tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29862745
Tiểu thuyết
02.10.2009
Heinrich Böll
Đêm thánh vô cùng

Khách… quí


Tôi không chống thú vật chút nào, ngược lại: tôi yêu chúng, và mỗi tối, tôi thích cào nhẹ lông con chó, trong khi con mèo ngồi trong lòng tôi. Tôi thích xem các con cho rùa ăn ở một góc phòng khách. Cả đến anh hà mã nhỏ chúng tôi nuôi trong buồng tắm, tôi cũng thấy quyến luyến, và việc lâu nay các chú thỏ chạy nhảy tự do giữa nhà không còn làm tôi bực mình nữa. Ngoài ra, tôi cũng quen gặp khách bất ngờ vào buổi tối: cậu gà con kêu chíu chít hay chú chó vô chủ được vợ tôi cho trú ngụ. Bởi vì vợ tôi là người đàn bà tốt bụng, vợ tôi không xua đuổi ai, người hay thú cũng vậy. Đã từ lâu, bài kinh con chúng tôi đọc trước khi ngủ kết thúc bằng câu: Lạy Chúa, xin cho kẻ ăn xin và thú vật đến cùng chúng con.


Hơn thế nữa, vợ tôi cũng chẳng biết cách chống lại bọn chào hàng và bán rong nên nhà chúng tôi ngày càng tích tụ nhiều đồ vật tôi cho là thừa thãi: xà phòng, dao cạo, bàn chải, len mạng, còn hộc tủ thì ngổn ngang những giấy tờ khiến tôi phải lo ngại: hợp đồng bảo hiểm và mua bán đủ loại. Mấy đứa con trai được bảo hiểm học nghề, mấy đứa gái thì bảo hiểm của hồi môn, nhưng cho tới ngày làm lễ cưới hay đậu kỳ thi quốc gia phần nhì, con chúng tôi không thể sống bằng len mạng hay xà phòng được, và cả dao cạo cũng chỉ thích hợp với cơ thể con người trong những trường hợp đặc biệt thôi.


Vì vậy, người ta có thể hiểu tại sao tôi thỉnh thoảng lại tỏ ra mất kiên nhẫn, mặc dù thông thường tôi có tiếng trầm tĩnh. Nhiều khi tôi bắt quả tang mình đang ganh tị nhìn những chú thỏ gặm cà rốt dưới bàn một cách thoải mái. Và cái nhìn ngớ ngẩn của anh hà mã – anh ta đã làm tăng độ hoá bùn trong bồn tắm – khiến tôi thỉnh thoảng phải lè lưỡi chọc. Cả thím rùa đang thanh thản nhấm xà lách kia cũng không ước đoán được chút nào nỗi bứt rứt trong lòng tôi: tôi thèm mùi cà phê thơm phức, thuốc lá, bánh mì, trứng và cái ấm áp của rượu mạnh trong cuống họng những người đầy lo âu. Niềm an ủi duy nhất của tôi là chó Bello, nó cũng ngáp dài vì đói như chủ nó. Nếu lại có khách đến bất ngờ: những người đồng thời râu ria không cạo như tôi, hay những bà mẹ có em bé được uống sữa nóng, ăn bích quy ngâm mềm thì tôi phải kìm chế lắm mới giữ được bình tĩnh. Tôi phải giữ bình tĩnh vì đó gần như là sở hữu duy nhất của tôi còn sót lại.


Có những ngày vừa thấy mấy củ khoai tây vàng mới nấu, tôi đã thèm chảy nước miếng; vì lâu rồi – tôi do dự và thẹn đỏ mặt khi chịu nhận điều này – lâu lắm rồi, nghệ thuật nấu ăn ở nhà tôi không còn đáng gọi là có nề nếp nữa. Giữa đám khách gồm cả người lẫn thú, thỉnh thoảng chúng tôi mới được một bữa ăn tạm bợ, và lại phải đứng nữa chớ.


May thay, vợ tôi không thể tiếp tục mua những đồ vô dụng nữa vì chúng tôi đã hết tiền mặt mà tôi lại không được lĩnh lương trong thời gian vô hạn định. Chính tôi cũng buộc phải cải trang giấu mặt, đêm đêm tới các vùng ngoại thành xa xôi để bán dao cạo, xà phòng và nút áo với giá rẻ mạt; bởi vì tình trạng gia đình tôi đã tới lúc đáng lo ngại. Dù sao chúng tôi cũng có đến mấy trăm cân xà phòng, hàng ngàn dao cạo, đủ các loại nút áo. Và gần nửa đêm, tôi thất thểu về nhà, gom tiền trong các túi lại: con tôi, bầy thú của tôi, vợ tôi vây quanh tôi với đôi mắt sáng rực, vì tôi thường mua dọc đường: bánh mì, táo, mỡ, cà phê và khoai tây, món sau cùng này, phải nói là bọn trẻ thèm dữ tợn. Rồi giữa khuya, chúng tôi vui vẻ họp mặt trong bữa ăn: bầy thú vui sướng vây quanh tôi, vợ tôi mỉm cười với tôi, chúng tôi không quên mở cửa phòng tắm để anh hà mã không cảm thất trơ trọi, và tiếng vui vẻ ồ ề của anh ta vang dội ra ngoài. Thường thường vợ tôi lại thú nhận có giấu ở buồng dự trữ thực phẩm những người khách tôi chỉ được thấy sau bữa ăn bồi bổ thần kinh: rồi mấy ông nhút nhát xoa tay xáp vào bàn, mấy bà ngồi xen giữa các con tôi trên chiếc ghế dài, mấy chị đun sữa cho trẻ nhỏ đang la khóc. Cũng nhờ vậy mà tôi được biết những con thú khá xa lạ đối với tôi: hải âu, chồn, heo và có lần cả con lạc đà nhỏ nữa.


- Nó thật dễ thương, phải không? - Vợ tôi hỏi, và tôi miễn cưỡng trả lời:


- Phải, nó thật dễ thương.


Bụng bồn chồn, tôi quan sát con vật không ngừng ngốn ngấu và nhìn chúng tôi bằng đôi mắt xám tro. May thay, nó chỉ ở một tuần, và việc buôn bán của tôi cũng chạy: chất lượng hàng tốt, giá hạ nên người ta truyền miệng cho nhau. Thỉnh thoảng tôi bán được cả dây giày và bàn chải, những mặt hàng ít khi được hỏi đến. Như vậy, chúng tôi cũng được hưởng sự phồn vinh giả tạo nào đó, và vợ tôi – hoàn toàn hiểu sai những dữ kiện kinh tế – đã nói một câu khiến tôi phải lo ngại:


- Chúng ta đang trên đà đi lên.


Trong khi đó, tôi thấy lượng xà phòng dự trữ giảm dần, số dao cạo ít đi và cả trữ lượng bàn chải cũng không còn dồi dào nữa.


Đúng vào thời điểm ấy, lúc tôi đang cần sự bồi dưỡng tinh thần thì một chiều nọ, chúng tôi đang ngồi yên bên nhau, bỗng cả nhà rung chuyển như gặp phải một cơn động đất cấp trung bình: mấy tấm ảnh lắc lư, cái bàn rung rinh và một vòng dồi tiết chiên lăn khỏi dĩa của tôi. Tôi định đứng dậy tìm nguyên nhân sự kiện ấy thì thấy mấy đứa con có vẻ nén cười.


- Chuyện gì xảy ra vậy? - Tôi hét lên, và trong cuộc đời đầy thăng trầm của tôi, lần đầu tiên tôi mất tự chủ.


- Đó chỉ là Wollo thôi, Walter ạ.


Vợ tôi nói nhỏ nhẹ vừa để nĩa xuống. Nàng bật khóc, và tôi mềm lòng trước những giọt nước mắt của nàng vì nàng đã tặng tôi bảy đứa con.


- Wollo là ai?


Tôi hỏi một cách mệt mỏi, và trong khoảnh khắc đó, một chấn động làm nhà chúng tôi rung chuyển lần nữa. Con gái út của tôi trả lời:


- Wollo là con voi đang ở dưới hầm nhà chúng ta.


Tôi thú thật đã bối rối, và người ta có thể hiểu sự bối rối ấy. Đến nay, con vật lớn nhất chúng tôi cho trú ngụ là lạc đà, chớ voi thì quá lớn với căn hộ của chúng tôi, vì gia đình tôi chưa được hưởng thành quả của chương trình xây cất nhà xã hội.


Chẳng chút bối rối, vợ con tôi cho biết: chủ một gánh xiếc vỡ nợ đã gởi con vật ở nhà chúng tôi để khỏi phải mất nó. Nó xuống hầm một cách dễ dàng trên chiếc cầu trượt bình thường chúng tôi dùng để chuyển than. Thằng cả của tôi nói:


- Nó thu mình lại như quả cầu, con vật thật thông minh.


Tôi không nghi ngờ gì về điều đó và đành phải chấp nhận sự có mặt của Wollo. Rồi tôi được dẫn xuống hầm trong tiếng hò reo thắng lợi. Con vật không đến nỗi quá lớn, nó vẫy vẫy đôi tai và có vẻ thấy dễ chịu ở nhà chúng tôi, huống chi nó còn được một đống rơm nữa.


- Nó thật dễ thương phải không?


Vợ tôi hỏi, nhưng tôi nhất định không tán thành. Dễ thương có lẽ không phải từ thích hợp. Nói chung, gia đình tôi tỏ vẻ thất vọng vì thấy tôi ít phấn khởi, và khi chúng tôi ra khỏi hầm, vợ tôi bảo:


- Mình xấu quá, mình muốn nó bị đấu giá hay sao?


- Đấu giá cái gì, và xấu cái gì chớ? Vả lại, giấu những gì thuộc tài sản vỡ nợ cũng có thể bị phạt đó.


Vợ tôi nói:


- Điều ấy em bất kể, nhưng không được để con thú gặp phải việc gì.


            Giữa đêm khuya, chủ gánh xiếc, một người tóc đen nhút nhát, đánh thức chúng tôi dậy và hỏi có còn chỗ cho một con vật nữa không.


- Đó là tất cả những gì tôi có, sở hữu cuối cùng của tôi. Chỉ một đêm thôi. À, còn con voi thế nào?


Vợ tôi trả lời:


- Tốt, chỉ có sự tiêu hóa của nó làm tôi lo ngại.


- Cái đó rồi sẽ hết, nó chỉ lạ chỗ thôi. Thú vật nhạy cảm lắm. Thế nào, ông bà có nhận thêm con mèo một đêm không?


Chủ gánh xiếc nhìn tôi, và vợ tôi thúc hông  tôi, bảo:


- Mình đừng quá cứng rắn.


- Cứng rắn à, tôi không cứng rắn đâu. Thôi được, cho con mèo vào bếp đi.


Tôi giao cho vợ tôi việc sắp xếp chỗ ở cho con mèo rồi bò vô giường trở lại. Mặt vợ tôi hơi xanh khi vào giường, và tôi có cảm tưởng nàng hơi run rẩy.


- Mình lạnh à?


- Không, em chỉ ớn lạnh một cách buồn cười.


- Chắc tại mệt thôi.


- Có lẽ thế.


Vợ tôi nói nhưng lại nhìn tôi với vẻ thật lạ. Chúng tôi ngủ yên, có điều tôi luôn mơ thấy cái nhìn lạ lùng của vợ tôi, và có điều gì đó buộc tôi phải dậy sớm hơn thường lệ. Tôi quyết định lần này sẽ cạo râu.


Ở nhà bếp, một con sư tử cỡ trung bình đang nằm dưới bàn. Nó ngủ yên, chỉ cái đuôi hơi cựa quậy, gây tiếng động như tiếng dần một trái banh thật nhẹ.


Tôi cẩn thận xát xà phòng, cố không gây tiếng động, nhưng khi quay mặt qua bên phải để cạo má trái, tôi thấy con sư tử mở mắt nhìn tôi. “Nó giống con mèo thật!” - Tôi nghĩ thế, còn con sư tử nghĩ gì thì tôi không rõ: nó tiếp tục quan sát tôi, và tôi vẫn cạo râu, nhưng phải nói là cảm giác thật lạ lùng khi cạo râu trước con sư tử. Kinh nghiệm của tôi về cách đối xử với thú dữ quá ít ỏi nên tôi tự hạn chế trong việc chăm chú nhìn con sư tử, và tôi lau mặt và trở lại phòng ngủ. Vợ tôi đã thức. Nàng định nói gì đó nhưng tôi lớn tiếng ngắt ngang:


- Đâu cần nói gì nữa.


Vợ tôi bật khóc, và tôi để tay lên đầu nàng, bảo:


- Dù sao cái đó cũng không bình thường, mình phải nhìn nhận như vậy.


- Vậy chớ cái gì mới bình thường?


Vợ tôi hỏi lại, và tôi không biết trả lời ra sao.


Trong khi đó, mấy chú thỏ đã tỉnh dậy, lũ trẻ làm ồn trong nhà tắm, anh hà mã – tên anh là Gottlieb – cũng ré lên, Bello duỗi mình, chỉ có thím rùa còn ngủ – tuy nhiên, phải nói là gần như lúc nào thím ta cũng ngủ.


Tôi cho mấy chú thỏ vào bếp, nơi để sẵn mấy thùng đồ ăn cho các chú: thỏ hít hơi sư tử, sư tử hít hơi thỏ. Các con tôi – hồn nhiên và quen tiếp xúc với thú vật – cũng vào bếp tự lúc nào. Tôi có cảm tưởng như sư tử đang mỉm cười; thằng cu sinh trước đứa áp út nghĩ ngay ra một tên cho nó: Bombilus. Rồi mọi người đều gọi nó như thế.


Vài ngày sau, voi và sư tử được đón về. Thú thật, tôi không hề quyến luyến con voi lúc nó ra đi; tôi thấy nó ngốc nghếch thế nào ấy, trong khi con sư tử với vẻ trầm tính dễ chịu của nó đã được lòng tôi. Vì thế, sự ra đi của Bombilus khiến tôi buồn rầu; nó là con thú đầu tiên đã thật sự chiếm trọn cảm tình của tôi.


 


Toàn tập im lặng của tiến sĩ Murke


Mỗi sáng vào đài phát thanh, Murke đều tập một bài thể dục hiện sinh: anh nhảy vào thang máy liên tục(1) nhưng không ra tầng hai để đến phòng làm việc của mình mà lên cao hơn, qua tầng bốn, tầng năm, và lần nào nỗi sợ hãi cũng xâm chiếm lòng anh khi buồng thang máy vượt khỏi tầng năm, nơi những dây xích tẩm dầu, những thanh bôi mỡ và bộ máy sắt ì ạch chuyển hướng thang máy đang lên thành xuống, và Murke kinh sợ, trân chối nhìn cái chỗ không lau chùi duy nhất ở đài, thở phào nhẹ nhõm khi buồng nhích tới vị trí bình thường, vượt phòng cách ly để vào hàng trở lại, rồi từ từ hạ xuống, qua tầng năm, tầng bốn, tầng ba. Murke biết mình đã sợ hãi vô cớ: dĩ nhiên sẽ không bao giờ, không thể xảy ra việc gì, và dù có xảy ra việc gì đi nữa, trường hợp xấu nhất là thang máy ngừng chạy lúc đang ở trên cao, và anh bị nhốt trên đó một giờ, nhiều lắm là hai. Trong túi anh luôn luôn có sách, luôn luôn có thuốc lá. Nhưng từ lúc thành lập đài phát thanh tới giờ, từ ba năm nay, thang máy chưa hư  lần nào. Những ngày kiểm tra thang máy, những ngày Murke phải từ bỏ nỗi sợ kéo dài bốn giây rưỡi ấy, anh cáu kỉnh, khó chịu như người chưa ăn sáng. Anh cần nỗi sợ hãi đó như kẻ khác cần cà phê, bột mạch và trái cây.


Ở tầng hai, nơi làm việc của phòng Tiếng nói văn hóa, khi Murke nhảy ra khỏi thang máy, anh có cái vui vẻ và điềm tĩnh của một người yêu việc và hiểu công việc của mình. Anh mở khóa cửa, chậm rãi vào phòng ngồi xuống chiếc ghế bành và đốt điếu thuốc: Murke trẻ tuổi, thông minh và dễ thương, và cả sự kiêu  ngạo thỉnh thoảng lóe lên thật ngắn, cả sự kiêu ngạo ấy, người ta cũng tha thứ cho anh vì biết anh đã học môn tâm lý học và đậu tiến sĩ hạng xuất sắc.


Vì lý do đặc biệt mà hai ngày nay, Murke không được điểm tâm bằng nỗi sợ hãi nữa: anh phải đến đài lúc tám giờ, chạy thẳng vào phòng thu và bắt đầu công việc ngay; anh được ông giám đốc giao cho việc cắt xén hai bài thuyết trình về bản chất nghệ thuật mà Bur-Malottke, người được cải hoá trong cao trào tôn  giáo năm 1945, cho biết ông ta “đột nhiên có những cân nhắc về tín ngưỡng”, “đột nhiên cảm thấy bị lên án vì có trách nhiệm phần nào trong việc đài phát thanh đã nhuốm màu sắc tôn giáo” và đi đến quyết định gạch bỏ chữ Chúa mà ông ta nhắc tới nhiều lần trong bài thuyết trình của mình để thay thế bằng một từ thích hợp hơn với tinh thần được ông ta chấp nhận trước 1945. Bur-Malottke đề nghị ông giám đốc cho thay thế từ Chúa bằng  nhóm chữ “đấng cao cả mà chúng ta tôn kính”, nhưng từ chối đọc lại các bài thuyết trình ấy và yêu cầu chỉ cắt “chúa” ra, dán “đấng cao cả mà chúng ta tôn kính” vào. Bur-Malottke là bạn thân của ông giám đốc, nhưng ông này tận tình với Bur-Malottke không phải vì tình bạn ấy mà vì: người ta không thể nào làm trái ý Bur-Malottke được. Ông ta viết nhiều sách với chủ đề tiểu luận – triết lý – tôn giáo – văn hoá sử, ông ta ở trong ban biên tập của ba tập san và hai tờ báo, ông ta là trưởng ban phụ trách bản thảo của nhà xuất  bản lớn nhất. Ông ta tỏ ý sẵn sàng dành một khắc đồng hồ vào ngày thứ tư để đến đài nói “đấng cao cả mà chúng ta tôn kính” vô băng nhiều lần như số lần Chúa hiện hữu trong hai bài thuyết trình. Những việc khác, ông ta nhường cho nhân viên đài giải quyết bằng năng khiếu kỹ thuật của họ.


Ông giám đốc thật khó tìm người có thể phụ trách việc này. Mặc dù ông đã nghĩ ngay tới Murke, nhưng sự đột ngột khi nghĩ tới Murke khiến ông ta do dự – ông ta vốn là người sinh động và khỏe mạnh – vì thế, ông ta cân nhắc năm phút, ông ta nghĩ tới Schwendling, Humkoke, tới cô Broldin nhưng rồi lại quay về với Murke. Ông giám đốc không thích Murke dù ông ta nhận anh vào làm ngay khi có người đề nghị. Ông ta đã nhận anh vào làm, giống như giám đốc sở thú kia chỉ yêu nai yêu thỏ nhưng dĩ nhiên cũng phải tậu thú dữ, vì sở thú thì phải có thú dữ – và ông ta cũng chỉ yêu nai thỏ thôi, còn Murke đối với ông ta là một ác thú trí thức. Cuối cùng, tính sinh động của ông ta đã thắng, ông ta giao cho Murke nhiệm vụ cắt xén hai bài thuyết trình của Bur-Malottke. Hai bài ấy nằm trong chương trình phát sóng ngày thứ năm và thứ sáu, mà Bur-Malottke lại bị lương tâm cắn rứt vào tối chủ nhật rạng ngày thứ hai – và người ta cũng có thể tự sát nếu như phản đối Bur-Malottke, nhưng ông giám đốc quá sinh động nên không nghĩ tới việc tự sát.


Vì vậy, chiều thứ hai và sáng thứ ba, Murke phải ba lần nghe hai bài thuyết trình về bản chất nghệ thuật, cắt chúa ra khỏi băng, và trong những lúc giải lao ngắn ngủi, anh im lặng hút thuốc với anh kỹ thuật, vừa ngẫm nghĩ về tính sinh động của giám đốc và kẻ thấp hèn mà Bur-Malttke tôn kính. Anh chưa từng đọc một dòng nào, chưa từng nghe một bài thuyết trình nào của Bur-Malottke. Trong đêm thứ hai rạng ngày thứ ba, anh mơ thấy một cầu thang cao ngất và đứng dựng như tháp Eiffel, anh leo lên nhưng chẳng bao lâu lại nhận thấy các bậc thang bị xát xà phòng, và ông giám đốc gọi phía dưới:


- Nào, Murke… anh hãy cho thấy khả năng của mình… nào!


Giấc mơ trong đêm thứ ba rạng sáng thứ tư cũng thế: vô tư lự, anh đến một cầu trượt ở hội chợ, trả ba mươi xu cho một  người có vẻ quen quen. Khi vào cầu trượt, anh bỗng thấy nó dài ít nhất mười cây số, anh biết không còn đường nào trở lại và chợt nhớ người đàn ông mình đưa ba mươi xu không ai khác hơn là ông giám đốc. Các buổi sáng sau hai giấc mơ ấy, anh không cần điểm tâm bằng sự sợ hãi vô hại ở khoảng trống trên thang máy nữa.


Hôm nay là thứ tư, và đêm qua, anh chẳng mơ gì về xà phòng, cầu trượt hay ông giám đốc nữa. Anh mỉm cười vào đài phát thanh, leo lên thang máy liên tục để đến tầng sáu – nỗi sợ bốn giây rưỡi, tiếng xích kèn kẹt, chỗ không lau chùi – rồi anh xuống tầng bốn, ra khỏi thang máy và tới phòng thu, nơi anh hẹn gặp Bur-Malottke. Lúc ấy mười giờ thiếu hai phút, anh vẫy tay chào anh kỹ thuật và đốt điếu thuốc lá. Anh thở nhẹ nhàng, lấy một mảnh giấy từ túi trong ra, nhì đồng hồ: Bur-Malottke rất đúng giờ, hay ít ra cũng có huyền thoại về sự đúng giờ của ông ta; và khi kim chỉ giây quay ở phút thứ sáu mươi của giờ thứ mười, khi kim chỉ phút nằm trên số mười hai, kim chỉ giờ trượt trên số mười thì cửa mở, Bur-Malottke bước vào. Murke đứng dậy, tươi cười đi về phía ông ta và tự giới thiệu. Bur-Malottke bắt tay anh mỉm cười bảo:


- Vậy thì, nào!


Murke lấy mảnh giấy ở trên bàn, đút điếu thuốc vào miệng và nói với Bur-Malottke:


- Trong hai bài thuyết trình, Chúa hiện hữu hai mươi bảy lần vậy xin giáo sư nói hai mươi bảy lần cái chúng tôi phải dán vào. Chúng tôi rất cám ơn nếu được phép yêu cầu giáo sư nói ba mươi lần để có số dự trữ cần thiết khi dán băng.


- Chấp thuận.


Bur-Malottke mỉm cười ngồi xuống, Murke nói:


- Tuy nhiên, có khó khăn này: ở chữ Chúa, ít ra trong bài thuyết trình của giáo sư, sự thích ứng với các cách, ngoại trừ thuộc cách, không rõ ràng, nhưng ở “đấng cao cả mà chúng ta tôn kính”, nó phải được làm rõ ra. Chúng tôi cần cả thảy (anh cười dễ thương với Bur-Mlottke”, mười danh cách và năm đối cách, nghĩa là mười lăm lần “đấng cao cả mà chúng ta tôn kính” – sáu thuộc cách “của đấng cao cả mà chúng ta tôn kính” - năm tặng cách “cho đấng cao cả mà chúng ta tôn kính” - còn lại một hô cách, chỗ giáo sư gọi “Chúa ơi”. Tôi mạn phép đề nghị giáo sư cứ giữ hô cách và nói “hỡi đấng cao cả mà chúng con tôn kính!”(1).


Bur-Malottke xem chừng đã không nghĩ đến điều phức tạp ấy, ông ta bắt đầu đổ mồ hôi, sự biến đổi theo các cách làm người ta buồn phiền. Murke tiếp, giọng tử tế và dễ thương:


- Chúng ta cần tất cả một phút hai mươi bảy giây để phát hai mươi bảy câu mới, trong khi hai mươi bảy tiếng Chúa chỉ đòi hỏi hai mươi giây. Vậy để có thể thay đổi theo ý giáo sư, mỗi bài thuyết trình phải ngắn bớt nửa phút.


Bur-Malottke càng đổ mồ hôi dữ hơn, ông ta tự nguyền rủa trong bụng vì những cân nhắc bất  ngờ của mình và hỏi:


- Anh đã cắt rồi phải không?


- Vâng.


Murke thọc tay vào túi và lấy một hộp thuốc lá bằng thiếc đưa cho Bur-Malottke xem: trong hộp có những khúc băng ngắn đen đen. Murke nói nhỏ:


- Hai mươi bảy lần Chúa do giáo sư nói. Giáo sư muốn giữ chúng không?


Bur-Malottke giận giữ nói:


Không, cám ơn. Tôi sẽ nói chuyện với ông giám đốc về một phút phát thanh. Tiếp sau hai bài thuyết trình của tôi là tiết mục nào vậy?


- Ngày mai, sau bài thuyết trình của giáo sư là bài phát thanh thường lệ Chuyện nội bộ của KUV, tiết mục do tiến sĩ Grehm phụ trách.


Bur-Malottke nói:


Khốn thật, Grehm không nhân nhượng đâu.


- Còn ngày mốt, sau bài thuyết trình của giáo sư là mục Chúng ta nhảy một điệu nhộn.


Bur-Malottke rên:


- Huglieme, chưa bao giờ phòng Tiêu khiển lại nhường Văn hóa, dù chỉ một phần năm phút thôi.


Murke bảo:


- Chưa, chưa bao giờ, (gương mặt trẻ của anh tỏ vẻ hết sức nghiêm nghị) ít ra trong khoảng thời gian tôi làm ở đây, chưa bao giờ.


- Được rồi - Bur-Malottke nhìn đồng hồ rồi tiếp - mười phút nữa chắc xong, tôi sẽ nói chuyện với ông giám đốc về phút quá thời hạn. Ta hãy bắt đầu. Anh để miếng giấy lại cho tôi được không?


- Dạ được, tôi đã nhớ thuộc lòng các con số ấy.


Anh kỹ thuật để tờ báo xuống khi Murke vào phòng đạo diễn cách phòng thu bởi một bức tường kính. Anh kỹ thuật mỉm cười. Hôm thứ hai và thứ ba, Murke đã cùng anh ấy nghe và cắt xén các bài thuyết trình của Bur-Malottke suốt sáu tiếng đồng hồ mà không nói với nhau một lời riêng tư nào. Thỉnh thoảng họ mới nhìn nhau trong lúc nghỉ ngơi, khi thì anh kỹ thuật đưa bao thuốc mời Murke, khi khác Murke mời lại, và bây giờ thấy anh kỹ thuật cười, Murke nghĩ thầm: nếu quả thật trên đời có tình bạn thì người này là bạn tôi. Anh đặt hộp thiếc chứa những khúc băng cắt từ bài thuyết trình của Bur-Malottke lên bàn rồi nói nhỏ:


- Bây giờ bắt đầu.


Anh đóng mạch nối với phòng thu và nói vào micrô:


- Chắc ta có thể bỏ qua việc nói thử, giáo sư ạ. Xin giáo sư nói các danh cách trước tiên.


Bur- Malottke gật đầu, Murke tắt mạch, bấm nút bật đèn xanh ở phòng thu, rồi họ nghe giọng nói trang trọng, rõ ràng của Bur-Malottke:


- Đấng cao cả mà chúng ta tôn kính – đấng cao cả…


Ông ta chụm môi trước cái mõ micrô như muốn hôn, mồ hôi chảy đầy mặt, và qua bức tường kính, Murke lạnh lùng xem Bur-Malottke tự hành hạ mình như thế nào; rồi bất chợt anh tắt mạch điện của Bur-Malottke, cho ngưng cuộn băng đang thu và khoái trá nhìn ông ta lặng câm sau bức tường kính như một con cá béo tốt. Anh đóng mạch cho mình, điềm tĩnh nói vào phòng thu:


- Rất tiếc, vừa rồi băng chúng tôi hư, xin giáo sư nói lại các danh cách từ đầu.


Bur-Malottke nguyền rủa, nhưng lời nguyền rủa ấy chỉ một mình ông ta nghe vì Murke đã tắt mạch, anh chỉ đóng mạch trở lại  khi ông ta bắt đầu nói “đấng cao cả…”. Murke còn quá trẻ, anh thấy chữ ghét không xứng đáng với người có học như mình. Nhưng sau bức tường kính, giữa lúc Bur-Malottke nói các thuộc cách, anh chợt hiểu ghét là gì: anh ghét kẻ to béo và tốt người đó với hai triệu ba trăm năm chục ngàn quyển sách rải rác ở các thư viện, nhà sách, tủ sách và tiệm sách, và anh không muốn nén lòng căm tức lại dù chỉ một giây thôi. Khi Bur-Malottke nói xong hai thuộc cách, Murke lại đóng mạch, điềm tĩnh bảo :


- Xin lỗi, tôi phải ngắt lời giáo sư. Các danh cách thật tuyệt, thuộc cách đầu cũng vậy, nhưng từ thuộc cách thứ hai trở đi, yêu cầu giáo sư lập lại; êm ái hơn, bình thản hơn một chút. Để tôi phát băng cho giáo sư nghe thử.


Rồi dù cho Bur-Malottke lắc đầu quây quẩy, anh ra hiệu cho anh kỹ thuật phát băng vào phòng thu. Họ thấy Bur-Malottke giật mình, đổ mồ hôi dữ hơn và bịt tai lại cho tới khi hết băng. Ông ta nói hoặc chửi rủa gì đó, nhưng Murke và anh kỹ thuật không nghe vì họ đã tắt mạch của ông ta. Murke lạnh lùng đợi cho tới khi miệng của Bur-Malottke mấp máy như bắt đầu lại với đấng cao cả, anh mới bật micrô và cho băng chạy, và Bur-Malottke khởi sự nói các tặng cách: “cho đấng cao cả mà chúng ta tôn kính!”. Nói các tặng cách xong, ông ta vò mảnh giấy của Murke, mồ hôi đổ ra như tắm. Ông ta giận dữ, đứng dậy định bước ra cửa thì giọng nói êm ái, dễ thương và trẻ trung của Murke gọi ông ta trở lại:


Thưa giáo sư, giáo sư đã quên câu hô cách.


Bur-Malottlke ném cho anh ta một cái nhìn căm tức và nói  vào micrô:


Hỡi đấng cao cả mà chúng con tôn kính!


Lúc ông ta định ra khỏi phòng, giọng nói của Murke lại gọi ông ta lần nữa:


- Xin lỗi giáo sư, câu ấy không dùng được nếu nói như thế.


Anh kỹ thuật thì thầm bảo:


- Trời ơi, anh đừng làm quá đáng.


Lưng quay về phía buồng kính, Bur-Malottke đứng sững trước cửa như bị giọng nói của Murke dán chặt. Chưa bao giờ ông ta lại như thế: ông ta lúng túng, và cái giọng trẻ trung, dễ thương và vô cùng khôn ngoan ấy đã hành hạ ông ta hơn bao giờ hết. Murke tiếp:


- Dĩ nhiên tôi cũng có thể dán y như vậy vào bài thuyết trình, nhưng xin lưu ý giáo sư là nó sẽ không có tác dụng tốt.


Bur-Malottke quay lại micrô, nói nhỏ nhẹ và trang trọng:


Hỡi đấng cao cả mà chúng con tôn kính.


Rồi ông ta rời phòng thu, không nhìn đến Murke nữa. Lúc ấy đúng mười giờ mười lăm. Ngay ở cửa, ông ta đụng phải một thiếu nữ xinh xắn cầm mấy tờ nhạc đi vào. Thiếu nữ ấy có mái tóc hung và đầy nhựa sống, mạnh dạn bước tới mi-crô vặn sửa, đẩy bàn ra để đứng cho thoải mái.


Trong buồng đạo diễn, Murke trò chuyện nửa phút với Huglieme, đạo diễn phụ trách phòng Tiêu khiển. Huglieme chỉ hộp thuốc lá hỏi:


- Anh còn cần cái đó hay sao?


Murke trả lời:


- Vâng, cái đó tôi còn cần.


Trong kia, thiếu nữ tóc hung hát:


- Hãy nhận lấy môi em, như đóa hồng xinh đẹp.


Huglieme đóng mạch, điềm tĩnh nói vào micrô:


- Làm ơn ngậm mõ thêm hai mươi giây nữa, tôi chưa sẵn sàng.


Thiếu nữ cười, vênh miệng:


Đồ lạc đà đồng tính.


Murke bảo anh kỹ thuật:


- Vậy tôi trở lại lúc mười một giờ, ta sẽ cắt rời các đoạn băng rồi dán lại.


- Sau đó, chúng ta có phải nghe lần nữa không?


Anh kỹ thuật hỏi. Murke trả lời:


- Không, cho một triệu mác, tôi cũng không nghe lần nữa.


Anh kỹ thuật gật đầu, đặt băng cho cô ca sĩ tóc hung, trong khi Murke ra khỏi buồng.


Anh đút điếu thuốc vào miệng nhưng không đốt. Anh qua hành lang phía sau, đến thang máy liên tục thứ hai dẫn xuống căngtin. Thảm, hành lang, bàn ghế và tranh ảnh, tất cả đều hấp dẫn đối với anh. Đó là những tấm thảm quí, những hành lang đẹp, bàn ghế và tranh ảnh đầy vẻ thẩm mỹ, nhưng anh tự nhiên muốn thấy đâu đó tấm ảnh tồi vẽ thánh tâm chúa Giêsu mà mẹ anh đã gởi cho anh. Anh dừng lạo nghe ngóng rồi thò túi lấy tấm ảnh nhỏ nhét vào chỗ giấy dán tường và khung cửa của phó đạo diễn phòng Vở kịch truyền thanh. Tấm ảnh màu sặc sỡ, và dưới tấm hình vẽ chúa Giêsu, có dòng chữ: Tôi cầu nguyện cho bạn ở nhà thờ thánh Jacob.


Murke đi tới thang máy liên tục, bước vào để xuống phía dưới. Bên này đài phát thanh, người ta gắn mấy cái gạt tàn thuốc kiểu Schrưrschnauz đoạt giải đầu trong kỳ tuyển chọn những cái gạt tàn tốt nhất. Chúng nằm cạnh những số sáng đỏ chỉ tầng lầu tương ứng: một cái gạt tàn Schrưrschnauz cạnh ba số đỏ, một cái gạt tàn Schrưrschnauz cạnh hai số đỏ. Đó là những cái gạt tàn hình nến xinh đẹp, làm bằng đồng trau nổi và có đế là một loại rong biển độc đáo cũng làm bằng đồng trau nổi: loại rong biển có đốt – và mỗi cái gạt tàn ấy giá hai trăm năm mươi tám mác bảy mươi xu. Chúng đẹp đến nỗi Murke chưa bao giờ dám làm ô uế bằng tàn thuốc, chứ đừng  nói đến cái vô thẩm mỹ như mẩu thuốc lá. Hình như những người hút thuốc khác cũng vậy – bao không, mẩu và tàn thuốc luôn luôn nằm dưới mấy cái gạt tàn đẹp đẽ ấy. Hình như không ai dám dùng chúng đúng với công dụng của chúng; làm bằng đồng, lúc nào chúng cũng bóng nhoáng và trống rỗng.


Murke thấy cái gạt tàn thứ năm cạnh số không sáng đỏ tới gần, không khí ấm hơn và có mùi thức ăn. Murke nhảy xuống, khập khiễng bước vào căngtin. Ở một góc nhà, ba cộng tác viên tự do đang ngồi chung bàn. Quanh họ rải rác những ly đựng trứng, dĩa bánh mì và bình cà phê.


Ba anh đã cùng soạn loạt bài truyền thanh: Lá phổi, cơ quan của con người, cùng lãnh tiền thù lao, cùng ăn sáng, giờ họ uống với nhau ly rượu mạnh và đổ súc sắc quanh tờ chứng nhận thuế. Murke quen một người trong số bọn họ, tên Wendrich; nhưng Wendrich đang hứng chí kêu lên:


- Nghệ thuật! Nghệ thuật! (Anh ta lại hô lần nữa): Nghệ thuật, Nghệ thuật!


Murke giật nẩy mình như con ếch của Galvani khi ông khám phá điện lực. Hai ngày nay, Murke đã nghe quá nhiều chữ nghệ thuật từ miệng Bur-Malottke; đúng một trăm ba mươi bốn chữ trong hai bài thuyết trình, và anh đã nghe chúng ba lần, tức bốn trăm lẻ hai chữ nghệ thuật; quá nhiều để có thể tán gẫu về nó. Anh đi nép vào quầy tới vòm cây ở góc đối diện và thở phào nhẹ nhõm khi thấy chỗ ấy còn trống. Anh ngồi xuống chiếc ghế bành lót đệm vàng, đốt điếu xì gà, và khi chị phục vụ tên Wulla tới, anh nói:


Làm ơn cho tôi nước táo.


Anh vui mừng khi Wulla lại đi ngay. Anh nhắm nghiền mắt lại nhưng dù không muốn, anh vẫn lắng tai nghe các cộng tác viên nói chuyện ở góc kia, hình như họ đang hăng say cãi nhau về nghệ thuật, mỗi lần một người trong bọn họ nói đến chữ “nghệ thuật”, Murke lại giật mình. Giống như bị quất roi vậy, Murke nghĩ thế.


Wulla đem nước táo đến, nhìn anh ái ngại. Chị to lớn khỏe mạnh nhưng không mập, vẻ mặt tươi tắn. Trong lúc rót nước táo chị bảo:


- Ông nên nghỉ phép, ông tiến sĩ ạ, và tốt hơn nên bỏ hút.


Tên chị trước kia là Wilfriede-Ulla, nhưng thu gọn thành Wulla cho dễ gọi. Chị đặc biệt kính trọng những người thuộc phòng Văn hóa.


Murke bảo:


Chị để tôi yên, chị làm ơn giùm!


Wulla nói:


- Và ông nên đi xinê với một cô giản dị dễ thương.


Tối nay tôi sẽ làm điều đó, tôi hứa với chị.


Wulla tiếp:


- Không phải là một ả lẳng lơ mà là một cô giản dị dễ thương và có tâm hồn. Những cô như vậy vẫn còn.


Murke nói:


- Tôi biết vẫn còn, và tôi cũng quen  một cô như vậy.


Vậy thì được, Wulla nghĩ thế khi đi tới chỗ các cộng tác viên tự do, một người trong bọn họ kêu ba ly rượu mạnh và ba tách cà phê. “Tội nghiệp mấy ông” - Wulla nghĩ thế - nghệ thuật sẽ còn làm họ điên khùng hơn nữa”. Chị dành nhiều tình cảm cho các cộng tác viên tự do và luôn có ý khuyến khích họ tiết kiệm. “Vừa mới có tiền, họ đã hoang toàng rồi” - chị nghĩ thế và tới quầy, lắc đầu đưa giấy đặt ba rượu  mạnh và ba cà phê cho người coi quầy.


Murke uống nước táo, dập điếu thuốc hút nửa chừng vào cái gạt tàn và hoảng sợ khi nghĩ đến khoảng thời gian từ mười một giờ tới một giờ, lúc anh phải cắt rời các câu nói của Bur-Malottke và dán đúng chỗ của chúng trong hai bài thuyết trình. Ông giám đốc muốn phát các bài ấy vào phòng làm việc của mình vào lúc hai giờ. Murke nghĩ đến xà phòng mềm, đến cầu thang, những cầu thang dựng đứng và cầu trượt, anh nghĩ đến tính sinh động của ông giám đốc, đến Bur-Malottke và giật mình khi thấy Schwendling bước vào căngtin. Schwendling mặc áo sọc đen đỏ, đi một mạch tới vòm cây, nơi Murke đang ẩn nấp. Schwendling ngân nga điệu hát thịnh hành, rất được yêu chuộng:


- Hãy nhận lấy môi em, như đóa hồng xinh đẹp…


Anh ta chưng hửng khi thấy Murke và nói:


-          Chú kia à? Tưởng chú đang cắt cái đồ bỏ đi của lão Bur-Malottke rồi chớ.


(còn tiếp)


Nguồn: Đêm thánh vô cùng. Truyện của Heinrich Böll. Phạm Hải Hồ dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Lương Văn Hồng và Triệu Xuân chủ biên. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 








(1)  Thang máy gồm một chuỗi buồng kế tiếp nhau xếp thành hai hàng song song, một bên lên và một bên xuống liên tục. Buồng không có cửa nên khi tới ngang thềm một tầng nhà, người ta có thể bước ngay vào để lên trên hoặc xuống dưới.




(1)  Trong tiếng Đức, danh từ và tính từ biến đổi ít nhiều theo các cách, cũng như động từ biến đổi theo các thời. Nhóm chữ “Jenes hošhere Wesen, das wir verehren” (đấng cao cả mà chúng ta tôn kính) không thay đổi ở danh cách và đối cách, nhưng trở thành “jenes hošhere Wesen, …” ở thuộc cách, “jenes hošhere Wesen, …” ở tặng cách, “o du hošheren Wesen,…(hô cách). Trong khi đó, từ “Gott” (chúa) không biến đổi theo các cách, ngoại trừ thuộc cách: Gottes.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »