tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29863483
Tiểu thuyết
01.10.2009
Heinrich Böll
Đêm thánh vô cùng

Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai


Trong khoảnh khắc này, tôi đang ở ngoài trời trên bệ cửa sổ, mình từ từ đầy tuyết; ống hút đã dính cứng trong nước xà phòng đông đặc, chim sẻ nhảy nhót quanh tôi, lũ thô bạo đang tranh nhau từng mảnh bánh vụn người ta rải cho chúng, và cũng như bao lần trước, tôi run sợ cho mạng sống của mình; nếu bị một trong những chim sẻ béo mập ấy đụng phải, tôi sẽ rơi từ bệ cửa xuống thềm bêtông dưới kia – nước xà phòng sẽ là cái gì đông đặc hình bầu dục nằm yên một chỗ, ống hút sẽ gãy – và  người ta sẽ ném các mảnh vỡ của tôi vào thùng rác.


Tôi chỉ thấy những đốm sáng mờ mờ ở cây Noel, lập lòe qua cửa kính nhòa nước, chỉ nghe thoang thoảng lời ca bên trong: tiếng cãi cọ của bầy chim sẻ át đi mọi thứ tiếng khác.


Dĩ nhiên không ai biết rằng cách đây hai mươi năm, tôi ra đời dưới một cây Noel, và cái tuổi hai mươi lăm thật đáng kinh ngạc đối với một tách cà phê bình thường: những vật thuộc dòng giống chúng tôi đang mơ màng trong các tủ kính kia sống lâu hơn lũ tách cà phê chúng tôi nhiều. Chắc hẳn không ai trong gia đình tôi còn sống: cha mẹ, anh em và cả đến các con tôi cũng đã chết từ lâu, trong khi tôi ăn mừng sinh nhật thứ hai mươi lăm của mình với bầy sẻ ầm ĩ trên một bệ cửa sổ ở Hambourg.


Cha tôi là dĩa đựng bánh, còn mẹ tôi là hộp bơ; tôi có năm anh chị em: hai tách và ba dĩa để tách, nhưng gia đình chỉ sống chung với nhau vài tuần; đa số các tách đều chết yểu một cách đột ngột, như hai em trai và một chị yêu quí của tôi đã bị gạt khỏi bàn ngay ngày Noel thứ hai. Chẳng bao lâu, chúng tôi lại phải rời xa người cha kính mến: tôi cùng mẹ và đứa em gái là một dĩa để tách tên Josephine đi xuống miền nam; được bọc kín trong giấy báo, để giữa bộ quần áo và chiếc khăn lông, chúng tôi đi La Mã phục vụ cậu con ông chủ, một sinh viên đã hiến thân cho khảo cổ học.


Đoạn đời này – tôi gọi là những năm La Mã – thật thú vị đối với tôi: lúc đầu, người sinh viên tên Julius ấy luôn đem tôi tới hồ nước nóng của hoàng đế Caracalla, di tích một nhà tắm công cộng khổng lồ; nơi đó, tôi kết bạn với một bình phích cùng đi với tôi và cậu chủ tới chỗ làm việc. Bình phích tên Hulda, và chúng tôi thường nằm bên nhau hàng giờ trên bãi cỏ, trong khi Julius đào đất; về sau, tôi hứa hôn với Hulda  rồi cưới nàng trong năm La Mã thứ hai, mặc dù mẹ tôi trách mắng thậm tệ, cho là một bình phích không xứng đáng làm vợ tôi. Nói chung, mẹ tôi lạ hẳn đi: bà cảm thấy nhục vì bị dùng để đựng thuốc lá, cũng như em Josephine thân yêu của tôi thấy việc phải xuống làm cái gạt tàn thuốc là một xúc phạm tột cùng.


Tôi sống những tháng ngày hạnh phúc với Hulda; chúng tôi cùng tìm hiểu những gì Julius tìm hiểu: mộ hoàng đế Augustus, đường Via Appia, quảng trường La Mã – ở chỗ sau cùng này, tôi có một kỷ niệm buồn, vì đó là nơi người vợ yêu quý của tôi bị một thằng ranh con La Mã lấy đá ném vỡ. Nàng chết bởi một hòn cẩm thạch to bằng nắm tay, hồi trước là một phần của tượng nữ thần Tình Yêu.


Độc giả nào thích nghe tiếp những điều tôi nghĩ, sẵn lòng thừa nhận một cái tách không quai cũng biết đau khổ và cũng có triết lý sống – tôi có thể báo cho độc giả ấy biết là bây giờ, bầy sẻ đã mổ hết bánh vụn nên không trực tiếp đe dọa tính mạng tôi nữa. Ngoài ra, một khoảng sạch bóng lớn bằng cái dĩa súp xuất hiện trên mặt kính nhòa, và tôi thấy rõ cái cây bên trong cũng như gương mặt của Walter bạn tôi đang dí mũi vào kính cửa sổ và cười với tôi. Cách đây ba tiếng, trước lúc tặng quà Noel, Walter còn thổi bọt xà phòng, bây giờ nó chỉ có tôi, ba nó lắc đầu và chỉ nhìn chiếc xe lửa mới tinh của nó nhưng Walter lắc đầu – và giữa lúc mặt kính nhoà trở lại, tôi biết trễ nhất là nửa giờ sau, tôi sẽ được vào căn phòng ấm áp…


Niềm vui trong những năm La Mã không chỉ phai nhạt bởi cái chết của vợ tôi, khó chịu hơn, cái tính kỳ cục của mẹ tôi và nỗi bất mãn của em gái tôi. Mỗi tối, khi chúng tôi họp mặt trong tủ, họ than thở rền rĩ với tôi là người ta đã hiểu sai nhiệm vụ của họ. Nhưng chính tôi cũng phải chịu nỗi nhục nhã mà một cái tách tự trọng khó có thể chịu được: Julius dùng tôi để uống rượu mạnh. Nếu nói về một cái tách: “Nó bị dùng để uống rượu mạnh” thì chẳng khác gì nói về một người: “Hắn giao du với kẻ xấu!”. Và tôi bị dùng để uống quá nhiều rượu  mạnh.


Đó là thời kỳ nhục nhã của đời tôi. Nó kéo dài cho tới khi người anh họ của tôi, một ly đựng trứng, được gởi từ Munich tới La Mã, cùng với một cái bánh ngọt và một chiếc áo sơ mi. Từ ngày đó, anh họ tôi bị dùng để uống rượu mạnh, còn tôi thì Julius tặng cho một chị cũng đến La Mã với mục đích như anh ta.


Nếu ba năm đầu, tôi có thể nhìn xuống mồ Augustus từ bệ cử sổ của căn nhà La Mã, thì hai năm sau ở căn nhà mới, tôi nhìn nhà thờ thánh Maria Maggiore: trong hoàn cảnh mới, tuy phải sống xa mẹ nhưng tôi lại dược sử dụng đúng mục đích đời mình: tôi được dùng để uống cà phê, được rửa mỗi ngày hai lần và ở trong một cái tủ  nhỏ xinh xắn.


Nhưng tại đây, tôi cũng không khỏi bị nhục: cùng ở với tôi trong cái tủ xinh xắn là một bà tên Hurz! Cả đêm và rất nhiều giờ trong ngày – và cứ thế trong suốt hai năm dài – tôi phải ở cạnh bà Hurz. Bà thuộc dòng họ Hurlewang, cái nôi của bà từng nằm trong lâu đài họ Hurlewang ở Hušrzenich bên bờ sông Huššrze, nay bà đã được chín mươi tuổi. Nhưng dù đã sống chín mươi năm, bà lại là người ít từng trải.


Khi tôi hỏi sao lúc nào bà cũng ở trong tủ, bà ta kiêu hãnh trả lời:


- Vì không ai được phép dùng bà Hurz để uống!


Bà Hurz đẹp, nước da trăng trắng dìu dịu, điểm những chấm xanh nhỏ li ti, và mỗi lần tôi làm bà bực mình, mặt bà tái đi, khiến những chấm xanh ấy càng nổi bật hơn. Dù không có ý xấu, tôi hay làm bà bực mình: trước hết, vì việc cầu hôn. Lúc tôi xin được se tơ kết tóc với bà, mặt bà tái đến nỗi tôi phải lo cho mạng sống của bà; phải mười phút sau, bà mới hơi bình thường trở lại và thì thào bảo:


- Xin ông đừng nói chuyện ấy nữa; hôn phu của tôi đang chờ tôi trong một tủ kính ở Erlangen.


- Bao lâu rồi?


Tôi hỏi bà ta. Bà ta bảo:


- Từ hai mươi năm nay. Chúng tôi hứa hôn với nhau đầu  năm 1914 – nhưng rồi phải xa nhau một cách đột ngột. Thời chiến tranh, tôi ngụ tại một tủ sắt ngân hàng ở Francfort, còn anh ấy sống dưới hầm nhà chúng tôi ở Erlengen. Sau chiến tranh, vì một vụ tranh giành gia tài, tôi đến một tủ kính ở Munich, còn anh ấy cũng vì vụ tranh giành gia tài đó mà đến một tủ kính ở Erlangen. Hy vọng duy nhất của chúng tôi là Dianna (tên cô chủ của chúng tôi) cưới Wolfgang, con trai bà chủ cái tủ kính nơi hôn phu tôi ở, để chúng tôi sum họp trong cái tủ kính đó.


            Tôi im lặng vì không muốn làm bà tổn thương lần nữa, vì từ lâu rồi, tôi để ý thấy Julius và Dianna gần gũi nhau hơn. Trong cuộc tham quan thành cổ Pompée, Dianna bảo Julius:


- Anh biết không, tôi có một cái tách nhưng lại không được phép dùng nó để uống.


Julius nói:


- Vậy à, tôi có thể giúp cô khỏi tình trạng khó xử đó không?


            Về sau, tôi không xin cưới bà Hurz nữa nên chúng tôi hiểu nhau hơn. Mỗi tối, khi chúng tôi ở trong tủ, bà luôn luôn nói:


- Này, ông kể cho tôi nghe chuyện gì đi, nhưng yêu cầu đừng quá dung tục, nếu được.


            Việc tôi được dùng để uống cá phê, ca cao, sữa, rượu vang và nước, bà ta đã thấy khá lạ lùng, nhưng khi tôi kể chuyện Julius dùng tôi để uống rượu mạnh, bà lại bất tỉnh lần nữa và tự cho phép phát  biểu câu này mà (theo ý kiến khiêm nhường của tôi) đáng lẽ bà không nên phát biểu:


- Hy vọng Dianna không bị đứa dung tục ấy lừa.


Nhưng hình như Dianna đã bị “đứa dung tục” ấy lừa: Sách ở phòng cô ta phủ đầy bụi, một tờ giấy nằm yên hàng tuần trong máy đánh chữ với mỗi một câu viết nửa chừng: “Khi Winckelmann(1) ở La Mã…”


Tôi chỉ còn được rửa một cách vội vàng, và cả bà Hurz xa lạ cuộc đời ấy cũng bắt đầu cảm thấy ngày càng khó gặp lại hôn phu hơn, vì Dianna tuy được thư từ Erlangen nhưng cứ để đó, không trả lời. Dianna bây giờ lạ thật: cô ta – tôi lưỡng lự khi thuật lại điều này – dùng tôi để uống rượu vang. Buổi tối tôi kể chuyện ấy cho bà Hurz nghe, bà sắp xỉu và nói khi hoàn hồn trở lại:


- Tôi không thể nào thuộc về một người đàn bà dám uống rượu vang bằng tách.


Bà Hurz quí hoá không biết ước muốn của mình sắp thành sự thật: bà ta bị đem tới tiệm cầm đồ, và Dianna lấy tờ giấy với câu viết nửa chừng “Khi Winckelmann ở La Mã…” ra khỏi máy đánh chữ rồi viết cho Wolfgang.


Một thời gian sau, thư Wolfgang đến; trong lúc điểm tâm, Dianna vừa đọc thư vừa uống sữa đựng trong tôi, và tôi nghe cô thì thầm:


- Thì ra anh ta chẳng hề nghĩ tới tôi, chỉ nghĩ tới cái tách ngu xuẩn thôi.


Rồi tôi thấy cô lấy tờ giấy cầm đồ từ cuốn “Nhập môn khảo cổ học” bỏ vào phong bì, và có lẽ tôi không nhầm khi nghĩ rằng bà Hurz quí hoá giờ đây đã sum họp với hôn phu trong tủ kính ở Erlangen, và chắc chắn Wolfgang đã tìm được một người vợ xứng đáng.


Về phần tôi, những năm sau đó thật lạ lùng: Tôi cùng Julius và Dianna về Đức. Cả hai đều nghèo nên xem tôi như bảo vật. Họ dùng tôi để uống nước, thứ nước ngọt thường có ở giếng ga xe lửa. Chúng tôi không đi Erlangen hay Francfort mà đi Hambourg, nơi Julius nhận được việc làm ở một ngân hàng.


Dianna đẹp hơn trước, Julius thì xanh xao, còn tôi lại được đoàn tụ với mẹ và em. May thay, bây giờ họ đã hạnh phúc hơn trước. Ban tối, khi chúng tôi ở cạnh nhau trên lò nấu ăn, mẹ tôi thường nói:


- Tạm được, ít ra cũng là bơ thực vật…


Và em tôi giờ có hơi kiêu hãnh vì được dùng để đựng xúc xích. Nhưng người anh họ tôi, cái ly đựng trứng, còn đạt tới địa vị ít khi một cái ly đựng trứng có được: Anh ta được dùng làm bình hoa. Anh ta đựng cúc đầu xuân, khuy vàng, những hoa cúc nhỏ tí, và khi Dianna và Julius ăn trứng, họ để hoa lên mép dĩa để tách.


Julius giờ trầm tĩnh hơn, Dianan trở thành bà mẹ – chiến tranh xảy ra, và tôi thường  nghĩ tới bà Hurz, chắc bà lại nằm trong tủ sắt ngân hàng, và dù bị bà xúc phạm, tôi vẫn mong bà được sum họp với chồng trong tủ sắt ấy. Thời gian chiến tranh, tôi sống chung với Dianna và đứa con đầu tên Walter ở Đồng Lunebourg, và tôi thường có dịp nhìn khuôn mặt suy tư của Julius khi anh về nghỉ phép và quậy cà phê trong tôi thật lâu. Khi thấy Julius hành động như vậy, Dianna hay hốt hoảng thốt lên:


- Anh sao thế? Anh quậy cà phê cả tiếng đồng hồ rồi.


Không hiểu sao cả Dianna lẫn Julius đều như không còn nhớ tôi đã ở với họ bao lâu nữa: họ để tôi lạnh cóng ngoài này, giờ lại bị một con mèo đen đe dọa tính mạng – trong khi Walter đòi đem tôi vào. Walter thương tôi, nó đặt tên cho tôi là “Nốc như người Nga”. Chẳng những là cơ sở thổi bọt xà phòng, máng thú vật, bồn tắm cho những búp bê nhỏ xíu của nó, tôi còn được dùng để pha màu, quậy keo…Và tôi biết chắc nó sẽ thử chở tôi bằng chiếc xe lửa nó mới được tặng.


Tôi nghe Walter khóc dữ mà lo ngại, vì tôi muốn gia đình hòa thuận tối hôm nay, đồng thời tôi cũng buồn lòng khi hiểu con người mau già như thế nào: vậy ra Julius không còn biết cái tách không quai có thể đáng trọng và quí hơn chiếc xe lửa mới tinh hay sao? Anh ta đã quên điều ấy: anh ta cứ một mực từ chối, không chịu đem tôi vào cho Walter. Tôi nghe anh ta mắng, không chỉ Walter khóc mà cả Dianna cũng thế, và việc Dianna khóc làm tôi đau lòng: tôi thương Dianna. Dù chính cô là người làm gãy quai của tôi; khi dọn nhà từ Đồng Lunebourg về Hambourg, cô gói tôi lại nhưng không đệm đủ nên tôi phải mất quai, vậy mà tôi vẫn được quí. Hồi đó, cả cái tách không quai cũng quí. Lạ thay, khi lại có tách để mua, chính Julius muốn ném tôi đi nhưng Dianna bảo:


- Julius, anh muốn em ném bỏ cái tách thật sao – cái tách đó à?


Julius đỏ mặt, nói:


- Xin lỗi em!


Và nhờ vậy, tôi còn sống, trải qua bao năm cay đắng làm lọ đựng xà phòng cạo râu, mà bọn tách chúng tôi ghét làm lọ đựng xà phòng lắm.


Sau một thời gian dài, tôi mới lập gia đình lần nữa với một hộp sứ đựng kẹp tóc: vợ thứ hai của tôi tên Gertrud, nàng tốt với tôi, lại khôn ngoan nữa, và chúng tôi sống bên nhau hai năm tròn trên cái kệ kính ở phòng tắm.


Trời đã sụp tối, bên trong, Walter vẫn còn sống, và tôi nghe ai nói vô ơn gì đó – tôi chỉ biết lắc đầu: con người thật rồ dại biết bao! Ngoài này lặng im: trời đổ tuyết – con mèo đã chuồn từ lúc nào, nhưng tôi lại hoảng sợ: cửa sổ mở toang, Julius chụp lấy tôi, và qua đôi tay nắm chặt, tôi cảm thấy anh ta giận dữ như thế nào. Anh ta sẽ đập vỡ tôi chăng?


Phải là cái tách, người ta mới biết kinh sợ trong những khoảnh khắc tưởng mình sắp bị ném vào tường hay xuống sàn nhà. Nhưng cuối cùng, Dianna cứu tôi, lấy tôi ra khỏi tay Julius và lắc đầu nói nhỏ:


- Cái tách này, anh lại muốn…


Đột nhiên Julius cười , bảo:


- Xin lỗi em, anh quá nóng…


Walter đã ngừng khóc từ lâu, Julius ngồi đọc báo bên lò sưởi, và Walter ngồi trên đùi anh ta, xem đá xà phòng tan trong tôi. Nó rút ống hút ra – và giờ đây, cái tách không quai cũ kỹ và đầy vết bẩn đang ở giữa bao đồ chơi mới tinh, lòng tự hào vì đã làm cho mọi người hoà thuận trở lại, mặc dù lẽ ra tôi phải tự trách mình là nguyên nhân của sự xích  mích ấy. Nhưng phải chăng tôi có lỗi khi Walter thích tôi hơn chiếc xe lửa mới?


Tôi chỉ ước một điều là Gertrud còn sống – nàng chết cách đây một năm – để thấy vẻ mặt của Julius: hình như anh ta đã hiểu ra điều gì…


 


Mùi vị bánh mì


            Một luồng không khí chua nồng tỏa lên từ hầm  nhà; anh ta chầm chậm bước xuống những bậc thang nhơn nhớt và quờ quạng vào một khoảng vàng nhạt: Đâu đây có tiếng nước nhỏ giọt, chắc hẳn trần nhà hư hỏng hay ống nước bị thủng; nước hòa lẫn với bụi và gạch vụn khiến cầu thang trơn như đáy bồn cá. Anh ta đi tiếp. Anh sáng hắt ra từ cửa sau, trong bóng mờ phía trái có tấm bảng mang dòng chữ: “phòng chiếu tia X, xin đừng vào”. Anh ta lại gần chỗ sáng vàng dịu, và qua ánh lập lòe, anh nhận ra đó là một cây nến. Tới chút nữa, nhìn vào các buồng tối, anh thấy ngổn ngang những ghế, đi-văng và mấy cái tủ bẹp dí.


            Cửa sổ có ánh sáng mở rộng. Một nữ tu mặc quần áo lam đứng cạnh cây nến lễ; chị đang trộn xà lách trong thau tráng men. Biết bao nhiêu chiếc lá con xanh tẩm sắc trắng, và anh ta nghe tiếng nước xốt lập bập khe khẽ dưới đáy thau. Bàn tay to đỏ hồng của người nữ tu quay vòng những lá xà lách; thỉnh thoảng vài lá rớt ra  ngoài, chị bình thản nhặt bỏ vào thau trở lại. Cạnh chân nến có để một thùng thiếc thoang thoảng mùi súp, mùi nước nóng, múi hành và chất bột súp nào đó.


            Anh ta nói lớn:


- Chào xơ!


Người nữ tu quay lại, gương mặt rộng đỏ hồng có vẻ sợ hãi; chị bảo nhỏ:


- Chúa ơi, anh muốn gì?


Mấy giọt sốt trắng sữa nhỏ xuống từ tay chị, vài lá xà lách tí hon dính trên cánh tay nhỏ nhắn. Chị nói:


- Chúa ơi, anh làm tôi giật mình. Anh có muốn gì không?


- Tôi đói.


Anh ta bảo nhỏ. Nhưng anh không nhìn người nữ tu nữa. Mắt anh ngã về phía trái, rơi vào một cái tủ mà một luồng gió đã giật mất cánh cửa; những mảnh gỗ ván vỡ nát còn sót lại ở bản lề, và sàn tủ phủ đầy vécni khô. Trong tủ có bánh mì, thật nhiều bánh mi. Chúng nằm chồng chéo lên nhau, cả thảy hơn một chục ổ nứt nẻ. Thèm chảy nước miếng, anh ta nuốt xuống ừng ực và nghĩ thầm: Tôi sẽ ăn bánh mì, dù thế nào đi nữa tôi cũng sẽ ăn bánh mì.


Anh nhìn người nữ tu, đôi mắt ngây thơ của chị lộ vẻ thương hại lẫn sợ sệt.


- Đói à? Anh đói phải không?


Chị vừa nói vừa nhìn thau xà lách, thùng súp và chồng bánh mì dò hỏi. Anh ta bảo:


- Bánh lì, xơ làm ơn cho bánh mì.


Người nữ tu tới kệ lấy một ổ bánh và tìm dao trong hộc tủ. Anh ta bảo nhỏ:


- Cám ơn, được rồi xơ, bẻ bánh cũng được…


Nữ tu sĩ kẹp thau xà lách vào hông, lấy thùng súp rồi bước ra ngoài.


Anh ta vội vàng bẻ một miếng bánh. Cằm run rẩy, anh cảm thấy bắp thịt miệng và đôi hàm run giần giật. Rồi anh cắn sâu vào chỗ bẻ lồi lõm và nhai. Anh ăn bánh mì. Bánh cũ, chắc để cũng cả tuần rồi, loại bánh xám khô, mang nhãn hiệu đỏ của một hãng nào đó. Anh cắn sâu hơn, lấy cả cái vỏ nâu nhạt dai như da, hai tay anh nắm thân bánh bẻ thêm miếng nữa; tay phải cho bánh vào miệng, tay trái giữ chặt thân bánh; anh tiếp tục ăn, ngồi xuống rương, và khi bẻ bánh, anh luôn luôn cắn vào chỗ mềm trước tiên, rồi giữa lúc cứ cắn sâu mãi vào, anh cảm thấy bánh chạm quanh miệng mình như niềm âu yếm khô khan.


 


Người cha hùng của Nữ thủy thần Undine


Tôi sẵn sàng tin mọi điều người ta nói về sông Rhin, riêng cái tính vui tươi mùa hạ của nó, tôi không bao giờ tin là có thật; tôi đã tìm kiếm nhưng vô ích; có lẽ vì mắt có tật hay tâm hồn thiếu nhạy cảm nên tôi không thể khám phá ra cái tính vui tươi ấy.


Sông Rhin của tôi tăm tối u buồn, nó mang  nhiều đặc tính của một dòng sông đầy mánh con buôn nên sao tôi có thể tin là nó có gương mặt mùa hè trẻ trung được.


Các mùa xuân, hạ, thu tôi đã đi trên những con tàu trắng, leo lên các ngọn đồi bên sông, đạp xe từ Mayence tới Cologne, từ Rudeshheim tới Deutz, từ Cologne tới Xanthen, còn mùa đông, tôi ở những khách sạn nhỏ bên sông, và sông Rhin của tôi chưa bao giờ là dòng sông mùa hạ.


Tôi biết sông Rhin của tôi từ thuở ấu thơ: dòng sông tăm tối u buồn, lúc nào tôi cũng vừa sợ vừa yêu; nơi tôi sinh cách sông ba phút; chưa biết nói, chỉ mới biết đi thôi, tôi đã chơi bên bờ sông: trên những đường viền cây ngập lá tới đầu gối, chúng tôi lội đi tìm những bong bóng giấy đã nhờ gió đông đưa đi, gió thổi chúng – quá mau đối với chân trẻ con – về hướng tây, nơi có những đường hào quanh các pháo đài cổ xưa.


Mùa thu, trời giông tố, mây đen và gió đắng từ các ống khói tàu lơ lửng trên không; tối lặng gió, sương mù giăng giữa thung lũng sông Rhin, còi báo mù rú lên tiếng trầm trầm, đèn hiệu xanh đỏ trên các đài gác lững lờ trôi như những con tàu ma, và chúng tôi tựa mình trên lan can cầu, nghe tiếng còi hiệu lanh lảnh, bực dọc của những chiếc tàu đi xuồng hạ lưu.


Đông đến: những tảng băng trắng, to như sân banh, phủ lớp tuyết dầy; những ngày trời nóng ấy, dòng Rhin lặng yên; quạ khoang là những hành khách duy nhất để các tảng băng đưa mình theo hướng Hà Lan, chúng đi êm êm trên những chiếc tắc xi khổng lồ và sang trọng dị kỳ.


Suốt nhiều tuần, dòng Rhin cứ lặng yên: chỉ còn những rãnh nước xám, hẹp giữa các tảng băng lớn. Hải âu lượn dưới gầm cầu, băng vỡ thành từng mảnh nhỏ ở chân cầu, rồi tháng hai tháng ba, chúng tôi hồi hộp đến ngừng thở khi đợi tảng băng lớn từ thượng lưu sông Rhin xuống, và người ta không thể tin rằng đây là con sông hai bờ trồng nho, loại nho tốt. Nhiều lớp băng vỡ răng rắc, xô đẩy nhau qua làng mạc, thành phố, giật ngã cây cối, phá hại nhà cửa, rồi trở nên êm đềm hơn, ít nguy hiểm hơn khi đến Cologne. Chắc chắn có hai con sông Rhin: sông trên của người uống rượu vang; còn sông dưới của kẻ uống rượu mạnh, ít được ai biết đến và là con sông tôi ủng hộ. Sông Rhin ấy cho tới ngày nay chưa bao giờ thật sự giải hòa với bờ đông của nó; nơi trước kia lửa tế thần của người Giéc-man tỏa khói giờ là chỗ các nhà máy phun khói, từ Cologne cho tới tận Duisbourg ở miền bắc; những ngọn lửa đỏ, vàng, xanh lục, hậu trường ma quái của những ngành công nghệ lớn, trong khi bờ tây, tả ngạn sông, vẫn còn giống bờ sông của những người chăn thú: bò, liễu, lau sậy và dấu vết những trại mùa đông của người La Mã. Nơi đây, quân La Mã đã đăm đăm nhìn về phía bờ đông không nhân nhượng; họ tế thần Vệ Nữ; thần Rượu, ăn mừng sự ra đời của Agrippia: cô gái vùng Rhin này là con tướng Germannicus, cháu hoàng đế Claudius, là kẻ giết chồng, rồi sau bị Néro con mình giết chết. Máu vùng Rhin trong huyết mạch Néro!


Cô ta sinh ra giữa những trại lính: trại kỵ binh, trại lính thủy, lính bộ. Ở phía tây hồi đó đã có những biệt thự của người đi buôn, công chức hành chính, sĩ quan, đã có những hồ nước nóng, phòng tắm hơi lớn; cái huy hoàng ấy, thời đại mới vẫn chưa bắt kịp, nằm sâu mười mét dưới những cái sân con cái chúng ta chơi, giữa gạch vụn của hàng bao thế kỷ.


Con sông Rhin cổ xưa ấy đã thấy quá nhiều đạo quân : La Mã, Giécman, Hung Nô, Côdắc, những hiệp sĩ cướp bóc(1) – quân chiến thắng cũng như chiến bại – và sứ giả của lịch sử đang diễn tiến, những người đi xa nhất: đám trai trẻ xuất thân từ Wiscosin, Cleveland hay Manille tiếp tục nghề buôn mà lính đánh thuê La Mã đã bắt đầu từ năm số không. Sông Rhin rộng lớn với dòng nước xanh xám ấy đã  thấy quá nhiều thương mại, quá nhiều lịch sử nên sao tôi có thể tin được là nó mang vẻ mặt  mùa hè trẻ trung. Đáng tin hơn, là nỗi u buồn, vẻ tối tăm của nó; cả những thành quách đổ nát của các hiệp sĩ cướp bóc còn tồn tại trên các ngọn đồi  bên sông cũng chẳng phải là di tích của một thời khuyết ngôi tốt lành nào cả. Nơi đây, vào năm số không đồ trang sức giả của La Mã đã được đổi lấy phẩm giá phụ nữ Giécman, và năm 1947, kính quang học của hãng Zeiss được đổi lấy cà phê và thuốc lá, những cây nhang trắng nhỏ của thế giới phù du. Ngay cả họ Nibelungen(1), những kẻ sống trên đất trồng nho ấy, cũng không tốt lành cho lắm, máu là tiền của họ, với một mặt trung thành, còn mặt kia là lòng phản bội.


Sông Rhin của người uống rượu vang chấm dứt ở khoảng thành phố Bonn, rồi qua một đoạn cách ly cho tới Clogne; nơi đây bắt đầu con sông của kẻ uống rượu mạnh, đối với nhiều người tuồng như điều đó có nghĩa là sông Rhin tận cùng nơi đây. Sông Rhin của tôi bắt đầu nơi đây, nó trở nên lặng lẽ u buồn, nhưng không bao giờ quên những gì đã trải qua và trông thấy ở phía trên, càng tới gần cửa sông, nó càng nghiêm  hơn, cho tới khi mất đi ở biển Bắc, nơi nước sông hòa lẫn với nước đại dương rộng lớn; dòng Rhin với những tranh Đức Mẹ dịu hiền của miền trung du chảy tới quê Rembrandt(1), để rồi mất hút trong sương mù biển Bắc.


Sông Rhin của tôi là con sông của mùa đông, của quạ khoang đi trên những tảng băng trôi về hướng tây bắc đến Hà Lan, sông Rhin của Brueghel-Rhein(2), họa sĩ chuộng các sắc xanh xám, đen trắng, xám đậm, xám nhạt, và mặt tiền nâu nâu của những ngôi nhà chỉ loè loẹt trở lại lúc gần hè; sông Rhin êm đềm nhưng vẫn còn đủ nguyên thủy để không cho những kẻ thờ thần Thương Mại đến gần ít nhất vài tuần trong năm và tự làm chủ lấy mình, chỉ dành lòng sông cho chim, cá và băng đá. Và tôi vẫn luôn sợ sông Rhin có thể hung dữ vào mùa xuân, tôi sợ nó khi thấy đồ gia dụng trôi trên sông, thú vật chết đuối, cây cối bật rễ; khi cây trên bờ có dán tấm áp phích đề chữ báo động màu đỏ và nước bùn dâng lên đục ngầu; khi dây xích buộc những nhà bè to lớn tưởng chừng như sắp đứt. Tôi sợ sông Rhin thì thầm những gì rờn rợn hoặc êm dịu vào giấc mơ tuổi thơ, vị thần tăm tối tỏ ý muốn tiếp tục đòi vật tế lễ: ngoại đạo, nguyên thủy không chút êm thắm, sông to rộng như biển cả, tràn vào các căn nhà, dâng nước xanh xanh ngập các hầm nhà, trào ra kinh đào, cống rãnh, gầm thét dưới các vòm cầu: người cha hùng của nữ thủy thần Undine(1).


(còn tiếp)


Nguồn: Đêm thánh vô cùng. Truyện của Heinrich Böll. Phạm Hải Hồ dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Lương Văn Hồng và Triệu Xuân chủ biên. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 








(1)  Johann Joachim Winckelmann sinh năm 1717 ở Stendal (Đức) là người đã cải cách khoa khảo cổ học; năm 1768, ông bị giết ở Triest (Ý).




(1)  Hiệp sĩ sống bằng sự cướp bóc, ở châu Âu vào cuối thời trung cổ (giữa thế kỷ 13 tới đầu thề kỷ 16).




(1)  Theo huyền sử Đức, Nibelungen là danh hiệu của dòng họ lùn chủ nhân một kho tàng ấy thuộc về dòng họ Bourgoge của vua Gunther.




(1)  Rembrandt (1606-1669) tên thật là R. Harmensz van Rijn, họa sĩ và nhà khắc đồng người Hà Lan. Ông để lại hậu thế chừng 700 bức họa, 300 bản khắc đồng và 1800 phác họa.




(2)  Có lẽ ông thuộc gia đình họa sĩ Hà Lan Brueghel.




(1)  Undine có hình người, nhưng chỉ có được linh hồn bất tử khi lấy người trần thế làm chồng.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »