tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950178
Lý luận phê bình văn học
11.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (10)

Mối quan hệ của ý niệm này với từng nghệ thuật xét ở trong tính cụ thể của nó, là như sau: Nghệ thuật biểu hiện thành sự tồn tại hiện thực của các hình thức nghệ thuật. Nghệ thuật tượng trưng đạt đến trình độ phổ biến nhất phù hợp với hiện thực ở kiến trúc. Ở đây nghệ thuật tượng trưng thống trị phù hợp với tính toàn vẹn của khái niệm của mình và chưa bị hạ thấp xuống trình độ một bộ phận tạo thành mang tính chất vô cơ của một nghệ thuật khác. Trái lại điêu khắc là hiện thực biểu hiện hiển nhiên nhất đối với hình thức nghệ thuật cổ điển. Điêu khắc chỉ chấp nhận kiến trúc làm thành cái khung chứ không thể phát triển hội họa và âm nhạc với tính cách những hình thức tuyệt đối của nội dung của mình. Cuối cùng hình thức nghệ thuật lãng mạn bao gồm những biểu hiện của hội họa và âm nhạc ở trong tính độc lập và tuyệt đối, cũng như ở bao gồm biểu hiện thơ. Nhưng thơ là tương ứng với mọi hình thức của cái đẹp và phổ biến cho mọi hình thức của nó bởi vì yếu tố thực sự của thơ là hư cấu nghệ thuật, mà hư cấu là cần thiết cho mọi sáng tác nghệ thuật bất kể hình thức gì.


Như vậy, tất cả những gì biểu hiện ở từng tác phẩm nghệ thuật của từng nghệ thuật cá biệt, theo khái niệm của nó chẳng qua chỉ là những hình thức phổ biến của khái niệm cái đẹp trong sự phát triển. Ngôi điện thờ nghệ thuật rộng lớn được dựng lên đóng vai sự thể hiện ra ngoài của ý niệm này. Nhà kiến trúc sư của nó là người xây dựng ra nó là tinh thần cái đẹp tự sáng tạo ra mình. Điện thờ này sẽ chỉ hoàn thành trong quá trình làm việc kéo dài hàng nghìn năm của lịch sử toàn nhân loại.




_________________________


Christian Von Wolff (1679-1754), nhà triết học Đức thuộc phát triển tâm lý, học trò của ông bà Alexander Gottlier Bâumgrten, năm 1750 xuất bản quyền “Mỹ học”, lần đầu tiên dùng danh từ Asthetik.


Từ Hy Lạp: Kallos nghĩa là đẹp.


Những lời Hêghen gọi là “cái tuyệt đối”, “cái tự do”, “cái vô tận”, “tồn tại cho nó” thực ra đều là một cả. Các danh từ này đều chỉ cái chính thể độc lập tự nó, không bị các quan hệ sự khác nhau hạn chế chỉ có đối tượng nào được xem là một chính thể độc lập tự nó, tức là một thể thống nhất giữa ý niệm với hiện thực thì mới là “tuyệt đối”, “vô hạn”, “tự do”, “tồn tại cho nó”, và mới là “đẹp”.


Theo Hêghen, Schein là cái biểu hiện ra ngoài của tồn tại (Sein). Tiếng Pháp là apparence, Chu Quang Tiềm dịch là “ngoại hiện” là đắt và rất Hêghen.


Nghệ thuật sáng tác ra tác phẩm nghệ thuật (đối tượng của mình) bằng cách khoác cho ý niệm (một cái dường như thuộc thế giới bên kia) một tồn tại cảm quan (thuộc thế giới bên này, thê giới hữu hạn). Làm như vậy theo Hêghen là “phủ định” thế giới hữu hạn để tạo ra một thế giới hữu hạn khác (phủ định của phủ định). Ở đây nói “tự do của nhận thức tư duy”, “tự giải phóng mình khỏi quyền lực của thế giới bên này”, “chứa cái vết thương” v.v… là theo nghĩa như vậy.


Ở đây chúng tôi không viết hoa chữ tuyệt đối như câu các bản dịch tiếng Anh, Pháp vì sợ lẫn với Thượng đế. Ở đây Hêghen dùng nó với nghĩa một phạm trù của lý tính thực tiễn mà Căng đã xác lập.


Entausserung: tức là thành một thể khác tinh thần, ở đây là thành tác phẩm nghệ thuật có tồn tại cảm quan. Trong chính trị thường dịch là “tha hóa”.


Hai câu trong “Nghệ thuật thi ca” của Horaxơ:


“Chỉ người nào phối hợp được cái thú vị với cái hữu ích, thì mới làm mọi người tán thưởng.


Kẻ đọc ông ta vừa được giáo dục vừa khoái trá.”


Henry Home (1696-1792) là nhà tâm lý học Xcôtlân, tác phẩm  “Những cơ sở của phê bình”xuất bản năm 1862. Charles Watteau (1713-1780) là nhà phê bình Pháp đã viết “Nguyên lý văn học”, Karl Wilhelm Ramler (1725-1798) là nhà thơ Đức.


Hans Heinrich Meyer (1760-1832), nhà nghiên cứu nghệ thuật Thụy Sĩ, bạn của Căng, tác phẩm của ông xuất bản năm 1824. Hirt (1759-1839), nhà văn Đức nghiên cứu nghệ thuật cổ đại.


Menges (1728-1749), họa sĩ Đức nổi tiếng; Winkelmann (1717-1768) nhà học giả nghiên cứu nghệ thuật Hy Lạp có ảnh hưởng rất lớn đối với nghệ thuật Đức.


Das Bedeutende là “cái có dụng ý”, “cái nêu lên, cái nói lên cái gì”, gần như chữ “hàm súc”, tiếc là “hàm súc” không phải là danh từ.


Chữ “nói lên” dùng theo nghĩa “caractériser” – nêu lên cái gì là tiêu biểu (caractéristique).


Theo Hêghen, khái niệm (Begriff – Concept) là tính phổ biến về bản chất của sự vật, nhưng phiến diện trừu tượng chủ quan.khi tíh phổ biến hợp nhất với tính đặc thù, bản chất thống nhất với hiện tượng thành một tồn tại khách quan, lúc đó khái niệm mới biến thành ý niệm (Idée). Còn ý niệm của Hêghenvừa là sự giải thích chủ quan lại vừa là tồn tại khách quan. Trái lại với ý niệm của Platông là trừu tượng, khách quan, đối lập với hiện tượng, ý niệm của Hêghen là cụ thể, tức là sự thống nhất củáy niệm và hiện tượng.


“Cái tồn tại vì mình” tức là “sự phản ánh của thế giới khách quan vào ý thức”, tức là “tư tưởng”. Nói nôm na nghệ sĩ thể hiện tư tưởng ra ngoài.


Mose Mendelshn (1729-1786), nhà triết học Do Thái Đức.


Chúng tôi dịch “(của) chủ thể”, “(của) khách thể” chứ không dịch là “khách quan” và “chủ quan” vì nghĩa triết học của subjectif và cbjectif là thuộc chủ thể đang nhận thức hay các đối tượng được nhận thức.


Thị hiếu ở đây là đồng nghĩa với “năng khiếu thưởng thức”.


Trong nguyên bản dùng chữ cái Hy Lạp, ở đây đổi thành chữ cái La Tinhcó ngoặc đơn, thí dụ alpha thành (a).


“Mặt tồn tại tự nhiên” của điêu khắc chẳng hạn, là đá.


James Bruce (1730-1794), nhà thám hiểm Anh, tác giả quyển “Du ký tìm nguồn sông Nin”.


Zeuxis, nhà họa sĩ Hy Lạp trứ danh thế kỷ thứ tư trước Công nguyên. Buttner (1716-1801), nhà côn trùng học Đức; Rosel, nhà côn trung học Đức sáng tác “Những lạc thú của côn trùng” có những bức vẽ nổi tiếng.


Marie Madeleine là một kỹ nứ ở trong Kinh Thánh, sau này hối cải trở thành một tín đồ của Giêsu.


Interesse ở đây Căng chỉ “vụ lợi” không phải hứng thú.


Mỉa mai (Ironie) là một từ phái lãng mạn Đức dùng nó không chỉ sự châm biếm nói chung mà chỉ cái tình cảm tự do đừa bỡn của nghệ sĩ  đối với hiện thực.


August Wilhehn V. Schlegel (1767-1845) và em là Friedrich V. Schlegel(1772-1829), hai nhà văn học sử và lý luận văn học nổi tiếng của Đức.


Holberg (1684-1754), nhà thơ nhà hài kịch Đan Mạch.


Johann Gottlieb Fichte (1796-1879), nhà triết học duy tâm Đức, học trò Căng.


Cato (294-149 trước Công nguyên), chính trị gia La Mã, nổi tiếng trong việc kiên quyết tiêu diệt Cáctago.


Karl W.F.Solger (1780-1819) nhà triết học Đức người đề xướng thuyết châm biếm.


Ludwig Tieck: một đại biểu của phái lãng mạn Đức, nhà tiếte thuyết và nhà lý luận văn học.


“Lý tưởng” của Hêghen không phải là lý tưởng nói chung mà là một thuật ngữ để chỉ cái ý niệm cụ thể biểu hiện trong một hình tượng cụ thể thích hợp với nó. Nói khác đi “lý tưởng” tức là tác phẩm nghệ thuật chân chính. Để khỏi lẫn lộn chúng tôi để nó trong ngoặc kép.


Grotesque.


“Khái niệm tối sơ” đây chỉ là Thượng đế, đối lập với “khái niệm chủ thể” để chỉ nghệ sĩ.


Hêghen dùng chữ “luân hồi” theo nghĩa tinh thần chuyển từ vật thấp sang vật cao, nó gần với khái niệm nhân hình hóa chứ không phải là luân hồi theo Phật giáo, ở đấy có hiện tượng người thành súc vật.


Theo Hêghen thượng đế hay thần đó là tinh thần tuyệt đối hoặc lý tưởng tuyệt đối, là một phạm trù tiết học. Nó khác xa khái niệm thần linh và Thượng đế của tôn giáo.


_____________________________




 


 


 


Phần thứ nhất


Ý NIỆM CÁI ĐẸP


TRONG NGHỆ THUẬT HAY LÝ TƯỞNG


 


LỜI MỞ ĐẦU


Khi chuyển từ phần dẫn luận sang nghiên cứu khoa học đối tượng của chúng ta, cần phải nêu lên ngắn gọn địa vị của lĩh vực dành cho hiện thực của cái đẹp nghệ thuật cũng như quan hệ giữa mỹ học và các bộ môn triết học khác. Điều này là cần thiết để xác lập điểm mà một khoa học chân chính về cái đẹp phải xuất phát.


Ở đây, dường như người ta cảm thấy ngay từ đầu nên trình bày những cố gắng khác nhau để dùng tư duy đạt đến cái đẹp, để phân tích chúng và phê phán chúng. Song chúng ta phải làm điều đó trong một phần trong Dẫn luận, ngoài phải nói rằng việc chỉ lo điểm qua những gì những người khác đã thực hiện kém hay tốt, hay việc chỉ nói theo các tiền bối không phải là một công việc nghiên cứu khoa học thực sự. Trái lại, trước khi bắt tay vào việc nghiên cứu đối tượng của chúng ta, một lần nữa phải đề cập tới cái ý kiến phổ biến, cho rằng cái đẹp chính vì nó là cái đẹp nên là một đối tượng mà tư duy không thể nào lý giải được. Ở đây chúng tôi cần phải bác lại vắn tắt quan niệm này mặc dầu ở thời đại chúng ta người ta vẫn cho mọi cái gì chân thực đều không lý giải được, cái lý giải được chỉ là những hiện tượng hữu hạn, và những điều ngẫu nhiên có tính thời gian. Kỳ thực thì trái ngược hẳn, chỉ có cái chân thực thì mới lý giải được, bởi vì cơ sở của chân thực là khái niệm tuyệt đối, hay nói chính xác hơn, là ý niệm. Còn cái đẹp chẳng qua là một phương thức nhất định để biểu hiện và miêu tả cái chân thực, cho nên có thể dùng tư duy mà hiểu được cái đẹp về tất cả mọi mặt, miễn là tư duy được võ trang thực sự bằng vũ khí mạnh mẽ của khái niệm.


Kể ra, ở thời đại ta, trong số các khái niệm thì khái niệm bị hiểu lầm nhiều nhất là khái niệm theo nghĩa đen của từ này: khái niệm “tự nó và cho nó”. Sở dĩ thế là vì người ta dùng danh từ khái niệm để chỉ một đặc trưng trừu tượng nào đấy hay tính chất phiến diện của biểu tượng, hay của tư duy duy lý. Cố nhiên, làm thế sẽ không nêu bật trước cái nhìn trí tuệ của chúng ta về tính toàn vẹn của chân lý, cũng như sẽ không nêu được cái đẹp cụ thể xét ở bản chất. Bởi vì cái đẹp, như chúng tôi đã nói và sau này sẽ chứng minh cặn kẽ hơn, không phải là một khái niệm tuyệt đối, cụ thể ở bản thân mình, hay là, nói cụ thể hơn, cái đẹp là khái niệm tuyệt đối ở trong cái biểu hiện phù hợp với mình.


Nếu như chúng ta muốn giải thích vắn tắt ý niệm tuyệt đối ở trong tính hiện thực chân thực của mình là gì thì chúng ta phải nói rằng cái đẹp là tinh thần: nhưng đây không phải là một tinh thần trong trạng thái hữu hạn và bị giới hạn mà là một tinh thần phổ biến, vô hạn và tuyệt đối tự quy định mình xem cái gì thực sự là cái chân thực. Nếu như chúng ta khảo sát vấn đề tinh thần chỉ theo nhận thức hàng ngày của ta, thì chúng ta bất giác tưởng dường như tinh thần là đố lập lại tự nhiên và chúng ta sẽ cấp cho tự nhiên một giá trị ngang với tinh thần. Nhưng khi đối chiếu và tìm thấy quan hệ giữa tựh nhiên với tinh thần như vậy được xem như hai lĩnh vực đều chủ yếu như nhau thì tinh thần sẽ chỉ được khảo sát ở trong tính hữu hạn và chật hẹp của mình chứ không phải là ở trong tính vô hạn và ở trong tính chân thực của mình. Tuy nhiên không đối lập lại tinh thần tuyệt đối như một vật có giá trị ngang với tinh thần,hay như là giới hạn của tinh thần, địa vị của tự nhiên là do tinh thần quyết định, và vì thế mà tự nhiên trở thành không có sức mạnh, không có giới hạn và không có ranh giới. Đồng thời, chỉ nên hình dung tinh thần tuyệt đối là một hoạt động tuyệt đối, và do đó là sự sai biệt hóa tuyệt đối ở trong bản thân mình. Đó là một đièu khác, vì nó là đại biểu các sản phẩm khu biệt tinh thần với bản thân tinh thần tức là tự nhiên, và tinh thần ở trong trạng thái hạnh phúc của mình cấp cho sự tồn tại khác này của mình toàn bộ tính toàn vẹn của một tồn tại đặc biệt.


Vì vậy chúng ta cần phải hiểu rằng tự nhiên chứa đựng ở mình ý niệm tuyệt đối, song tự nhiên là ý niệm dưới hình thức một tồn tại khác của tinh thần được cái tinh thần tuyệt đối nêu ra; chính vì vậy mà chúng ta gọi tự nhiên là một vật được sáng tạo ra. Tính chân thực của tự nhiên là ở bản thân cái yếu tố tạo ra nó: đó là tinh thần ở trong tính lý tưởng và tính phủ định của mình.


Mặc dầu tinh thần tự phân hóa và tự phủ định mình, nhưng đồng thời tinh thần lại gạt bỏ được cái tình trạng phân hóa và phủ định này xem như một cái do tinh thần tạo ra. Tinh thần không tìm thấy giới hạn, ranh giới ở đấy; trái lại dung hợp nó với sự tồn tại khác của mình ở trong tính phổ biến tự do với chính mình.


Tính lý tưởng và tính phủ định vô hạn này làm thành khái niệm sâu sắc về tính chủ thể của tinh thần. Nhưng với tính cách tính chất chủ thể, lúc đầu tinh thần chỉ là cái chân thực của tự nhiên ở chính mình mà thôi, bởi vì tinh thần chưa làm cho khái niệm chân thực của mình thành một hiện thực đối với chính mình. Tự nhiên vẫn còn đối lập lại tinh thần, không phải như là một cái khácdo tinh thần thiết lập nên, ở đấy tinh thần quay trở lại bản thân làm thành một thể duy nhất. Trái lại, tự nhiên làm thành một tồn tại mơ hồ, hạn chế tinh thần và tinh thần lại gắn liền với nó tự nhiên như một khách thể nó đã tìm thấy từ trước, tinh thần đóng vai một chủ thể biết nhận thức và đòi hỏi, thành ra ở đây tinh thần chỉ làm thành một mặt khác bổ sung cho tự nhiên.


Trong lĩnh vực này xảy ra tính hữu hạn của tinh thần cả như về lý thuyết cũng như về thực tiễn, tình trạng hạn chế của nhận thức và nhiệm vụ đơn thuần lo thực hiện cái thiện. Và ở đây, cũng như trong tự nhiên, hiện tượng không phù hợp với cái bản chất chân thực của mình. Trước mắt ta nảy sinh một cảnh tượng làm ta rối trí gồm những thói quen, những dục vọng, những quan điểm và những tài năng cứ tìm kiếm nhau và lẫn tránh nhau, khi thì phối hợp với nhau, khi thò cản trở nhau, cũng như đan chéo vào nhau; cái ngẫu nhiên đóng vai những trường hợp hết sức đa dạng trong những mong muốn và những cố gắng, những ý kiến và những tư tưởng hoặc giúp đỡ hoặc cản trở chúng. Đó là tình trạng của một tâm hồn bị hạn chế, bị bó hẹp vào thời gian, mâu thuẫn với mình và vì vậy mà cảm thấy mong manh không thoả mãn và bất hạnh. Do tính chất hữu hạn của chúng cho nên sự thỏa mãn mà chúng có được bao giờ cũng chật hẹp, thảm hại, tương đối và rời rạc. Ý thức, sự suy nghĩ,ý chí và tư duy, đều vượt lên khỏi lĩnh vực này và tìm thấy tính phổ biến chân thực, sự thống nhất và sự thỏa mãn ở một lĩnh vực khác: trong cái vô hạn và cái chân thực. Sự thống nhất và thỏa mãn này mà tính nguyên lý của vận động tinh thần đã thực hiện bằng cách giải phóng vật chất khỏi tình trạng hữu hạn, đó là sự phát hiện chân chính là cho biết theo quan niệm của tinh thần thế giới các hiện tượng là cái gì. Tinh thần nhận thức cái hữu hạn với tính cách sự phủ định của mình, và nhờ vậy mà đạt được tính vô hạn, tính chân thực này của cái tinh thần hữu hạn, đó là tinh thần tuyệt đối.


Nhưng tinh thần chỉ trở thành hiện thực với tính cách một phủ định tuyệt đối. Nó giả thiết tính hữu hạn ở trong bản thân và “vượt bỏ”(1) tính hữu hạn này. Bằng cách làm thế tinh thần sẽ biến thành đối tượng của nhận thức và ý chí của mình. Bản thân cái tuyệt đối trở thành đối tượng của tinh thần bởi vì tinh thần đã vươn lên tới trình độ nhận thức và phân biệt được mình ở trong bản thân mình với tính cách kẻ hiểu biết và đối lập đối tượng của hiểu biết với kẻ hiểu biết này. Xét theo quan điểm trước đây là quan điểm cho rằng tinh thần là hữu hạn, tinh thần này hiểu biết cái tuyệt đối với tính cách, một đối tượng vô hạn đối lập với nó cho nên tự định nghĩa mình là một tinh thần hữu hạn khác cái vô hạn đã nói trên đây. Nhưng nếu khảo sát cao hơn theo quan điểm tư biện, ta có thể nói rằng bản thân tinh thần tuyệt đối để có thể trở thành một hiểu biết của bản thân đối với bản thân nên đã tự phân hóa, và do đó, giả thiết tính hữu hạn của tinh thần. Ở trong tính hữu hạn này, tinh thần trở thành đối tượng của hiểu biết tuyệt đối, khách quan đối với chính mình. Như vậy nó là tinh thần tuyệt đối ở trong cái thể cộng đồng của nó(2), là yếu tố tuyệt đối thực sự tồn tại với tính cách tinh thần và sự tự nhận thức.


Quan điểm xuất phát của chúng tôi ở trong lịch sử triết học phải là như vậy. Bởi vì cái đẹp nghệ thuật không phải là một ý niệm lô-gích, không phải là tư tưởng tuyệt đối, tự phát triển ở trong yếu tố thuần túy của tư duy. Ngược lại, nó cũng không phải là một ý niệm tự nhiên, mà thuộc lĩnh vực tinh thần, đồng thời không phải vì vậy mà dừng lại ở nhận thức và ở những hành động của tinh thần hữu hạn. Vương quốc của sáng tác nghệ thuật đó là vương quốc của tinh thần tuyệt đối. Ở đây, chúng tôi chỉ có thể nhắc đến điều đó, nhiệm vụ chứng minh lập luận này một cách khoa học là nhiệm vụ của những ngành triết học đã nói ở trên, nhiệm vụ của lô-gích có nội dung khảo sát và ý niệm tuyệt đối với tính cách ý niệm, nhiệm vụ của triết học của tự nhiên cũng như của triết học và các lĩnh vực hữu hạn của tinh thần. Trong các khoa học này, cần phải chứng mình xem cách ý niệm lô-gích với khái niệm riêng của mình chuyển sang sự tồn tại tự nhiên như thế nào, sau đó được giải phóng như thế nào khỏi sự tồn tại tự nhiên bên ngoài mà chuyển thành tinh thần, rồi sau đó còn được giải phóng khỏi tính chất hữu hạn của tinh thần để quay trở về tinh thần ở trong tính vĩnh viễn và tính chân thực của nó.


Theo quan điểm này – và cũng chỉ theo một quan điểm cho nghệ thuật xét ở giá trị chân thực cao nhất của mình – ta sẽ lập tức thấy rõ ràng nghệ thuật là ở cùng một lĩnh vực với triết học và tôn giáo. Ở trong tất cả các lĩnh vực của tinh thần tuyệt đối, tinh thần đều được giải phóng khỏi các giới hạn chật hẹp của sự tồn tại bên ngoài của mình. Tinh thần tuyệt đối rời khỏi các điều kiện tồn tại trần thế ngẫu nhiên và rời khỏi cái nội dung hữu hạn của các mục đích và các hứng thú của mình đê bước sang khảo sát và thực hiện sự tồn tại tự mình và vì mình.


 


Địa vị của nghệ thuật so với cái hiện thực hữu hạn.


 


Muốn là cho những điều đã nói trên dễ hiểu hơn, chúng ta có thể giải thích một trường hợp cụ thể mà nghệ thuật khảo sát trong tất cả các lĩnh vực của đời sống tự nhiên và tinh thần.


Nếu chúng ta điểm qua toàn bộ nội dung của sự tồn tại của con người chúng ta, chúng ta sẽ tìm thấy ở trong ý thức hàng ngày những hứng thú vô cùng đa dạng, cũng như rất nhiều cách thỏa mãn các hứng thú ấy. Chúng ta tìm thấy một hệ thống rộng lớn những đòi hỏi vật lý, và cả một cái lưới to lớn và chằng chịt những xí nghiệp công nghiệp, những ngành thương mại, những ngành đóng tàu và các nghệ thuật kỹ thuật đều làm việc để phục vụ nó. Cao hơn cái hệ thống những đòi hỏi này, chúng ta tìm thấy những quyền lợi, những pháp luật, những sinh hoạt gia đình, sự phân chia đẳng cấp tất cả lĩnh vực rộng lớn của nhà nước. Sau đó, đến nhu cầu tôn giáo mà chúng ta bắt gặp ở mỗi tâm hồn và được thỏa mãn ở trong đời sống nhà thờ. Cuối cùng, chúng ta tìm thấy một sự chuyên môn hóa vô hạn và một hoạt động phức tạp diễn ra trong khoa học, toàn bộ các hiểu biết và các nhận thức bao quát mọi cái gì tồn tại. Trong phạm vi tạo nên bởi tất cả hoạt động nghệ thuật của con người, hứng thú đối với cái đẹp và sự thỏa mãn tinh thần mà các hình tượng của nó đưa đến.


Một vấn đề đặt ra: tìm hiểu sự tất yếu bên trong của một đòi hỏi như vậy gắn liền với các lĩnh vực còn lại của đời sống và của thế giới. Lúc đầu, chúng ta chỉ nhận thấy rằng các lĩnh vực này tồn tại. Nhưng khoa học yêu cầu chúng ta phải thâm nhập vào mối liên hệ bên trong của chúng và mối tương quan tất yếu của chúng. Sở dĩ thế là vì chúng không chỉ gắn liền với nhau do ích lợi, mà còn bổ sung cho nhau, theo cái nghĩa ở trong một lĩnh vực chứa đựng những hình thức hoạt động cao hơn một lĩnh vực khác. Vì vậy, cái lĩnh vực thấp và phụ thuộc cố gắng vượt ra khỏi phạm vi của mình và chỉ sau khi đã có được một sự thỏa mãn sâu sắc hơn về các hứng thú cao hơn của mình thì nó mới đạt được những điều mà trong lĩnh vực trước đây nó không giải quyết được. Chỉ có điều đó mới có thể tạo ra tính tất yếu của các liên hệ bên trong.


Chúng ta hãy nhớ lại những điều chúng ta đã xác lập chắc chắn về khái niệm cái đẹp và về khái niệm nghệ thuật. Chúng ta tìm thấy ở trong khái niệm này một cái gì có hai mặt. Trước hết là nội dung, mục đích, ý nghĩa và thứ hai là biểu hiện, hiện tượng và hiện thực của nội dung này; thứ ba, cả hai mặt này với tính cách những mặt thâm nhập vào nhau, trong đó mặt bên ngoài, mặt đặc thù chỉ đóng vai cách thể hiện mặt bên trong mà thôi. Ở trong một tác phẩm nghệ thuật không có cái gì lại lại không có quan hệ cốt tử với nội dung và không biểu hiện nội dung. Chẳng hạn, cái mà chúng ta có thể gọi là nội dung, ý nghĩa, lại là một điều gì đơn giản ở trong bản thân mình, là bản thân cái đối tượng được qui về những đặc trưng đơn giản nhất mặc dầu bao quát tất cả, do đó mà nó khác sự thể hiện. Chẳng hạn, ta có thể nêu lên nội dung của quyển sách bằng một vài chữ hay một vài câu và trong quyển sách sẽ không có cái gì khác ngoài những điều mà chúng ta đã nêu lên bằng những nét lớn khi trình bày nội dung của nó. Cái chủ thể này làm thành cơ sở của điều thực hiện, là một cái gì trừu tượng và chỉ có việc thực hiện mới làm thành một cái gì cụ thể.


Nhưng cả hai mặt đã nói của sự đối lập này rõ ràng liên quan với nhau, và ở bên ngoài nhau (tương tự chẳng hạn, trong một hình toán học, một hình tam giác, một e-líp, thì cái làm thành nội dung thuần túy của chúng là hoàn toàn bàng quan với sự biểu hiện bên ngoài của chúng là to nhỏ, màu sắc như thế nào). Ý nghĩa trừu tượng với tính cách nội dung đơn thuần chứa đựng ở bản thân mình một đặc trưng làm cho nó được thực hiện và do đó biến thành cụ thể trong sáng tác. Do đó, ở đây về thực chất có một nhiệm vụ nào đó. Dù cho nội dung là quan trọng như thế nào xét ở bản thân mình, chúng ta vẫn không thể hài lòng với hình thức trừu tượng này mà còn đòi hỏi thêm nữa. Lúc đầu, đây chỉ là một yêu cầu chưa được thỏa mãn: chủ thể cảm thấy mình còn thiếu một cái gì nữa và y cố gắng gạt bỏ nhu cầu để đạt đến sự thỏa mãn. Xét theo nghĩa này chúng ta có thể nói rằng lúc đầu nội dung về mặt chủ thể chỉ là một cái gì ở bên trong và cái khách thể là đối lập với nó, thành ra nảy sinh nhu cầu biến cái chủ thể này thành khách thể.


Sự đối lập này giữa hai mặt chủ thể với mặt khách thể đối lập với nó, cũng như sự cần thiết phải gạt bỏ sự đối lập này là một nguyên lý phổ biến quán triệt mọi hiện tượng của đời sống. Ngay đời sống thể xác của ta, và một phần lớn hơn nữa, thế giới của những mục đích và những hứng thú tinh thần cũng đều dựa trên yêu cầu đòi hỏi ta phải thể hiện thành khách thể những cái mà lúc đầu chỉ tồn tại một cách chủ quan ở bên trong, và ta chỉ cảm thấy hài lòng khi tìm thấy sự tồn tại toàn vẹn như thế. Vì nội dung của các hứng thú và của các mục đích lúc đầu chỉ tồn tại trong cái hình thức phiến diện của nhân tố chủ thể, mà tính phiến diện lại là một ranh giới hạn chế sự vật lại, cho nên tình trạng thiếu sót này bộc lộ thành một nỗi băn khoăn, một nỗi đau xót, một cái gì phủ định là cái cần bị thủ tiêu với tính cách nhân tố phủ định, và do đó ta gạt bỏ cái khuyết điểm ở cảm giác, vượt qua cái giới hạn chủ thể biết được, quan niệm được. Không nên quan niệm thiếu sót này theo cái nghĩa là mặt chủ thể chỉ thiếu cái mặt thứ hai là mặt khách thể. Trái lại, phải quan niệm đây là một liên hệ cụ thể hơn, cần nhận thấy rằng khuyết điểm này tồn tại ở ngay bản thân mặt chủ thể đối với bản thân mặt chủ thể, rằng ở đây trong mặt chủ thể cũng có sự phủ định này và sự phủ định ấy lại đòi hỏi được phủ định.


Điều này có nghĩa là, chủ thể theo khái niệm của mình là một toàn thể, tức là chủ thể không chỉ là một cái gì ở bên trong mà còn là sự thể hiện cái bên trong ấy ra ngoài thông qua cái bên ngoài và ở trong cái bên ngoài. Nếu như chủ thể chỉ tồn tại phiến diện trong một hình thức duy nhất mà thôi, thì chủ thể sẽ rơi vào mâu thuẫn, bởi vì theo khái niệm chủ thể là một thể hoàn chỉnh, nhưng về mặt tính chất của sự tồn tại thì chủ thể mới nêu lên một mặt duy nhất mà thôi. Chỉ có “vượt bỏ” được sự phủ định này ở trong bản thân mình thì cuộc sống đầu tiên mới trở thành khẳng định đối với bản thân mình. Sự khắc phục quá trình này làm nảy sinh những mâu thuẫn và những đối lập, và việc giải quyết những mâu thuẩn là điểm cao của bản chất sống động. Cái nào ngay từ đầu chỉ là một cái gì khẳng định và vẫn chỉ là khẳng định mà thôi thì đều vẫn không có sự sống. Sự sống tiến lên phía trước, chuyển sang phủ định cùng với nỗi đau khổ mà sự phủ định mang theo, và chỉ bằng cách thủ tiêu sự đối lập và mâu thuẫn thí sự sống mới có thể trở thành khẳng định đối với bản thân mình. Thực vậy, nếu như sự sống dừng lại ở mâu thuẫn đơn thuần mà không giải quyết được mâu thuẫn thì sự sống sẽ chết vì mâu thuẫn này.


Ở đây chúng ta cần khoả sát những định nghĩa mà chúng ta cần đến trong tính trừu tượng của chúng.


Nội dung cao nhất mà nhân tố chủ thể có khả năng bao quát ở bản thân mình có thể gọi tóm tắt là tự do. Tự do là đặc tính cao nhất của tinh thần. Xét về mặt hình thức của nó thì tự do tóm lại là chủ thể phát hiện rằng cái đối lập với mình không phải là một cái gì xa lạ, không phải là một giới hạn và một ranh giới hạn chế mình mà là chính bản thân chủ thể. Ngay cả xét theo một định nghĩa hình thức như vậy thì tự do dẫn đến chỗ mọi bất hạnh và mọi đau khổ đều biến mất; chủ thể hòa giải với thế giới, cảm thấy mình hài lòng ở trong thế giới và thấy giải quyết được mọi mâu thuẫn, mọi đối lập. Nhưng nếu chúng ta muốn định nghĩa tự do một cách chính xác hơn, thì chúng ta phải nói rằng tự do cũng có một nội dung hợp lý nói chung, chẳng hạn đạo đức ở trong hành động, chân lý ở trong tư tưởng.


Bởi vì bản thân tự do lúc đầu chỉ là của chủ thể chứ không được thực hiện cho nên cái không tự do chỉ là khách thể, đối lập lại chủ thể như cái tất yếu tự nhiên, và lập tức nảy sinh yêu cầu phải điều hòa tình trạng đối lập này. Mặt khác, trong bản thân đời sống bên trong của chủ thể lại có một sự đối lập tương tự. Tự do một mặt giả thiết rằng ở trước mắt chúng ta có một cái gì phổ biến và độc lập ở trong bản thân mình, những pháp luật phổ biến của quyền hạn, của cái thiện và cái chân v.v… mặt khác, những khuynh hướng của con người, những tình cảm, những khuynh hướng, những dục vọng cùng với mọi cái gì nằm ở trong con tim cụ thể của con người với tính cách một tồn tại đơn nhất. Tình trạng đối lập này tăng lên và chuyển thành đấu tranh, thành mâu thuẫn, và trong cuộc tranh giành những mặt đối lập xuất hiện những cố gắng say sưa, những đau khổ sâu sắc nhất, những cảm nghĩ đau đớn và tình trạng không hài lòng. Các động vật sống trong thế giới với nhau và với những sự vật bao quanh nó. Song bản chất tinh thần của con người làm nảy sinh tình trạng phân đôi, chia xẻ và con người quằn quại ở trong cái lưới những mâu thuẫn của mình. Con người không thể sống thường xuyên ở trong nội tâm với tính cách nội tâm, trong tư duy thuần túy, trong thế giới các qui luật với tính cách phổ biến của chúng, bởi vì y còn cần sống một cuộc sống cảm quan bằng tình cảm, con tim, tinh thần nữa v.v. Triết học quan niệm việc xảy ra nhờ sự đối lập này như nó tồn tại và quan niệm nó theo tính phổ biến thâm nhập nó và đi đến những biện pháp để vượt bỏ toàn bộ sự đối lập này, còn ở trong đời sống trực tiếp, thì con người lo vươn tới sự thỏa mãn trực tiếp.


Chúng ta tìm thấy sự thỏa mãn này bằng cách giải quyết các mâu thuẫn đã nói trên, trước hết ở trong hệ thống các nhu cầu cảm quan. Đói, khát, mệt, ăn, uống,lo, ngủ v.v… là những thí dụ của mâu thuẫn này và của cách giải quyết nó. Song ở trong lĩnh vực tự nhiên này của sự tồn tại của con người, nội dung được thỏa mãn mang tính chất hữu hạn và chật hẹp. Sự thỏa mãn không tuyệt đối, mà luôn luôn chuyển thành những đòi hỏi mới: hôm nay an no ngủ say cũng không ăn thua; ngày mai lại đói và mệt mỏi.


Khi bước sang yếu tố tinh thần, chúng ta nhận thấy rằng ở đây con người cố gắng đạt đến sự thỏa mãn và tự do trong hiểu biết và ý chí, trong nhận thức và hành động. Người ngu dốt không được tự do, bởi vì cái thế giới xa lạ đối lập với anh ta, nói là một cái gì cao hơn và ở ngoài anh ta, anh ta lệ thuộc vào đấy, bởi vì anh ta không sáng tạo ra cái thế giới này cho anh ta nên không cảm thấy rằng mình sống trong cái thế giới ấy như ở trong nhà mình. Lòng ham học, ham hiểu biết, kể từ trình độ thấp nhất đến trình độ cao của sự thâm nhập có tính chất triết học, đều là do cái nhu cầu tha thiết muốn ra khỏi tình trạng không tự do như vậy để chiếm hữu thế giới ở trong biểu tượng tư duy. Ở trong thế giới của những hành động, sự cố vươn tới tự do diễn ra theo hướng ngược lại, nó cốt làm sao cho lý tính của ý chí trở thành hiện thực. Lý tính này được thực hiện theo ý chí trong đời sống quốc gia. Ở trong một nhà nước được tổ chức hợp lý thì mọi pháp luật và mọi thể chế chẳng qua là thể hiện tự do theo cái đặc trưng cơ bản của nó. Nếu như trong thực tế là như vậy, thì cái lý tính cá nhân tìm thấy trong các thể chế này sự thực hiện của bản chất mình và trong khi phục tùng các qui luật này, lý tính không phải trùng làm một với cái thế giới riêng của mình. Nhiều khi người ta còn gọi võ đoán là tự do. Song võ đoán chỉ là cái tự do không hợp lý, vì sự lựa chọn và quyết định không phải dựa trên một ý chí hợp lý mà dựa vào những động cơ ngẫu nhiên và lệ thuộc vào những ham thích, vào cảm tình và vào ngoại giới.


Như vậy, những đòi hỏi cơ thể, tri thức và ý chí của con người thực tế được thỏa mãn ở trong thế giới và giải quyết một cách tự do sự xung đột giữa mặt chủ thể và mặt khách thể, giữa tự do nội tâm với tất yếu bên ngoài. Song nội dung của tự do này và của sự thỏa mãn này vẫn bị hạn chế thành ra tự do và tự thỏa mãn đều có tính chất hữu hạn. Nhưng ở nơi nào đó có tính chất hữu hạn thì ở đó lại xuất hiện đối lập, mâu thuẫn, và sự thỏa mãn ở đấy chỉ là tượng đối. Chẳng hạn, trong pháp luật và trong hiện thực của nó, lý tính của tôi, ý chí của tôi và tự do ý chí của nó kể ra, là được thừa nhận, tôi có tài sản, và tài sản ấy cần phải vẫn là của tôi; nếu như nó gặp nguy cơ thì tòa án bênh vực quyền lợi của tôi. Song sự thừa nhận này chỉ liên quan tới những đối tượng và, những mặt cá biệt: cụ thể là tòa nhà này, số tiền này, đạo luật này, quyền lợi này v.v. Hành động cá biệt này và hiện tượng cá biệt này ở trước mắt nó ý thức chỉ có hiện tượng cá biệt mặc dù các hiện tượng này gắn liền với nhau làm thành một toàn bộ, nhưng các quan hệ này chỉ thuộc phạm vi những phạm trù có tính chất hẹp và với điều kiện sự thỏa mãn có thể xuất hiện tức khắc, cũng như có thể hoàn toàn không xuất hiện.


Nếu vươn lên cao hơn, chúng ta sẽ thấy trước mắt mình là đời sống nhà nước với tính cách một chính thể làm thành một thể hoàn chỉnh trọn vẹn ở bản thân mình: nhà vua, chính phủ, tòa án, quân đội, tổ chức đời sống dân sự, sự giao tế giữa người với người v.v… những quyền lợi và những nhiệm vụ, những mục đích và sự thỏa mãn các mục đích, các hình thức và các hình thức hành vi được qui định và các hình thức hoạt động nhờ đó thể hoàn chỉnh này thực hiện và duy trì hoạt động thường xuyên của nó. Ở trong một nhà nước tổ chức thực sự khéo léo, tất cả các cơ thể này là đầy đủ và hoàn mỹ ở bản thân mình. Nhưng bản thân cái nguyên lí  thể hiện nhà nước ở đấy con người tìm thấy sự thỏa mãn, bản thân nguyên lí này dù có biểu lộ đa dạng đến đâu ở trong sự phân chia bên trong và bên ngoài, cũng vẫn là một nguyên lí phiến diện và trừu tượng ở bản thân nó. Ở trong nguyên lí này chỉ biểu lộ trước mắt ta cái tự do hợp lí của ý chí  là cái chỉ trở thành hiện thực ở trong nhà nước mà thôi và chỉ trở thành như vậy trong một nhà nước riêng biệt. Do đó, tự do này lại biểu hiện ở trong một lĩnh vực đặc biệt của tồn tại và ở trong cái hiện thực cá biệt của lĩnh vực này. Con người cảm thấy rằng quyền lợi và nhiệm vụ ở trong lĩnh vực này cùng với cái phương thức tồn tại trần thế và do đó hữu hạn của chúng đều không cho phép hắn được hoàn toàn thỏa mãn, rằng ở trong sự tồn tại khách quan cũng như ở trong quan hệ đối với chủ thể, quyền lợi và nhiệm vụ còn cần được một sự khẳng định tối cao, còn cần một sự phê chuẩn tối cao.


Con người vì bị ràng buộc ở mọi mặt bởi những hiện tượng hữu hạn nên lo tìm những lĩnh vực của cái chân thực bản chất cao nhất, ở đấy dường như y có thể tìm thấy cách giải quyết cuối cùng mọi mâu thuẫn và mọi đối lập của cái hữu hạn, và tự do có thể tìm thấy sự thỏa mãn hoàn toàn. Lĩnh vực của cái chân lý tương đối là như thế đấy. Chân lý cao nhất, chân lý với tính cách chân lý là giải quyết sự đối lập cao nhất. Ở đây nói chung, mâu thuẫn và đối lập giữa tự do và tất yếu, giữa tinh thần và tự nhiên, giữa pháp luật và ham muốn đã mất giá trị và sức mạnh của mình, sự đối lập và mâu thuẫn với tính cách của mình, dù có mang bất kỳ hình thức gì nói chung đều mất sức mạnh của mình. Nhờ đó, ta thấy rằng tự do với tính cách tự do của thân thể xét độc lập tách rời khỏi tất yếu, không phải là một chân lí tuyệt đối, cũng hệt như người ta không thể cấp tính chân thực cho tất yếu xét cô lập ở bản thân nó. Ý thức hàng ngày không thể thoát khỏi thế đối lập này bởi vì, hoặc nó tuyệt vọng không tìm được lối ra, cho nên nó dừng lại ở trong tình trạng mâu thuẫn, hoặc là nó vứt bỏ tình trạng ấy bằng cách sử dụng một biện pháp nàp đó. Nhưng triết học táo bạo đi sâu vào những đặc trưng mâu thuẫn nhau, sẽ nhận ra chúng theo khái niệm của chúng với tính cách những đặc trưng phiến diện và, do đó, không phải là những đặc trưng truyệt đối trong tính phiến diện của mình, đồng thời có thể hòa giải và đưa vào sự hài hòa và một thể thống nhất tức là ở trong chân lí. Nhiệm vụ của triết học lại còn là ở chỗ nhìn chân lí dưới ánh sáng của khái niệm này.


Mặc dầu triết học nhận thức mọi vật dưới ánh sáng của các khái niệm và, do đó, chỉ có triết học là cách tư duy chân chính vì nó lo tìm hiểu sự vật ở trong khái niệm, song khái niệm chân lí tự nó là một chuyện, còn sự tồn tại có phù hợp với chân lí hay không lại là một chuyện khác. Ở trong cái hiện thực hữu hạn, các đặc trưng tương ứng với chân lí được bộc lộ trước mắt chúng ta với tính cách một hiện tượng bị phân chia, mặc dầu nếu xét theo tính chân thực của nó, nó là không thể phân chia. Chẳng hạn một sinh vật là một cá thể, nhưng với tính cách chủ thể, sinh vật lại đối lập với tự nhiên vô cơ bao quanh nó. Khái niệm chứa đựng nó cả hai mặt này với tính cách một sự hòa giải; sự tồn tại tách chúng ra khỏi nhau và, do đó, là một thực tại không phù hợp với khái niệm cũng không phù hợp với chân lí.


Như vậy, khái niệm xuất phát khắp nơi, nhưng vấn đề tóm lại là khái niệm có trở thành hiện thực phù hợp với tính chân thực của nó ở trong một thể cá biệt hay không. Trong thể cá biệt này những mặt đặc thù và những sự đối lập không giữ một tính độc lập thực tế và tính cố định mà chỉ là những thành tố thuộc về ý niệm đã được điều hòa, hợp nhất với nhau một cách tự do. Chỉ có hiện thực thuộc cái thể thống nhất cao hơn này mới là lĩnh vực của chân lí, của tự do và hạnh phúc. Cuộc sống trong lĩnh vực này đó là thưởng thức chân lí, sự thưởng thức này về mặt tình cảm là một diễm phúc và về mặt tư duy là một nhận thức, cho nên chúng ta có thể gọi đó là cuộc sống ở trong tôn giáo. Sở dĩ thế là vì tôn giáo là lĩnh vực phổ biến ở đấy con người nhận thức được cái tổng thể cụ thể duy nhất làm thành bản chất riêng của y, đồng thời lại làm thành bản chất của tự nhiên và đối với y chỉ có cái hiện thực chân chính này mới là cái sức mạnh cao nhất thống trị mọi cái cá biệt và hữu hạn, cái sức mạnh khiến cho tất cả những cái gì trước đây là tan tác và đối lập đều đi đến sự thống nhất tuyệt đối và tối cao.


 


Địa vị của nghệ thuật so với tôn giáo và triết học.


 


Bởi vì nghệ thuật đề cập đến cái chân thực với tính cách một đối tượng tuyệt đối của ý thức, cho nên nghệ thuật cũng thuộc vào lĩnh vực tuyệt đối của tinh thần và về mặt nội dung, nghệ thuật cũng ở trên một cơ sở với tôn giáo theo cái nghĩa chuyên môn của từ này, cũng như với triết học. Bởi vì triết học không có một đối tượng nào khác ngoài Thượng đế và về thực chất triết học là một thần học duy lí, nhưng vì triết học là phục vụ chân lí cho nên nó luôn luôn là thần học.


Nếu ra đồng nhất hóa nội dung của chúng như vậy thì ba vương quốc của tinh thần tuyệt chỉ khác nhau về mặt hình thức ở đấy chúng nhận thức đối tượng của mình là cái tuyệt đối mà thôi.


Sự khác nhau của các hình thức này tóm lại ở bản thân khái niệm tinh thần tuyệt đối. Tinh thần với tính cách tinh thần chân chính, tồn tại tự nó và cho nó và vì vậy tinh thần không phải là một tồn tại trừu tượng ở bên ngoài thế giới các sự vật mà nó ở trong lĩnh vực củ bản thân thế giới khách quan, ở trong cái tinh thần hữu hạn, và làm thành sự tái hiện bản chất mọi sự vật. Đây là một yếu tố hữu hạn, tự nhận thức mình trong bản chất và, do đó, nó là chủ yếu và tuyệt đối. Hình thức thứ nhất của nhận thức này là một nhận thức trực tiếp và do đó cảm tính, sự nhận thức sự vật ở hình thức và ở hình tượng của bản thân yếu tố cảm quan, và khách quan ở đấy cái tuyệt đối trở thành một đối tượng của trực giác và cảm giác. Hình thức thứ hai đólà ý thức biết hình dung sự vật và cuối cùng hình thức thứ ba là tư duy tự do của tinh thần tuyệt đối.


Hình thức trực giác cảm quan là đặc trưng của nghệ thuật. Bởi vì nghệ thuật làm cho người ta nhận thức được chân lí dưới hình thức một hình ảnh cảm quan, là cái có một ý nghĩa và giá trị cao hơn và sâu hơn cái hình ảnh ở trong biểu tượng. Tuy vậy, nghệ thuật không cố gắng thông qua sự thể hiện cảm quan này để đạt đến khái niệm với tính cách khái niệm, cái khái niệm ở trong tính phôe biến, bởi vì chính sự thống nhất của khái niệm này với cái cá biệt làm thành bản chất cái đẹp và sự tái hiện nghệ thuật của nó. Kể ra, sự thống nhất này nảy sinh ở trong nghệ thuật, mà nhất là ở trong thơ, cả trong yếu tố biểu tượng nữa chứ không phải chỉ ở mặt cảm quan, mặt trực quan bên ngoài của khách thể. Song ngay cả trong thơ, ở trong cái nghệ thuật có tính chất tinh thần nhất, cũng vẫn có tính thống nhất của tư tưởng với sự thể hiện cá biệt của nó – mặc dầu sự thống nhất này chỉ là đối với cái ý thức quan niệm được sự vật – và mỗi nội dung được tri giác trở thành đối tượng biểu hiện một cách trực tiếp. Nói chung, cần phải xác định ngay rằng bởi vì nghệ thuật lấy cái chân thực, lấy cái tinh thần làm đối tượng thực sự của nó, cho nên nghệ thuật không thể dùng bản thân các đối tượng cá biệt của tự nhiên chẳng hạn mặt trời, trái đất, ngôi sao v.v. để khiên người ta nhìn thấy được cái chân thực. Các đối tượng như vậy mặc dầu mang tính chất cảm quan nhưng vẫn là những tồn tại cá biệt về mặt cảm quan, và nếu xét ở bản thân chúng thì chúng không thể làm cho chúng ta tri giác được một nội dung tinh thần.


Nếu như chúng ta dành cho nghệ thuật địa vị tuyệt đối này, thì điều này biểu lộ hiển nhiên và không chối cãi rằng chúng ta gạt bỏ cái quan niệm đã nhắc đến trên đây cho rằng nghệ thuật có thể vận dụng nhiều nội dung khác nhau để thể hiện và phục vụ những hứng thú và xa lạ đối với nghệ thuật. Kể ra, tôn giáo cũng thường hay sử dụng nghệ thuật để khiến chúng ta cảm thấy sâu sắc hơn cái chân lí tôn giáo, hay dùng những hình ảnh để làm cho trí tưởng tượng dễ tiếp thu chân lí tôn giáo, nhưng trong tường hợp này nghệ thuật rõ ràng phục vụ một lĩnh vực khác lĩnh vực của mình. Song ở nơi nào nghệ thuật đạt đến trình độ hoàn mỹ cao nhất, thì nó tìm được ở trong tính hình tượng của mình phương thức trình bày chân thực phù hợp và tất yếu nhất đối với nội dung. Chẳng hạn, ở người Hy Lạp cổ đại, nghệ thuật thuật là hình thức cao nhất được nhân dân dùng để biểu hiện các thần và để nhận thức chân lí. Cho nên đối với người Hy Lạp, các nhà thơ và các nghệ sĩ đã trở thành những người sáng tạo các thần linh, nghĩa là các nghệ sĩ đã cấp cho dân tộc một biểu tượng xác định về các sự việc, về cuộc sống và ảnh hưởng của thần linh, do đó đã đem đến một nội dung cụ thể cho tôn giáo. Và ta không nên quan niệm điều này theo nghĩa những biểu tượng và những học thuyết này đã tồn tại từ trước một cách trừu tượng ở trong ý thức với tính cách những luận điểm tôn giáo phổ biến và những suy nghĩ phổ biến và những suy luận nhất định, rồi sau đó các nhà thơ chẳng qua chỉ cấp cho chúng một hình thức đầy hình tượng và khoác cho chúng những sự tô điểm bên ngoài của hư cấu. Tác phẩm nghệ thuật tóm lại chính là ở chỗ các nhà thơ có thể biểu hiện cái nội dung đã lên men ở mình chỉ dưới hình thức này của nghệ thuật và của thơ. Ở những giai đoạn kháccủa ý thức tôn giáo ở đấy tôn giáo tỏ ra không thích hợp như vậy đối với sự thể hiện nghệ thuật thì vai trò của nghệ thuật ở đây có tác dụng ít hơn nhiều.


Địa chân chính sơ thủy của nghệ thuật với tính cách hứng thú cao nhất của tinh thần là như thế. Cũng như nghệ thuật có một giai đoạn trước mình ở thiên văn và các lĩnh vực tự nhiên, nghệ thuật lại có ở trong lĩnh vực tự nhiên và ở trong lĩnh vực đời sống một giai đoạn đi sau nó, tức là một lĩnh vực vượt ra ngoài phạm vi nhận thức và miêu tả cái tuyệt đối. Bởi vì nghệ thuật có ở bản thân mình một giới hạn nhạn chế phạm vi của mình, cho nên nó phải chuyển sang những hình thức nhận thức cao hơn. Sự hạn chế này còn qui định cả địa vị mà bây giờ chúng ta vẫn quen dành cho nghệ thuật trong đời sống hiện tại của chúng ta. Chúng ta không còn cho nghệ thuật là thuộc cái hình thức cao nhất trong đó chân lí khẳng định sự tồn tại của mình. Nói chung, tư tưởng đã sớm biết chống lại nghệ thuật với tính cách sự biểu hiện cảm quan các biểu tượng về thần linh: chẳng hạn người Do Thái, người Hồi giáo và ngay cả người Hy Lạp, Platông, cũng đã từng lên tiếng gay gắt chống lại các thần của Hômerơ và của Hêxiốt. Với sự tiến bộ của học vấn, mỗi dân tộc đều đạt đến một thời kì trong đó nghệ thuật nêu lên một cái gì vượt ra ngoài phạm vi của mình. Chẳng hạn, những nhân tố lịch sử của Thiên Chúa giáo, hiện tượng Giêxu, cuộc đời và cái chết của ông đã cấp cho nghệ thuật, nhất là cho hội họa những khả năng phát triển đa dạng và chính nhà thờ lại che chở nghệ thuật, hay ít nhất cho phép nghệ thuật được tự do. Nhưng khi sự ham muốn hiểu biết và tìm tòi cũng như nhu cầu về tính tinh thần nội tại đã gây nên cuộc cải cách tôn giáo thì biểu tượng tôn giáo đã bị tước khỏi mối liên hệ với yếu tố cảm quan và mang tính chất đời sống bên trong của trí óc, con tim.


Như vậy, giai đoạn sau của nghệ thuật xảy ra do chỗ tinh thần có một nhu cầu cấp thiết chỉ tìm thấy sự thỏa mãn ở trong đời sống nội tâm với tính cách một hình thức chân thực để thể hiện chân lí. Ở những bước đầu của mình, nghệ thuật của mình vẫn còn mang tính chất thần bí, vẫn còn chứa đựng cái tiên cảm bí ẩn, nỗi khắc khoải da diết bởi vì các sáng tạo của nó vẫn còn chưa cấp cho toàn bộ nội dung của mình một hiện tượng trực quan. Nhưng khi một nội dung hoàn mĩ được bộc lộ một cách hoàn mĩ ở trong những hình thức nghệ thuật, thì lúc đó tinh thần vì cố gắng tiến xa hơn, nên lại thoát li khỏi tính chất khách quan này, từ bỏ nó và quay trở về cuộc sống nội tâm.


Thời hiện tại của chúng ta hiện nay là như thế. Kể ra, chúng ta có thể hy vọng rằng nghệ thuật sẽ phát triển hơn nữa, và sẽ làm hoàn mĩ hơn nữa, nhưng hình thức của nó đã thôi không còn thỏa mãn nhu cầu cao nhất của tâm hồn. Chúng ta có thể thấy những bức tượng thần linh Hy Lạp là vô song và những biểu hiện của đức Chúa Cha, của Giêxu, của Maria là trang nghiêm và hoàn mĩ, nhưng điều đó vẫn không thay đổi cái gì hết. Chúng ta không còn quỳ xuống lạy nữa.


Lĩnh vực gần nhất vượt quá vương quốc của nghệ thuật là Tôn giáo. Hình thức nhận thức của tôn giáo là biểu tượng, bởi vì cái tuyệt đối ở đây chuyển từ tính khách thể của nghệ thuật sang đời sống nội tâm của chủ thể. Bây giờ cái tuyệt đối được biểu hiện một cách chủ quan cho nên con tim, tâm hồn và tính chủ thể bên trong nói chung trở thành nhân tố chính.


Ta có thể nêu đặc trưng sự phát triển này từ nghệ thuật tới tôn giáo như sau: nghệ thuật chỉ là một mặt đối với tôn giáo mà thôi. Nếu như tác phẩm nghệ thuật nêu lên trước mắt ta chân lí dưới hình thức cảm quan, tinh thần với tính cách đối tượng và cấp cho cách biểu hiện này một hình thức ăn khớp với cái tuyệt đối, thì tôn giáo còn thêm vào đấy thái đọ sùng bái mộ đạo của chủ thể đứng trước cái khách thể tuyệt đối. Nghệ thuật với tính cách nghệ thuật không gắn liền với thái độ mộ đạo. Thái độ mộ đậonỳ biểu lộ khi cái do nghệ thuật tạo ra đã biến thành khách thể với tính cách một yếu tố cảm quan bên ngoài thâm nhập vào tâm hồn chủ thể và chủ thể đồng nhất hóa mình với nó đến mức độ sự có mặt bên trong: nội cảm trong biểu tượng và tính chất thâm trầm của tình cảm đã trở thành nhân tố chủ yếu làm cho cai tuyệt đối tồn tại. Thái độ mộ đạo là sự sùng bái của công xã dưới hình thức thuần túy nhất, thâm trầm nhất, nội tâm nhất. Đó là một sự sùng bái ở đấy tính khách thể dường như bị nuốt mất và bị tiêu hóa còn nội dung của sự sùng bái, đã thoát khỏi tính khách thể này và biến thành tài sản riêng của con tim và của tâm hồn.


C) Cuối cùng, hình thức thứ ba của tinh thần tuyệt đối đó là triết học. Tôn giáo trong đó ngay từ đầu thần linh đã là một đối tượng bên ngoài ý thức (bởi vì, ngay từ đầu, các giáo điều cần phải giáo dục cho ta biết Thượng đế là gì, Thượng đế thể hiện và tự bộc lộ mình cho người đời như thế nào). Sau đó tôn giáo mặc dầu vùi mình vào đời sống nội tâm, đã làm cho thể cộng đồng vận động và làm cho tâm hồn của thể cộng đồng tràn ngập. Song cuộc sống mộ đạo bên trong của tình cảm và biểu tượng vẫn không phải là hình thức cao nhất của đời sống nội tâm. chúng ta phải thừa nhận tư duy tự do là hình thức hiểu biết thuần túy nhất, và trong tư duy này khoa học nhận thức được bản thân nội dung, và nhờ đó mà trở thành một sự tôn thờ còn có tính tinh thần nhất, là cái có thể tiếp thu và giải thích trong một tư duy có hệ thống những điều mà ở trong tôn giáo chỉ là một nội dung của tình cảm hay của biểu tượng chủ quan. Như vậy, ở trong triết học, hai mặt là mặt nghệ thuật và mặt tôn giáo đã được hợp nhất lại làm một. Ở đây, tính khách thể của nghệ thuật (nghệ thuật mất tính cảm quan bên ngoài nhưng lại được bù đắp bằng hình thức cao nhất của tính khách thể là tư duy) đã được hợp nhất lại. Bởi vì tư duy là tính chủ thể thâm trầm nhất, chân thực nhất và ý niệm thật sự (ý niệm vừa là tính phổ biến đầy đủ nhất lại vừa là tính phổ biến khách quan nhất) chỉ có thể được lí giải là ý niệm ở trong tư duy mà thôi.


Ở đây chúng ta tạm thời bó hẹp vào những nhận xét ngắn ngủi này về sự khác nhau giữa nghệ thuật, tôn giáo và khoa học.


Hình thức cảm quan của ý thức là hình thức sớm nhất đối với con người. Chính vì vậy cho nên ở những giai đoạn đầu tiên, tôn giáo là một tôn giáo của nghệ thuật. Chỉ ở trong tôn giáo của tinh thần, thì Thượng đế mới được nhận thức thành tinh thần tối cao, thích hợp hơn với tư duy và đó là một bằng chứng cho thấy dùng hình thức cảm quan để biểu hiện chân lí là không ăn khớp thực sự với tinh thần.


 


Sự phân chia.


Bây giờ, khi chúng ta đã nhận ra nghệ thuật chiếm địa vị nào ở trong lĩnh vực tinh thần và triết học về nghệ thuật chiếm địa vị nào trong từng ngành triết học, thì ở bộ phận chung này trước hết chúng ta phải khảo sát ý niệm phổ biến của cái đẹp trong nghệ thuật.


Nhưng muốn đạt tới ý niệm cái đẹp trong nghệ thuật trong tất cả tính toàn vẹn của nó, chúng ta lại phải đi qua ba bước sau đây.


Bước thứ nhất khảo sát khái niệm cái đẹp nói chung. Bước thứ hai nghiên cứu cái đẹp trong tự nhiên, những thiếu sót của nó sẽ nêu cho chúng ta thấy tính tất yếu của lí tưởng với tính cách cái đẹp trong nghệ thuật. Đối tượng khảo sát của bước thứ ba là lí tưởng ở trong sự thực hiện của nó với tính cách sự thể hiện của lí tưởng một cách nghệ thuật ở trong tác phẩm nghệ thuật.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »