tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29863037
Tiểu thuyết
06.10.2009
Heinrich Böll
Đêm thánh vô cùng

Đi tìm độc giả


Bạn tôi làm một nghề lạ: anh không ngại xưng mình là nhà văn, chỉ vì có vài hiểu biết tiềm tàng về chính tả, và giờ đây, anh đánh máy những bài văn phong hết trang này sang trang khác, cứ được một xấp thì gọi là bản thảo.


Anh đã nhai cỏ gầy của nghệ thuật ấy trên các thảo nguyên văn hóa hàng năm trời mới tìm ra được một nhà xuất bản. Sách của anh ra được ít lâu, tôi gặp anh trong tâm trạng tuyệt vọng. Thật vậy, nghe anh thuật truyện, người ta phải đau lòng: theo tính toán của nhà xuất bản, trong vòng một năm, họ đã gởi 350 bản cho các nhà bình luận không thù lao, vài bài phê bình tốt xuất hiện, và 13 bản thật sự bán được -  như vậy, phần của bạn tôi là 5 mác 46 xu. Nhưng anh đã được ứng trước 800 mác, vậy nếu lượng sách bán ra không đổi thì khoảng 150 năm, anh mới trả hết tiền ứng trước.


Tuy vậy, nói chung đời người không dài như thế. Ngoại trừ vài người Thổ Nhĩ Kỳ siêu phàm, người ta sống chừng bảy mươi năm, và với những nhọc nhằn đáng kể mà thế hệ vô vọng của chúng ta phải chịu đựng, người ta có thể trừ bớt 10 năm mà không cần e ngại.


Tôi khuyên bạn viết cuốn sách thứ hai. Sách ra, giới chuyên môn hoan nghênh, số bản dành cho việc bình luận vượt quá 400, số lượng bán được sau nửa năm là 29. Tôi vấn tặng bạn hai điếu thuốc, vỗ vai bạn và đề nghị viết thêm cuốn thứ ba. Nhưng lạ thay, anh ta lại nghĩ là tôi mỉa mai nên bị tổn thương và tránh tiếp xúc với tôi.


Trong khi đó, anh đã vào văn học sử với danh hiệu “Witt Trong Suốt”, và một cuốn sách viết về anh ra đời, bán chạy hơn cả sách của chính anh.


Tôi không gặp anh gần nửa năm: hình như anh lại lang thang trên những miền đất của thiên tài cô đơn. Rồi bất ngờ anh tới nhà tôi, thú nhận đã bắt đầu cuốn sách thứ ba. Tôi đề nghị đưa tác phẩm ấy ra thị trường với số lượng 30 tới 50 bản in keo. Nhưng anh lại thích mực in chính hiệu, hơn nữa, anh đã nhận tiền ứng trước, sắp có đứa con thứ hai và nhất định không muốn phạm tội làm vài thợ sắp chữ, thợ in, mấy bà lo việc đóng gói phải thất nghiệp. (Tính xã hội của anh lúc nào cũng thật mạnh mẽ!)


Lúc đó đã có gần 100 bài phê bình tốt về anh, và cả hai cuốn sách bán được hơn 90 bản. Chủ nhà xuất bản mở chiến dịch được bạn tôi gọi là “Cuộc đi tìm độc giả”. Ông ta gởi giấy bướm tới mọi nhà sách, yêu cầu ghi nhận những người mua sách của Witt và báo ngay cho nhà xuất bản để tìm cách tạo mối liên hệ giữa tác giả và người đọc.


Chẳng bao lâu, chiến dịch ấy có kết quả. Sau khi khởi sự được bốn tuần, ở tận miền bắc xa xôi, một ông xuất đầu lộ diện hỏi mua sách của bạn tôi. Chủ tiệm sách lập tức đánh điện đi: “Người mua sách xuất hiện – làm gì đây?”. Trong khi đó, ông giữ khách lại bằng cách trò chuyện với khách, rót cà phê, mời thuốc lá – toàn những hành động khiến khách ngạc nhiên nhưng cũng lặng im chịu đựng. Rồi điện tín trả lời khẩn cấp của nhà xuất bản đến: “Gởi người mua tới tôi – nhận trả mọi chi phí”. May thay, khách hàng là giáo viên trung học đang kỳ nghỉ và không hề phản đối chuyến du lịch miễn phí đến miền nam Đức. Ngày đầu, ông ta đáp xe lửa tới Cologne, nghỉ đêm ở một khách sạn tốt rồi đi dọc sông Rhin xinh đẹp về hướng nam, tận hưởng cuộc hành trình của mình.


Khoảng bốn giờ chiều ngày thứ hai, ông ta tới  nơi, đi tắc xi từ ga xe lửa đến nhà xuất bản và trò chuyện một giờ thú vị với bà chủ nhà, vừa uống cà phê, ăn bánh ngọt. Sau đó, ông ta được cấp thêm lộ phí, được chở ra nhà ga rồi đi vé hạng nhì tới cái phố nhỏ yên tĩnh, nơi bạn tôi phục vụ nữ thần Nghệ Thuật. Nơi đó, đứa con thứ hai của anhh ra đời tự lúc nào. Vợ anh đã đi xi nê – một thú tiêu khiển không thể thiếu với các bà vợ văn sĩ, dù tài chính có eo hẹp tới đâu đi nữa. Vì vậy, người mua sách gặp bạn tôi đúng lúc anh đang hâm sữa cho con uống ban tối và dỗ chúng bằng bài hát mang một từ dung tục. Từ ấy đã đẩy nền văn học trẻ của Đức xuống bùn nhơ…


Bạn tôi chào độc giả của mình một cách nồng nhiệt, ấn cái cối xay cà phê vào tay ông ta và nhanh chóng làm bổn phận người cha. Chẳng bao lâu, nước cà phê sôi, và đáng lẽ họ có thể bắt đầu câu chuyện. Nhưng cả hai đều quá nhút nhát nên ban đầu chỉ nhìn nhau tỏ vẻ khâm phục. Một lúc sau, bạn tôi mới bật tiếng hô:


- Ông thật là một thiên tài, một thiên tài cỡ lớn!


Người khách nhỏ nhẹ nói:


- Không đâu, tôi nghĩ chính ông mới phải.


- Ông lầm rồi, đặc điểm chính của thiên tài là hiếm có, và ông thuộc hạng người hiếm có hơn tôi.


Bạn tôi nói và bấy giờ mới rót cà phê vào tách. Khách cố đưa những lý lẽ khiêm nhường để bác bỏ nhưng lại được bạn tôi giải thích một cách thô thiển:


- Chẳng đúng chút nào, viết một cuốn sách không khó bằng làm ra nó. Tìm nhà xuất bản dễ như chơi, nhưng mua sách – cái đó tôi gọi là hành động phi thường. Ông lấy sữa và đường đi.


Ông khách lấy sữa và đường rồi rụt rè rút từ túi trong áo măngtô cuốn sách mua tận miền bắc xa xôi ra xin bạn tôi đề tặng. Bạn tôi cứng rắn bảo:


- Nhưng chỉ với điều kiện, chỉ với điều kiện là ông viết lời đề tặng lên bản thảo của tôi!


Anh lấy một tập hồ sơ từ kệ sách, rút ra một chồng giấy viết tay để cạnh tách cà phê của khách rồi nói:


- Xin ông chiều ý tôi!


Khách bối rối lấy viết máy ra, chần chừ một lúc rồi viết dưới trang cuối bản thảo: “Với lòng trân trọng – Gnther Schlegel.”


Nhưng nửa phút sau, khi bạn tôi đang phe phẩy bản thảo trên lò sưởi cho khô mực, khách rút từ túi trong áo măng-tô ra một xấp giấy đánh máy, yêu cầu bạn tôi đưa cho nhà xuất bản đánh giá tác phẩm được ông ta gọi là một đóng góp nhỏ cho nền văn học trẻ.


Theo lời thuật của bạn tôi, anhh đã sững sờ mấy phút vì thất vọng. Anh xót xa lo lắng cho số phận của khách.


Thế rồi họ lại ngồi câm lặng vài phút, cho tới khi bạn tôi bảo nhỏ:


- Tôi cầu xin ông, ông đừng làm vậy – ông sẽ mất đi tính độc đáo của mình!


Người khách im lặng dai dẳng và ôm chặt bản thảo của mình. Bạn tôi nói tiếp:


- Ông sẽ không được trả lộ phí, không được đãi bánh kem nữa. Bà chủ nhà xuất bản sẽ tỏ ra chua cay vô cùng. Vì lợi ích của ông, tôi cầu xin ông đừng làm vậy!


Nhưng khách lắc đầu bướng bỉnh, và bạn tôi vì hết lòng muốn cứu một người nên không từ cả việc đem giấy tờ thanh toán tiền nong của nhà xuất bản cho ông ta xem. Nhưng tất cả những điều ấy, Schlegel đều không lưu ý tới.


Đến đây, bạn tôi ngừng kể, và tôi đoán anh chỉ còn nước cãi nhau với  khách thôi. Dù sao khi ấy cũng không ai nói gì, bạn tôi trầm ngâm nhìn nắm tay xiết chặt và thì thầm điều gì không rõ. Tôi được biết thêm là Schlegel chỉ chào qua loa rồi bỏ đi, để quên bản thảo ở nhà bạn tôi.


Trong khi đó, cuốn tiểu thuyết “Pénélope(1), khốn khổ thay cho nàng!” của Schlegel, một truyện về những người hồi hương(2)  đã gây sự chú ý trong giới chuyên môn một cách chính đáng. Schlegel từ bỏ sự nghiệp giảng dạy, nghĩa là từ bỏ một nghề thực sự để theo đuổi một nghề khác mà tôi vẫn nghĩ đó không phải là một nghề thật sự.


 


Sẽ xảy ra điều gì


            Một trong những quãng thời gian lạ lùng nhất đời tôi là lúc tôi làm nhân viên nhà máy Alfred Wunsiedel. Bẩm tính tôi vốn thích suy nghĩ và sống nhàn hơn là làm việc, nhưng – bởi vì sông nhàn rỗi và suy nghĩ cho lắm cũng chẳng được tích sự gì – những khó khăn dai dẳng về tài chính buộc tôi thỉnh thoảng nhận cái gọi là công việc. Lại một lần xuống đến tận cùng như vậy, tôi phó mặc mình cho sở lao động và được gởi cùng bảy đồng bệnh khác tới nhà máy Wunsiedel để thử nghiệm khả năng.


            Thoạt thấy nhà máy, tôi đã sinh nghi. Toàn thể nhà máy xây bằng gạch thủy tinh, và ác cảm của tôi đối với những phòng ốc sáng sủa cũng giống như ác cảm đối với việc làm. Tôi càng nghi ngờ hơn, khi ở cái căngtin màu sắc tươi mát, sáng sủa, đồ ăn sáng được dọn ngay ra cho chúng tôi: những cô chiêu đãi viên xinh xắn mang trứng, cà phê và bánh mì nướng đến, nước cam đựng trong những bình thủy tinh đẹp mắt; cá vàng kê bộ mặt chán chường vào thành những bồn nước xanh nhạt. Các cô phục vụ vui vẻ đến tưởng chừng như sắp vỡ tung ra. Chỉ với quyết tâm cao – tôi có cảm tưởng ấy – các cô mới khỏi líu lo cả buổi. Tôi đoán ra ngay điều mà hình như các đồng bệnh không ngờ tới: bữa ăn sáng này cũng thuộc về bài thử nghiệm; vì vậy, tôi nhai thật kỹ, với ý thức đầy đủ của người đang đưa chất bổ vào cơ thể. Tôi đã làm điều bình thường không một quyền lực nào trên thế gian có thể bắt tôi làm: tôi uống nước cam lúc bụng trống, không đụng tới cà phê, trứng, phần lớn bánh mì nướng, đứng dậy đi tới đi lui, thèm khát  hoạt động.


            Thế rồi tôi là người đầu tiên được dẫn vào phòng thi có cái bàn hấp dẫn và bản câu hỏi để sẵn. Tường phòng nhuốm màu xanh lục đẹp đến nỗi người đam mê việc trang trí nhà cửa phải khen là “tuyệt diệu”. Không thấy ai, nhưng tôi chắc mình đang bị quan sát nên làm bộ như người thèm khát hoạt động khi tưởng mình không bị ai quan sát: tôi sốt ruột rút viết máy ra, mở nắp, ngồi vào  bàn gần nhất và kéo bản câu hỏi lại, giốnh như những thực khách nóng nảy lấy giấy tính tiền trong tiệm ăn vậy.


            Câu hỏi đầu: Ông có cho điều người ta chỉ có hai tay, hai mắt và tai là đúng không?


            Đây là lần đầu tiên tôi thu nhận kết quả quy nghĩ của mình và viết không chút do dự: “Kể cả bốn tay, bốn chân và bốn mắt cũng không đủ để thỏa mãn nhu cầu hành động của tôi. Con người được trang bị quá ít ỏi.”


            Câu hỏi thứ hai: Ông có thể sử dụng bao  nhiêu điện thoại cùng một lúc?


            Trả lời câu hỏi này cũng dễ như giải phương trình bậc nhất. Tôi viết: “Nếu chỉ có bảy điện thoại thôi, tôi sẽ sốt ruột, phải tới chín máy, tôi mới cảm thấy vừa sức mình.”


            Câu hỏi thứ ba: Ông làm gì sau khi tan việc?


            Câu trả lời của tôi: “Tôi không còn biết chữ tan việc nữa – lần sinh nhật thứ mười lăm, tôi đã gạch bỏ nó ra khỏi vốn từ vựng của mình, bởi vì hành động là trên hết.”


            Tôi được chỗ làm. Thật vậy, ngay cả với chín máy điện thoại, tôi cũng chưa cảm thấy vừa sức mình. Tôi hô lớn vào ống nói: “Ông hãy làm gì đi! Phải xảy ra điều gì – sẽ xảy ra điều gì – đã xảy ra điều gì – đáng lẽ phải xảy ra điều gì.”. Nhưng phần nhiều, tôi dùng lối mệnh lệnh – vì nó có vẻ thích hợp với không khí nơi đây.


            Những buổi nghỉ trưa ở căng –tin thật thú vị, khi chúng tôi – trong khung cảnh vui tươi im ả – dùng những thức ăn nhiều sinh tố.


            Nhà máy Wunsiedel đầy rẫy những kẻ ham kể lý lịch của mình, điều mà những nhân vật năng động thường làm. Lý lịch của họ quan trọng hơn cuộc đời của họ, người ta chỉ cần nhận nút, họ đã hãnh diện tuôn ra hết.


            Ông phó giám đốc của Wunsiedel họ Broschek, vốn nổi tiếng còn là sinh viên, ông ta vừa lao động vào buổi tối để nuôi bảy đứa con và người vợ tê liệt, vừa làm đại diện cho bốn hãng, thế mà còn đậu xuất sắc hai kỳ thi quốc gia trong vòng hai năm. Khi được phóng viên hỏi:


- Có khi nào ông ngủ không, ông Broschek?


Ông ta trả lời:


- Ngủ là một tội phạm!


Bà thư ký của Wunsiedel đã nuôi người chồng tê liệt và bốn đứa con bằng việc đan áo, đồng thời lấy bằng tiến sĩ tâm lý học và địa phương học, nuôi dạy chó bécgiê và làm ca sĩ phòng trà, nổi tiếng với danh hiệu Vamp 7.


Còn chính Wunsiedel thì thuộc loại người chưa tỉnh hẳn đã có quyết tâm hành động. “Tôi phải hành động”, họ nghĩ thế khi buộc chặt thắt lưng lại. “Tôi phải hành động”, họ nghĩ thế khi cạo râu và đắc ý nhìn vào những sợi râu cùng bọt xà phòng chảy xuống lúc rửa đồ cạo. Những sợi râu ấy là nạn nhân đầu tiên của lòng khát khao hành động của họ. Cả những việc thầm kín hơn cũng làm thỏa mãn hạng người này: giật nước, xé giấy. Điều gì đó đã xảy ra. Ăn bánh mì, đập quả trứng.


Ở Wunsiedel, cả những cử chỉ nhỏ nhặt nhất cũng có vẻ quan trọng: cách ông ta đội nón, cách ông ta – với năng lực dồi dào đến phải dùng mình – cài nút áo măngtô, chiếc hôn ông ta tặng vợ, tất cả đều là hành động. Vào văn phòng, ông ta lớn tiếng chào bà thư ký:


- Phải xảy ra điều gì!


Và bà này vui sướng hô lên:


- Sẽ xảy ra điều gì!


Rồi Wunsiedel đi từ phòng này sang phòng khác, hô câu “Phải xảy ra điều gì!” vui vẻ. Mọi người đều trả lời: “Sẽ xảy ra điều gì!”. Và chính tôi cũng hớn hở gọi lớn: “Sẽ xảy ra điều gì!” khi ông ta vào phòng tôi.


Trong vòng tuần đầu, tôi tăng số điện thoại mình phụ trách lên mười một máy, tuần thứ nhì lên mười ba máy. Và mỗi sáng trên xe điện, tôi hứng thú nghĩ ra những mệnh lệnh mới hay ném động từ xảy ra vào các thời, các dạng khác nhau, vào lối phụ thuộc, lối trình bày(1); hai ngày dài, tôi chỉ nói mỗi một câu: “Đáng lẽ phải xảy ra điều gì!” vì tôi thấy nó thật hay, hai ngày sau, tôi lại nói: “Điều đó đáng lẽ không nên xảy ra!”.


Đến khi tôi bắt đầu cảm thấy mình thật sự được làm hết năng lực của mình thì có điều gì xảy ra thật. Vào một sáng thứ ba – tôi chưa kịp ngồi xuống ghế – Wunsiedel đã chạy ào vào phòng, hô câu: “Phải xảy ra điều gì!”. Nhưng có cái gì khó giải thích trên mặt ông ta khiến tôi do dự, không tươi tỉnh trả lời: “Sẽ xảy ra điều gì!” như theo quy định. Có lẽ do dự quá lâu vì Wunsiedel, bình thường ít khi la hét, quát bảo tôi:


- Trả lời đi, anh hãy trả lới như theo quy định!


Và tôi lí nhí trả lời, gượng gạo như đứa trẻ buộc phải nói: con xấu quá. Gắng sức lắm, tôi mới thốt nổi câu : “Sẽ xảy ra điều gì!”, và vừa dứt lời thì một điều xảy ra thực sự: Wunsiedel ngã vật xuống sàn nhà, lăn qua một bên rồi nằm chắn ngang cửa. Tôi hiểu ngay điều được chứng thực khi tôi chậm rãi đi vòng quanh bàn tới chỗ Wunsiedel nằm: ông ta đã chết.


Tôi lắc đầu, bước ngang người ông ta, chầm chậm qua hành lang đến phòng Broschek và vào phòng mà không gõ cửa. Broschek đang ngồi ở bàn giấy, mỗi tay cầm một ống nghe, miệng ngậm bút bi ghi chú, đồng thời dùng chân điều khiển máy đan đặt dưới bàn. Bằng cách ấy, ông ta góp phần vào việc ăn mặc của gia đình mình. Tôi nói nhỏ:


- Có một điều đã xảy ra.


Broshek nhả bút bi, để hai ống nghe xuống, ngần ngừ rời ngón chân ra khỏi máy đan. Ông ta hỏi:


- Điều gì đã xảy ra vậy?


Tôi đáp:


- Ông Wunsiedel chết rồi.


- Ồ không.


Tôi bảo:


- Thật, ông tới xem!


- Không, không thể như thế được.


Broschek nói, nhưng rồi cũng thọc chân vào dép và theo tôi qua hành lang. Khi chúng tôi đứng cạnh xác Wunsiedel, ông ta bảo:


- Ồ không, không, không!


Tôi không cãi lại, thận trọng đỡ cho Wunsiedel nằm ngửa rồi nhìn ông ta, nghĩ ngợi.


Tôi gần như có cảm tình đằm thắm với ông ta, và lần đầu tiên, tôi hiểu rằng mình chưa bao giờ ghét ông ta cả. Ông ta có vẻ gì giống những đứa trẻ nhất định giữ vững lòng tin ở ông già Noel, cho dù những lý lẽ phủ định của bạn bè có tính thuyết phục thế  nào đi nữa. Broschek nói:


- Ồ không, không.


- Phải xảy ra điều gì.


Tôi bảo nhỏ. Broschek đáp:


- Đúng rồi, phải xảy ra điều gì.


Điều đã xảy ra: lễ đưa đám Wunsiedel, và tôi được chọn mang vòng hoa hồng nhân tạo đi sau quan tài, vì ngoài khuynh hướng trầm tư và sống nhàn, tôi còn được trời phú cho một thân hình và gương mặt hết sức thích hợp với quần áo đen. Chắc hẳn lúc theo sau quan tài Wunsiedel – với vòng hoa nhân tạo trên tay – tôi có dáng vẻ thật hay nên được một viện mai táng lịch sự mời làm người đưa đám chuyên nghiệp. Ông giám đốc viện bảo:


- Đúng là anh sinh ra để làm người đưa đám. Anh sẽ được cấp quần áo thích hợp. Gương mặt anh – thật tuyệt!


Tôi xin Broschek cho nghỉ việc với lý do ở nhà máy, tôi cảm thấy không được làm hết sức mình, tài năng của tôi phần nào bị mai một, dù phải lo đến mười ba máy điện thoại. Ngay sau lần đưa đám chuyên nghiệp đầu tiên, tôi đã rõ: mình thuộc về đây, chỗ này là chỗ dành cho mình.


Tôi trầm tư đứng su quan tài ở nhà nguyện nghĩa địa, tay cầm một bó hoa đơn giản, trong khi khúc Largo của Hndel(1) trỗi lên, một nhạc khúc ít được để ý đến. Quán cà phê nghĩa địa là nơi tôi thường lui tới để giải trí giữa những lần diễn xuất, nhưng cũng có khi tôi theo sau  một quan tài mình không phải tiễn đưa, mua hoa bằng tiền riêng của mình và cùng nhân viên tương tế bước sau quan tài một kẻ vô gia cư. Thỉnh thoảng tôi cũng thăm mộ Wunsiedel, bởi vì nói cho cùng, nhờ ông ta tôi mới tìm được nghề thật sự của mình, một nghề đòi hỏi phải có tính trầm tư và bổn phận sống nhàn.


Muộn lắm, tôi mới sực nhớ mình chưa bao giờ muốn biết nhà máy Wunsiedel sản xuất cái gì. Hình như xà phòng thì phải.


 


Người vứt bỏ


Mấy tuần nay tôi tránh tiếp xúc với những ai có thể hỏi tôi làm nghề gì; nếu thực sự phải gọi tên nghề ấy, tôi buộc lòng phải nói ra một từ khiến người đồng thời hoảng sợ. Vậy tốt hơn, tôi dùng cách trừu tượng để thú nhận trên mặt giấy.


Trước đây vài tuần thì khác, lúc nào tôi cũng sẵn sàng, gần như bắt mình phải thú nhận bằng lời nói; tôi tự xưng là nhà phát minh hoặc học giả tư, cực chẳng đã là sinh viên và trong lúc phấn chấn vì men rượu, là thiên tài vô danh. Tôi cảm thấy được tốt danh nhờ chiếc cổ áo sờn rách, phóng tay mua chịu của các nhà buôn, mặc cho họ ngần ngừ, ngờ vực nhìn bơ thực vật, chế phẩm cà phê và thuốc lá rẻ tiền biến vào túi măng tô của tôi. Tôi thỏa thuê với vẻ chểnh mảng và uống vào lúc điểm tâm, vào buổi trưa, buổi chiều tối rượu mật của đời phóng đãng: khoái cảm cao độ bởi không thích nghi với xã hội.


Nhưng từ mấy tuần nay, cứ vào lúc bảy giờ rưỡi sáng, tôi lên xe điện ở góc đường Roon, trình vé cho người kiểm soát xem như mọi người khác, tôi mặc vét tông xám, sơmi xanh, thắt càvạt xanh nhạt, tay mang hộp nhôm đựng bánh mì điểm tâm, tờ báo ban sáng cuộn thành cái chùy nhẹ. Tôi có dáng vẻ của một công dân đã thoát khỏi nỗi trầm tư. Sau trạm thứ ba, đến khu tạm cư, tôi đứng dậy nhường chỗ cho một nữ công nhân mới lên xe. Hy sinh chỗ ngồi cho tình đồng loại rồi tôi đứng đọc báo tiếp, thỉnh thoảng lên tiếng dàn xếp những người đồng thời vì bực dọc buổi sáng mà không phải với nhau. Tôi sửa những lầm lẫn thô kệch nhất về lịch sử và chính trị (chẳng hạn giải thích cho người trên xe hiểu sự khác biệt nào đó giữa SA(1) và USA); nếu thấy ai đút điếu thuốc vào miệng, tôi kín đáo chìa cái bật lửa dưới mũi anh ta, đốt điếu thuốc ban mai với ngọn lửa nhỏ tí nhưng đáng tin cậy. Như thế, tôi làm trọn vẹn hình ảnh một công dân tử tế, ở vào cái tuổi  người ta còn dùng chữ “có giáo dục” được.


Chắc hẳn tôi đã thành công trong việc mang chiếc mặt nạ để tránh khỏi những câu hỏi về nghề nghiệp của mình. Tôi chắc được xem như người có học thức kinh doanh những thứ thơm tho, bao gói cẩn thận: cà phê, trà, gia vị hoặc những vật nho nhỏ, đẹp mắt: nữ trang, đồng hồ, người làm việc ở một phòng thương mại xưa cũ dễ chịu, mang trên tường những bức chân dung màu sậm tối của các vị tiền bối đi buôn; người mà khi gọi điện cho phu nhân lúc mười giờ sáng biết đưa vào giọng nói dường như khô khan một vẻ âu yếm đủ để tỏ lòng yêu thương lo lắng. Vì tôi cũng biết tham gia vào việc nói đùa vô hại, không nín cười khi mỗi sáng ở đường Schlieffen, người công chức hành chính hét vào xe: “Hãy tăng cường cánh tả cho tôi!” (đúng ra là cánh hữu phải không?); vì tôi không ngại bình luận những việc xảy ra trong ngày cũng như kết quả sổ số thể thao nên tôi chắc được xem như người mà phẩm chất quần áo tỏ ra phong lưu, nhưng lại có nhân sinh quan bám chắc vào các nguyên tắc dân chủ. Cái vẻ đúng đắn phủ lên người tôi như chiếc quan tài thủy tinh bao phủ nàng Bạch Tuyết.


Khi một chiếc xe tải vượt qua làm nền cho cửa kính xe điện, tôi lợi dụng cơ hội ngắn ngủi để kiểm tra lại nét mặt. Nó không quá trầm tư, gần như đau khổ hay sao? Tôi vội xóa bỏ nét trầm tư, cố tạo cho mình vẻ mặt nên có: không dè dặt nhưng cũng không thân thiết, chẳng hời hợt mà cũng chẳng sâu sắc.


Hình như việc ngụy trang ấy đã thành công vì khi tôi xuống xe ở quảng trường Đức Mẹ, đi lẫn vào đám hỗn độn trong khu phố cổ, nơi có những phòng thương mại cũ kỹ dễ chịu, những phòng công chứng viên và nhiều  văn phòng đầy vẻ kín đáo, không ai ngờ rằng tôi vào cửa sau hãng Ubia, hãng có thể tự hào đã đem lại cơm áo cho ba trăm năm mươi người và bảo hiểm nhân thọ cho hơn bốn trăm ngàn. Ông gác cổng chờ tôi ở cổng dành cho việc cung cấp hàng, mỉm cười với tôi. Tôi đi ngang qua ông, xuống hầm nhận việc phải làm xong lúc 8 giờ rưỡi, lúc nhân viên hãng ùa vào các phòng giấy. Công việc tôi làm giữa 8 giờ và 8 giờ rưỡi ở hầm nhà cái hãng đáng trọng ấy có mục đích duy nhất là phá hủy. Tôi làm việc vứt bỏ.


Tôi phải mất hàng năm trời để sáng tạo ra nghề của mình, để tính toán sao cho người ta chấp nhận nó; tôi viết luận văn; các biểu đồ đã phủ kín và vẫn còn phủ kín tường nhà tôi ở. Năm này qua qua năm khác, tôi đi dọc trục  hoành, leo lên trục tung. Tôi tận hưởng cái lý thuyết và tận hưởng cái ngây ngất lạnh người do công thức gây ra. Nhưng từ khi hành nghề và thấy thuyết của mình được thực hiện, lòng tôi lại tràn ngập nỗi buồn của vị tướng đang từ các điểm cao chiến lược hạ xuống những vùng thấp của chiến thuật.


Tôi bước vào phòng làm việc, cởi áo vét, mặc áo choàng lao động rồi bắt tay ngay vào việc. Tôi mở các bao to ông gác cổng đã mang từ bưu điện về từ hồi sáng sớm, trút ra hai thùng gỗ do tôi thiết kế treo lên tường, hai bên bàn làm việc. Như vậy, tôi chỉ cần dang tay ra như bơi lội và lẹ làng phân loại các bưu phẩm. Trước hết, tôi tách rời ấn phẩm và thư từ, một việc làm theo thói quen không hơn không kém, vì chỉ cần xem tem dán là đủ. Biết biểu giá  bưu điện, tôi không cần suy  nghĩ khu biệt khi làm việc này. Nhờ thử nghiệm lâu năm, tôi quen việc, xong tất cả trong vòng nửa tiếng. Lúc ấy tám giờ rưỡi, tôi nghe tiếng chân nhân viên ùa vào các phòng làm việc phía trên. Tôi bấm chuông gọi ông gác cổng đem thư tới từng bộ phận hãng. Lần nào tôi cũng cảm thấy buồn khi ông gác cổng khiêng đi một thùng tôn lớn bằng cái cặp học sinh chứa phần giữ lại từ ba bao bưu phẩm. Tôi có thể phấn khởi được vì lẽ: thuyết vứt bỏ, đối tượng nghiên cứu riêng của tôi trong nhiều năm đã được chứng thực; nhưng lạ thay, tôi lại không phấn khởi. Rõ ràng có lý không phải lúc nào cũng là lý do để sung sướng.


Khi ông gác cổng đi khỏi, việc còn lại là xem các núi ấn phẩm còn thư nào để lầm vì dán tem sai hoặc hoá đơn gởi dưới dạng ấn phẩm hay không. Việc này gần như thừa thãi, sự đúng đắn trong lưu thông bưu chính thật đáng phục. Ở đây, tôi phải thú nhận là đã tính sai: tôi ước lượng số người ăn gian bưu phí quá nhiều.


Ít khi nào một bưu thiếp, thư hay hoá đơn gởi dưới dạng ấn phẩm lại thoát khỏi sự chú ý của tôi; lúc chín giờ rưỡi, tôi ấn chuông gọi ông gác cổng đem đối tượng còn lại của sự xem xét kỹ lưỡng đến các bộ phận hãng.


Bây giờ là lúc tôi cần được bồi dưỡng. Vợ ông gác cổng đem cà phê tới, tôi mở hộp nhôm lấy bánh mì ra ăn, vừa trò chuyện với bà gác cổng về các con của bà. Alfed làm tính khá hơn chưa? Gertrud có sửa được các lỗi chính tả không? Alfed không khá tính hơn, còn Gertrud đã sửa được các lỗi chính tả. Cà thật chín chưa, thỏ mập không, và việc thử nghiệm trồng dưa có được thành công? Cà chưa chín lắm, thỏ mập, còn việc thử nghiệm trồng dưa chưa có kết quả rõ ràng. Vấn đề lớn là có nên trữ khoai dưới hầm, các câu hỏi giáo dục như nên hướng dẫn cho con về giới tính hay để con  hướng dẫn mình đều được chúng tôi bàn tính kỹ lưỡng.


Lúc mười một giờ, vợ ông gác cổng còn thường yêu cầu tôi để lại vài tờ quảng cáo du lịch trước khi rời chỗ làm; bà sưu tầm chúng, và sự đam mê ấy khiến tôi thấy vui vì tôi còn giữ kỷ niệm sâu đậm đối với những tờ quảng cáo du lịch. Hồi đó, tôi cũng sưu tập những tờ quảng cáo du lịch vớt ra từ sọt giấy của ba tôi. Tôi sớm nghĩ ngợi về việc ba tôi vừa được nhân viên bưu điện đưa thư, chưa xem tới đã ném vào sọt giấy. Quá trình ấy làm tổn thương thiên hướng bẩm sinh của tôi về kinh tế; cái gì đó được phác thảo, biên soạn, in ấn, cho vào phong bì rồi thông qua các ngõ ngách bí ẩn của bưu điện để đến địa chỉ của chúng ta; nó thấm mồ hôi của người vẽ, người viết, của thợ in, của em học nghề lo việc dán tem; nó tốn kém – trên nhiều bình diện và theo nhiều biểu giá khác nhau; tất cả những điều đó để rồi phải vào sọt giấy, không đáng tới một cái nhìn nữa sao?


Mười một tuổi, tôi tập thói quen hễ ba tôi vừa đi cơ quan làm việc thì lấy ngay những thứ trong sọt rác ra xem xét, phân loại và giữ gìn trong rương đựng đồ chơi. Vì vậy khi lên mười hai, tôi đã làm chủ một sưu tập lớn gồm những tờ khuyến mãi rượu riesling, nhiều catalô mật ong nhân tạo và lịch sử nhân đạo. Sưu tập quảng cáo du lịch của tôi từ từ lớn thành bộ tự điển bách khoa; xứ Dalmatie cũng quen thuộc với tôi như các vịnh hẹp Na Uy, nước Écosse(1) cũng gần gũi như phố Zacopane, những khu rừng Bohême làm tôi yên tĩnh bao nhiêu thì sóng nước đại dương khiến tôi bồn chồn bấy nhiêu. Tôi được mời mua bản lề, nhà ở, nút áo, các đảng phái xin tôi phiếu bầu, các quỹ công ích xin tôi tiền; những cuộc xổ số hứa hẹn với tôi sự giàu có, các giáo phái cầu chúc tôi cuộc sống nghèo nàn. Độc giả thử tưởng tượng xem bộ sưu tập ấy ra thế nào lúc tôi lên mười bảy, và trong cơn buồn chán chợt đến, tôi mời một người buôn đồ cũ mua, được ông ta trả bảy mác sáu mươi xu.


Học xong trường trung cấp, tôi nối gót cha, đặt chân lên con đường dẫn tới sự nghiệp hành chính.


Với bảy mác sáu  mươi xu, tôi mua một tập kẻ milimét, ba viết chì màu, và con đường tới sự nghiệp hành chính của tôi trở thành một đường vòng đau đớn, vì trong khi là kẻ học nghề hành chính bất hạnh, tôi lại mơ thành người vứt bỏ đầy hạnh phúc. Cả thời gian rảnh rỗi tôi dành cho những bài tính rườm rà. Đồng hồ bấm giây, viết chì, thước tính, giấy kẻ milimét là đồ trang bị thường xuyên cho sự rồ dại của tôi. Tôi tính thời gian cần thiết để mở và nhìn lướt qua một ấn phẩm khổ nhỏ, vừa hay lớn, có hình hay không có hình, để tự thuyết phục về sự vô ích của nó và ném nó vào sọt giấy. Quá trình ấy tối thiểu đòi hỏi năm giây, tối đa hai mươi lăm giây; nếu ấn phẩm được minh họa và có nội dung kích thích người xem thì phải tính đến hàng phút, nhiều khi hàng khắc đồng hồ. Tôi cũng tìm ra phí tổn tối thiểu cho việc sản xuất ấn phẩm bằng cách giả thương lượng với nhà in. Tôi không ngừng kiểm tra và cải tiến kết quả nghiên cứu kết quả của mình (chừng hai năm sau, tôi mới sực nhớ phải tính cả thời gian đổ sọt giấy của các bà lo việc vệ sinh); tôi áp dụng kết quả nghiên cứu đó vào các xí nghiệp có mười, mười hai, một trăm nhân viên hay nhiều hơn nữa và thu được kết quả  mà một chuyên viên kinh tế sẽ không ngần ngại cho là nguy cấp.


Lòng trung thành thúc giục tôi dành quyền sử dụng kiến thức ấy cho cơ quan của mình trước hết. Thế mà dù đã dự kiến có khả năng bị phụ ơn, nhưng mức độ của sự phụ ơn khiến tôi phải hoảng sợ; tôi bị kết tội lơ đễnh công việc, bị nghi ngờ theo thuyết vô hư, bị xem như mắc bệnh tâm thần và bị sa thải. Tôi từ bỏ sự nghiệp đầy hứa hẹn – điều khiến cha mẹ thân yêu của tôi phải đau lòng – bắt đầu một sư nghiệp khác rồi lại cũng bỏ giữa chừng, tôi rời tổ ấm gia đình và – như đã nói – kiếm ăn bằng thiên tài vô danh. Tôi nếm nỗi nhục nhã phải đem phát minh của mình đi bàn rong nhưng chẳng ai mua, sống bốn năm thần thánh trong tình trạng phi xã hội, nhất quán đến phiếu đục lỗ của tôi ở bộ sưu tập phiếu trung ương lâu nay đã mang dấu “mắc bệnh tâm thần”, giờ lại được đục thêm dấu hiệu mật có nghĩa “phi xã hội”.


Trong hoàn cảnh như vậy, chắc ai cũng có thể hiểu vì sao tôi quá sợ hãi khi có người – nói rõ hơn là ông giám đốc hãng Ubia – thấy cái hiển  nhiên của điều tôi suy nghĩ là hiển nhiên. Tủi nhục thay khi mang chiếc cà vạt màu xanh nhạt nhưng tôi phải cải trang trong lúc đi lại, vì tôi run rẩy, lo sợ người ta nhận ra mình là ai. Tôi cố tạo cho mình vẻ mặt nên có khi cười vì câu đùa ở đường Schlieffen, vì không ai kiêu hơn các chàng tếu trên xe điện buổi sáng. Thỉnh thoảng, tôi lại sợ xe đầy những người làm công việc mà sáng hôm sau tôi sẽ phá hủy: những thợ in, thợ xếp chữ, những người vẽ phác, vẽ đồ hình, những nhà văn viết quảng cáo, các bà lo việc đóng gói, các em học nghề thuộc đủ mọi ngành. Từ 8 giờ tới 8 giờ rưỡi sáng, tôi phá hủy một cách tàn nhẫn sản phẩm của những nhà máy, nhà in đáng trọng, đồ hình của những họa sĩ thiên tài, lời quảng cáo của nhiều nhà văn tài ba. Giấy sơn, giấy láng, bản đồng in lõm vừa lấy ra từ bao bưu điện, tôi đã xếp ngay thành từng gói vừa người buôn giấy cũ, hoàn toàn không chút cảm xúc. Trong vòng một tiếng đồng hồ, tôi tiêu hủy kết quả của hai trăm giờ lao động, tiết kiệm cho hãng Ubia một trăm giờ nữa, kết cuộc tôi đạt được (ở đây tôi mắc phải biệt ngữ của mình) độ cô đặc 1:300. Khi vợ ông gác cổng mang bình cà phê không và những tờ quảng cáo du lịch đi khỏi, tôi hết giờ làm việc. Tôi rửa tay, cởi áo choàng lao động, mặc áo vét, lấy tờ báo ban sáng rồi rời khỏi hãng Ubia bằng ngõ sau. Tôi thong thả qua phố, vừa nghĩ cách thoát khỏi sự kiềm chế của chiến thuật để trở về với chiến lược. Cái làm tôi mê mẩn dưới dạng công thức giờ khiến tôi phải thất vọng, vì nó tỏ ra quá dễ thực hiện. Áp dụng chiến lược là việc kẻ thừa hành cũng có thể làm được. Có khả năng tôi mở trường dạy vứt bỏ. Cũng có thể tôi tìm cách đưa những người vứt bỏ vào làm ở các sở bưu điện hay ngay cả ở các nhà in; người ta có thể sử dụng những năng lực, giá trị và trí thông minh lớn lao, có thể tiết kiệm bưu phí, hơn thế nữa, còn có thể đạt tới mức độ những lời quảng cáo tuy vẫn được nghĩ ra, phác họa, biên soạn nhưng không cần phải in nữa. Tất cả những điều  này đều cần được nghiên cứu kỹ lưỡng.


Nhưng riêng cái trò vứt bỏ không thôi cũng chẳng còn gây hứng thú cho tôi nữa; những gì cần được cải tiến đều có thể suy ra từ công thức cơ bản. Đã từ lâu, tôi bận lo tính vấn đề giấy gói và bao bì: đây còn là vùng đất hoang, chưa gieo trồng gì cả, ở đây còn nhiệm vụ tránh cho nhân loại tránh rên xiết vì những mệt nhọc vô ích. Mỗi ngày có hàng tỉ động tác vứt bỏ, có biết bao năng lực bị phung phí, trong khi nếu sử dụng chúng, người ta có thể làm thay đổi cục diện thế giới. Điều quan trọng là có được phép thử nghiệm ở các cửa hàng bách hóa; có nên bỏ hẳn việc bao gói hay đặt người vứt bỏ thành thạo bên cạnh người gói hàng để mở ngay ra cái vừa được gói và xấp giấy lại thành từng xấp gọn gàng cho người buôn giấy cũ? Đó là những vấn đề cần cân nhắc. Dù sao đi nữa, tôi để ý thấy ở nhiều cửa hàng, khách cầu xin đừng gói món hàng họ mua nhưng đành phải chịu. Ở các bệnh viện thần kinh, ngày càng nhiều trường hợp người bệnh lên cơn đột phát khi mở gói chai dầu thơm, hộp bánh hạnh nhân hay bao thuốc lá. Tôi đang nghiên cứu kỹ trường hợp một anh láng giềng trẻ sống lây lất bằng nghề bình luận sách, nhưng nhiều khi không hành nghề được vì anh ta không tháo nổi sợi kẽm ràng chằng chịt gói sách, và dù gắng sức làm được việc đó, anh ta cũng không thể nào chọc thủng băng giấy tẩm cao su dầy cộm dán chặt hộp cáctông. Thanh niên ấy có vẻ loạn trí và chuyển sang bàn luận sách mà không mở gói ra, cứ để nguyên như vậy vào kệ sách. Độc giả thử tưởng tượng xem trường hợp này có hậu quả như thế nào tới đời sống tinh thần của chúng  ta.


Khi dạo phố giữa mười một giờ và một giờ trưa, tôi được biết thêm nhiều điều mới. Tôi kín đáo dừng chân ở các cửa hàng bách hóa, lượn quanh những bàn gói hàng; tôi đứng trước tiệm thuốc lá và nhà thuốc làm những thống kê nhỏ; thỉnh thoảng tôi cũng mua một món hàng nào đó để chính mình trải qua cái thủ tục vô nghĩa và tìm hiểu xem phải mệt nhọc như thế nào mới nhận được vật mình muốn có.


Như vậy, giữa mười một giờ và một giờ trưa, trong bộ quần áo hoàn hảo, tôi làm trọn vẹn hình ảnh một người khá sung túc để cũng có được những lúc nhàn rỗi. Người vào một quán ăn đàng hoàng lúc mười  một giờ. Lơ đãng chọn món ăn ngon nhất và viết trên miếng lót ly bia những ghi chú có thể là thị giá chứng khoán nhưng cũng có thể là mấy câu thơ mới nghĩ ra; người biết phê bình phẩm chất món thịt bằng những lời lẽ khiến anh hầu bàn tinh ý nhất biết ngay khách là tay sành ăn, người mà khi chọn món tráng miệng khéo ra vẻ lưỡng lự không biết nên dùng phomát, bánh ngọt hay kem và chấm dứt ghi chú bằng một động tác quả quyết, chứng tỏ đó là những thị giá chứng khoán. Gương mặt tôi càng lúc càng thêm vẻ ngẫm nghĩ khi tìm một tiệm cà phê để sử dụng thời gian tới ba giờ và đọc báo ra ban chiều. Lúc ba giờ, tôi lại vào cửa sau hãng Ubia để giải quyết thư từ phát buổi chiều, hầu hết là ấn phẩm. Chưa đầy mười lăm phút, tôi đã tìm ra mười hay mười lăm cái thư; tôi chẳng cần phải rửa tay, chỉ phủi bụi sơ sài, đem thư tới ông gác cổng, rời chỗ làm việc, lên xe ở quảng trường Đức Mẹ, cảm thấy mừng vì trên đường về không phải cười về câu đùa ở đường Schlieffen nữa. Khi một xe tải chạy qua, tấm bạt màu tối làm nền cho cửa kính xe điện, tôi lại nhìn gương mặt mình: nó có vẻ suy ngẫm, gần như trầm tư, và tôi thưởng thức cái thoải mái không phải thay đổi vẻ mặt, vì không ai đi cùng chuyến xe ban sáng lại hết giờ làm việc vào lúc này. Tới đường Roon, tôi xuống xe, mua vài ổ bánh mì nhỏ, một miếng pho mát hay xúc xích và cà phê xay sẵn rồi lên nhà, căn nhà nhỏ có những biểu đồ, những đường cong đầy biến động phủ kín tường. Giữa trục tung và trục hoành, tôi bắt lấy những đường thẳng nóng sốt cứ lên cao mãi: không đường nào của tôi lại hạ xuống, không công thức  nào tạo sự yên tĩnh cho tôi. Rên rỉ dưới gánh nặng của những ý tưởng về kinh tế, cả giữa lúc nước nấu cà phê đang sôi, tôi sắp xếp thước tính, những tờ ghi chú và giấy, viết.


Nhà tôi ít đồ đạc như một phòng thí nghiệm. Tôi đứng uống cà phê, ăn nhanh miếng bánh mì kèm thịt, chẳng còn là người biết thưởng thức như lúc trưa. Rửa tay, đốt điếu thuốc xong, tôi cho đồng hồ bấm giây chạy và mở gói thuốc an thần mua lúc dạo phố ban sáng: giấy gói ngoài cùng, bao kính trong, hộp, giấy gói bên trong, tờ chỉ dẫn cách dùng buộc dây cao su: ba mươi bảy giây. Sự hao tổn thần kinh khi mở gói thuốc lớn hơn sức bồi dưỡng thần kinh liều thuốc có thể mang lại cho tôi, nhưng chắc hẳn điều ấy có những lý do chủ quan tôi không muốn đưa vào những tính toán của mình. Rõ ràng cái bao có giá trị hơn nội dung, và giá mua hai mươi lăm viên thuốc vàng nhạt không cân xứng chút nào với giá trị thật sự của chúng. Đây là những cân nhắc có thể lạc vào phạm vi đạo đức nhưng trên nguyên tắc, tôi tránh nói chuyện đạo đức. Bình diện thuyết lý của tôi  là nền kinh tế thuần túy.


Một số lớn đồ đạc đang chờ tôi mở gói, nhiều tờ giấy chưa được đánh giá; mực xanh lá cây, đỏ, xanh da trời, tất cả đều để sẵn. Thường thường tới  khuya, tôi mới đi ngủ, nhưng vừa chợp mắt, các công thức liền đuổi bắt tôi, cả cái núi giấy vô dụng đè lên người tôi; một số công thức nổ tung như đinamít, tiếng nổ vang như tiếng cười giòn: đó là tiếng cười của chính tôi về câu đùa ở đường Schlieffen, phát xuất từ nỗi sợ người công chức hành chính. Có thể anh ta được quyền vào chỗ để bộ phiếu đục lỗ, tìm ra phiếu của tôi và nhận thấy ngoài dấu hiệu “mắc bệnh tâm thần”, nó còn mang dấu thứ hai nguy hiểm hơn có nghĩa “phi xã hội”. Không gì khó hơn việc bịt kín một lỗ nhỏ tí trong phiếu đục lỗ; biết đâu tiếng cười của tôi là giá phải trả cho sự vô danh của mình. Tôi không muốn thú nhận bằng lời nói điều tôi dễ viết ra giấy hơn rằng: tôi là người vứt bỏ.


 


 


giai thoại làm suy giảm đạo đức lao động


            Ở bến cảng nọ bên bờ biển phía tây châu Âu, một người đàn ông quần áo tồi tàn đang thiu thiu ngủ trong chiếc ghe đánh cá của mình. Một du khách ăn mặc lịch sự vừa lắp phim mới vào máy ảnh để chụp cái cảnh thanh bình ấy: trời xanh, biển xanh với những ngọn sóng êm êm trắng xóa, chiếc ghe đen, cái mũ dân chài đỏ. Cắc. Một lần nữa: cắc, và việc gì cũng  phải  làm ba lần mới hoàn hảo, thêm tiếng "cắc" thứ ba. Tiếng động khô khan, gần như thù nghịch khiến người đánh cá đang mơ màng kia giật mình thức dậy. Anh ta còn ngái ngủ, đứng dậy mò mẫm tìm bao thuốc lá, nhưng người du khách đã mau mắn chìa bao thuốc của mình ra, tuy không đến nỗi đút điếu thuốc vào miệng nhưng cũng đưa tận tay anh ta, rồi tiếng "cắc" thứ tư của hộp quẹt máy kết thúc những cử chỉ phục vụ lễ độ ấy. Sự lễ độ có hơi quá đáng, điều tuy khó nhận ra và cũng không lấy gì đo lường được nhưng đủ để gây nên vẻ ngượng ngập khó chịu  mà du khách - anh ta thông thạo tiếng nước sở tại - tìm cách vượt qua bằng một cuộc đối thoại:


- Hôm nay chắc anh sẽ trúng mối.


Anh đánh cá lắc đầu.


- Nhưng người ta bảo thời tiết thuận lợi kia mà.


Anh đánh cá gật đầu.


- Vậy anh không ra khơi sao?


Anh đánh cá lắc đầu, du khách càng lúc càng căng thẳng thần kinh hơn.


Chắc hẳn anh ta mong muốn điều tốt đẹp cho người ăn mặc tồi tàn kia và cảm thấy bứt rứt khó chịu trong lòng vì cơ hội người ấy sắp bỏ lỡ.


- À, anh không được khỏe phải không?


Tới lúc ấy, anh đánh cá mới chuyển từ ngôn ngữ cử chỉ sang lời nói thật sự:


- Không, tôi rất khỏe. Tôi chưa bao giờ khỏe như thế.


Anh ta đứng dậy duỗi người như muốn phô bày cái thân hình lực lưỡng của mình:


- Tôi cảm thấy tuyệt vời!


Vẻ mặt của du khách càng lúc càng tỏ ra bất hạnh hơn, anh ta không sao đè nén nỗi câu hỏi tưởng chừng như sắp làm vỡ tung lồng ngực:


- Vậy sao anh lại không ra khơi?


Câu trả lời lẹ làng, ngắn gọn:


- Vì hồi sáng sớm tôi đã ra rồi.


- Được mẻ khá không?


- Khá đến nỗi tôi không cần ra khơi lần nữa: tôi bắt được bốn con tôm hùm, gần hai chục cá ngừ…


Bấy giờ anh đánh cá mới tỉnh hẳn và bắt đầu cởi mở hơn. Anh ta vỗ vai trấn an người du khách mà vẻ mặt lo âu tuy biểu lộ sự quan tâm không đúng chỗ nhưng thật cảm động.


- Tôi còn đủ cho ngày mai, ngày mốt nữa kia. (Anh ta nói thế để làm nhẹ nỗi lo của người kia rồi chìa bao thuốc của mình ra): Anh cũng hút một điếu cho vui.


- Vâng, cám ơn.


Tiếng “cắc” thứ năm bật ngọn lửa đốt hai điếu thuốc. Người khách nước ngoài lắc đầu ngồi xuống bờ ghe, đặt máy chụp hình bên cạnh vì giờ anh ta cần cả hai tay để tăng sức thuyết phục lời nói của mình:


- Tôi không muốn nhúng  tay vào việc riêng của anh, nhưng anh thử nghĩ xem, nếu hôm nay anh ra khơi lần thứ hai, thứ ba hay thậm chí lần thứ tư, anh có thể bắt bốn năm chục, không chừng cả trăm con cá ngừ nữa… Anh thử nghĩ xem.


Anh đánh cá gật đầu, du khách nói tiếp:


- Không chỉ hôm nay, cả ngày mai, ngày mốt nữa, nói chung mỗi ngày đẹp trời anh đều ra khơi hai, ba hoặc bốn lần, anh biết điều gì sẽ xảy ra không?


Anh đánh cá lắc đầu.


- Trễ nhất một năm nữa, anh có thể mua động cơ, hai năm sau anh có thể mua thêm chiếc ghe thứ hai, rồi sau ba bốn năm một thuyền buồm. Với hai chiếc ghe và một thuyền buồm, dĩ nhiên anh sẽ đánh bắt được nhiều hơn – một ngày kia, anh có thể mua thêm một thuyền buồm nữa, anh có thể… (Vì quá hứng khởi nên anh ta nghẹn lời trong giây lát). Anh có thể xây dựng nhà làm lạnh, xưởng xông khói, cơ sở làm nước sốt, sau này anh còn có thể bay quanh với chiếc trực thăng của mình, phát hiện những đàn cá và đánh điện cho các thuyền buồm đến bắt. Anh có thể được cấp giấy phép đánh cá hồi, mở nhà hàng hải sản, trực tiếp xuất khẩu tôm hùm tới Paris không qua khâu trung gian – rồi anh…


Khách lại nghẹn tiếng vì hứng khởi. Nhưng rồi anh ta lắc đầu, lòng buồn rười rượi, gần như mất cả thú vui du lịch, anh ta nhìn nước triều lên chầm chậm, mấy chú cá con nhảy cỡn trên ngọn sóng.


- Rồi anh…


Anh ta lại nghẹn lời vì xúc động. Anh đánh cá vỗ vỗ lưng anh ta như khi một đứa trẻ bị sặc.


- Rồi sao anh?


- Rồi… (người khách cố dằn xúc động xuống) rồi anh có thể yên tâm ngồi đây, thiu thiu ngủ trong ánh mặt trời hay ngắm nhìn biển cả tuyệt vời.


- Nhưng điều đó tôi đã có thể làm ngay bây giờ, tôi đang yên tâm ngồi nơi đây và thiu thiu ngủ, nhưng rồi tiếng bấm máy của anh làm tôi tỉnh dậy.


Người du khách sáng mắt ra và rời nơi đó trong sự suy ngẫm, bởi vì trước đây anh ta đã từng nghĩ rằng mình làm việc để một ngày nào đó không cần phải làm việc nữa. Lòng anh không còn dấu vết nào của sự thương hại người đánh cá ăn mặc tồi tàn kia nữa, duy một chút ganh tị mà thôi.


Hết


Nguồn: Đêm thánh vô cùng. Truyện của Heinrich Böll. Phạm Hải Hồ dịch từ nguyên bản tiếng Đức. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Lương Văn Hồng và Triệu Xuân chủ biên. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info








(1)  Trong truyện thần thoại Hy Lạp, Penelope là người vợ trung thành của Odysseus. Khi người anh hùng còn “lạc lối đường xa”, Penelope đã khôn khéo từ khước những kẻ muốn ép nàng làm vợ.




(2)  Có lẽ là những tù binh Đức được trả về quê hương.




(1)  Trong tiếng Đức, động từ thường thay đổi theo các ngôi (thứ nhất, thứ nhì, thứ ba) thời (hiện tại, quá khứ, quá khứ chưa hoàn thành…), dạng (chủ động, bị động) và lối (lối vô địch, lối trình bày…).




(1)  Goerg Friedrich Hašndel (1685-1759): nhà soạn nhạc gốc Đức. Từ 1712 trở đi, Hašndel gần như chỉ hoạt động ở Luân Đôn, nơi ông đã tạo nên những tác phẩm bất diệt. Largo là bản nhạc cực chậm.




(1)  Chữ viết tắt của đội quân tuyên truyền chính trị của đảng Quốc xã Đức (Srurmabteilung).




(1)  Một nước thuộc Vương quốc Anh (từ Hán Việt: Tô Cách Lan).



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »