bắt buộc phải chấp nhận một mục đích xa lạ làm thành mục đích của mình. Đồng thời, thái độ không tự do của chủ thể thực tiễn cũng biến mất bởi vì chủ thể từ bỏ sự phân biệt giữa các ý định chủ quan khác nhau v.v với tài liệu và phương tiện. Chủ thể không dừng lại ở cái quan hệ hữu hạn của nhiệm vụ đơn thuần khi thực hiện những ý định của chủ thể mà thấy có trước mắt mình một khái niệm và một mục đích đã được thực hiện hoàn toàn. Sự chiêm ngưỡng cái đẹp do đó mang tính chất tự do. Trong khi lí giải các đối tượng, người ta cho phép các đối tượng tồn tại tự do và vô hạn, người ta không muốn chiếm hữu các đối tượng này để thỏa mãn những đòi hỏi và những ý định của mình. Kết quả là đối tượng với tính cách cái đẹp không đóng vai một đối tượng bị chúng ta gò ép hay bị các đối tượng khác bên ngoài áp bức.


Theo bản chất của cái đẹp, trong đối tượng đẹp, khái niệm, mục đích, tâm hồn cũng như thuộc tính bên ngoài tính đa dạng và tính thực tại của nó đều phải biểu hiện, với tính cách xuất phát từ bản thân đối tượng, chứ không phải là do một cái gì khác. Bởi vì như chúng ta đã thấy đối tượng đẹp chỉ là chân thực với tính cách một thể thống nhất thâm trầm và sự thống nhất của bản chất chân thực với khái niệm là một tồn tại xác định bên ngoài. Không những thế, vì bản thân khái niệm là một cái gì cụ thể, cho nên tính hiện thực của nó là một cái gì hoàn toàn hoàn mĩ, mỗi bộ phận của nó đều ở trong một thể thống nhất có tính chất lý tưởng, tinh thần, thấm nhuần tâm hồn. Chính vì vậy cho nên sự nhất trí giữa khái niệm và hiện tượng là sự thâm nhập vào nhau hoàn toàn của chúng. Vì vậy cho nên cái hình thức bên ngoài và tình trạng không phải là tách rời khỏi chất liệu bên ngoài hay là những sáng tạo máy móc nhằm phục vụ những mục đích xa lạ; trái lại, chúng ta là cái hình thức kết tinh từ bản thân cố hữu đối với hiện thực của mình và ăn khớp với khái niệm của nó.


Cuối cùng, dù cho các mặt cá biệt, bộ phận, các thành viên của một vật đẹp ở trong thể thống nhất ý niệm, tinh thần có nhất trí với nhau đến đâu, dù cho chúng có nói lên tính thống nhất và sự nhất trí này đến đâu đi nữa thì sự nhất trí này cũng phải có đặc tính này sau đây: các bộ phận thể hiện nó vẫn giữ một vẻ bên ngoài tự do độc lập với nhau. Nói khác đi, các bộ phận, không những phải làm thành một thể thống nhất có tính chất lý tưởng ở trong khái niệm với tính cách khái niệm, mà còn phải biểu lộ cả tính thực tại độc lập. Ở trong một đối tượng đẹp phải có cả hai thành tố: tính tất yếu do khái niệm nêu lên và biểu hiện ở trong mối quan hệ qua lại của các mặt khác nhau, và cái vẻ bên ngoài tự do của chúng làm ta thấy những mặt cá biệt này tồn tại vì bản thân chúng chứ không phải chỉ để phục vụ thể thống nhất. Mặt tất yếu với tính cách bản chất biểu hiện trong các quan hệ giữa các mặt cá biệt với đặc điểm là sự liên quan giữa chúng khiến cho mặt này lập tức gợi lên mặt kia. Các vật được xem là đẹp mặc dầu phải có một tính tất yếu như vậy, nhưng tính tất yếu này không được biểu lộ dưới hình thức tính tất yếu mà phải ẩn nấp dưới hình thức một điều ngẫu nhiên không có chủ ý. Trong trường hợp ngược lại,các bộ phận riêng biệt thực tế sẽ mất địa vị của chúng, sẽ thôi không tồn tại vì tính hiện thực của chúng mà chỉ đóng vai một sự phục tùng trừu tượng đối với cái thể thống nhất tinh thần có tính chất lý tưởng.


Nhờ chỗ khái niệm cái đẹp, cũng như tính khách quan của cái đẹp và tri giác chủ thể về tính khách thể này đều tự do và vô hạn như thế cho nên lĩnh vực cái đẹp vượt ra ngoài phạm vi có tính chất tương đối của các quan hệ hữu hạn và nhập vào cái thế giới tuyệt đối của ý niệm và của sự chân thực của ý niệm.


(Còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
Chỉ là đợt thử mắt bên phải - Đỗ Quyên 28.10.2019
Có một cuốn sách hay đang giảm giá - Mạc Yên (Phạm Thành Hưng) 25.10.2019
Hà Nội, một mảnh hồn xưa - Phan Quang 25.10.2019
xem thêm »