tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28933128
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
16.09.2009
FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX
Nghìn lẻ một ngày - Lời giới thiệu của nhà văn, Dịch giả Phan Quang

 


Cấu trúc hai bộ truyện giống nhau: Có một truyện mở đầu làm khung cảnh để từ đấy nhìn ra một khoảng trời và lung linh muôn vàn vì sao cổ tích, ở đó người trần thế và thần linh chung sống với nhau, thực hư trộn lẫn, trí tưởng tượng bay bổng lên thiên đàng, xuống địa ngục rồi trở về trái đất, bên cạnh nhiều chi tiết huyễn hoặc là cuộc sống thực tại được miêu tả bằng những nét bút tả chân... Truyện mở đầu xác lập vị trí của người dẫn chuyện và ấn định chủ đề. ở bộ truyện trước: Nghìn lẻ một ngày, một cô gái trinh kể chuyện nhằm làm vui tai một tên bạo chúa.  Tên này để trả thù bà hoàng hậu thất tiết, đã quyết định cứ mỗi đêm bắt một cô gái trẻ vào thoả mãn dục vọng rồi sáng hôm sau sai chém đầu ngay, cho người đàn bà ấy không còn có cơ hội ngoại tình nữa. Câu chuyện cô kể do đó bắt buộc phải hấp dẫn, truyện trước mở nút  kéo truyện sau nhập cuộc; truyện sau phải hay, phải mới hơn truyện trước; và bao giờ câu chuyện cũng phải ngưng lại nửa chừng ở đoạn gay cấn nhất, để vua bằng lòng chờ đến sáng hôm sau - có nghĩa hoãn bản án tử hình thêm một ngày.


Ở bộ truyện sau: Nghìn lẻ một ngày, một bà vú nuôi theo yêu cầu của một vua cha. Bà tự nguyện làm người kể chuyện hầu nàng công chúa mắc một chứng bệnh điên khùng: ghét đàn ông tới mức bày cách hãm hại những chàng hoàng tử bất hạnh đam mê sắc đẹp của nàng dám cả gan đến ngỏ lời cầu hôn. Bà nhũ mẫu tự đề ra nhiệm vụ: qua các chuyện kể của mình, chứng minh người trần mắt thịt cũng như các vị thần linh có phép màu biến hoá, không thiếu những mối tình chung thuỷ; không thiếu những chàng trai bất chấp thăng trầm một lòng thuỷ chung với người tình: "trong đời chỉ nên yêu một lần, song đã yêu thì yêu đến trọn đời". Bà phải kể sao cho chuyện sau hấp dẫn hơn chuyện trước, để nàng công chúa cưng không chán, tiếp tục nghe kỳ đến lúc khỏi bệnh và chịu đi tìm người làm chồng mới thôi.


Các truyện kể trong hai bộ truyện do đó độc lập với nhau, mỗi truyện là một thể hoàn chỉnh song đều có quan hệ chằng chịt, thậm chí có chung một nhân vật chính, được gắn kết lại theo cách móc xích, móc nào cũng có thể coi là móc chính. Hoặc theo lối ngăn kéo: chuyện trước chứa chuyện sau, chuyện sau đựng chuyện sau nữa, cứ thế kéo dài tưởng như vô hồi kỳ trận, cho đến sau một nghìn lẻ một đêm (hoặc một nghìn lẻ một ngày) mới thắt nút lại và kết thúc.


Kết thúc chuyện nào cũng có hậu: ở bộ truyện trên, sau nghìn lẻ một đêm, người kể chuyện sinh hạ cho nhà vua ba hoàng tử xinh như mộng, không những được tha tội chết mà còn được phong làm hoàng hậu. ở bộ truyện dưới, sau nghìn lẻ một ngày, nàng công chúa điên khùng rời hoàng cung bôn ba đi tìm chàng trai làm mình say đắm - một hoàng tử, đương nhiên - để rồi khi hoàng tử lên nối ngôi cha, sẽ trở thành hoàng hậu.


Hai bộ truyện còn giống nhau ở thành công vang dội. Thành công của bộ Nghìn lẻ một đêm, theo các nhà nghiên cứu, chưa từng có ở Pháp hoặc bất kỳ một nước nào trước đó. Trong vòng bảy mươi tám năm, từ khi tập I đến với bạn đọc (năm 1704) cho đến năm 1782, nó được tái bản 70 lần. Từ tiếng Pháp, bộ truyện A rập được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ chính ở châu Âu, đi vòng quanh thế giới, và được dịch trở lại tiếng A rập. Nó gợi đề tài và cảm hứng cho người đời sau sáng tạo nên nhiều không kể xiết những vở kịch thoại, kịch ca, kịch nhạc, điện ảnh, hội hoạ... lừng danh trên thế giới.


Đề tựa bản dịch hoàn chỉnh xuất bản bằng tiếng Nga, đại văn hào Maxime Gorki đánh giá bộ sách là "di sản tuyệt diệu và đồ sộ nhất của sáng tác truyền khâủ dân gian",  là "một công trình dệt gấm bằng từ ngữ, phủ lên trái đất một tấm thảm đẹp lạ lùng". Một điều thú vị nữa, một văn hào khác sáng tác bằng tiếng Tây Ban Nha là Gabriel Marquez, Giải thưởng Nobel về văn chương, trong cuốn đầu bộ hồi ký ba tập mới công bố năm nay (2003) cho biết, cuốn sách tập đọc đầu tiên của cậu bé Gabriel học trường Montessori ở một làng quê mất hút một nơi nào đấy giữa nước Colombi xa xôi bên kia bờ Đại Tây Dương chính là truyện... Nghìn lẻ một đêm. 


Thành công của bộ Nghìn lẻ một ngày, ít nhất trong hơn một trăm năm đầu, không mấy kém. Từ tiếng Pháp bộ truyện được dịch ra các tiếng Đức, Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và... Ba Tư. Thế kỷ 18, riêng ở Pháp,  Nghìn lẻ một ngày được tái bản mười tám lần, thế kỷ 19 mười lăm lần...  Cũng như Nghìn lẻ một đêm, bộ Nghìn lẻ một ngày được đưa vào giáo trình văn học bậc trung học phổ thông ở Pháp từ thế kỷ 18, và gợi đề tài, cảm hứng cho nhiều bậc tài danh sáng tạo những công trình văn học, nghệ thuật xuất sắc. Chỉ một trường đoạn trong chuyện Hoàng tử Calap và công chúa nước Trung Hoa đã gợi hứng để các tác gia nước ý sáng taọ nên hai tác phẩm công diễn: kịch thoại Turandot của bá tước Gozzi (1720-1806) và kịch nhạc cùng tên của nhạc sĩ tên tuổi Giacomo Puccini (1858-1924). Puccini là tác giả tài hoa về nhiều loại hình âm nhạc: giao hưởng, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo... Ông là người chuyển thể thành công nhiều tác phẩm văn học sang nhạc phẩm, trong đó có Manon Lescaut (1893), La Bohême (1896), Madame Butterfly (1904)... Lại vẫn như  Nghìn lẻ một đêm, bộ Nghìn lẻ một ngày cũng được biên tập để xuất bản cho độc giả trẻ tuổi. Nổi tiếng nhất ở Pháp là bộ sách của Nhà xuất bản Delagrave, Paris, tuy đã lược bớt một số truyện vẫn dày tới 813 trang và 500 minh hoạ. Truyện nàng Repxima  đức hạnh, truyện cuối cùng của bộ Nghìn lẻ một ngày, không rõ từ bao giờ trở thành một câu chuyện dân gian phổ biến nhất tại... Thuỵ Điển.


Bộ Nghìn lẻ một ngày tuy ra đời sau khi bộ Nghìn lẻ một đêm toả sáng chói lọi, vẫn được nhiều nhà văn và học giả đương thời đánh giá cao. Văn hào và triết gia đi tiên phong Thế kỷ ánh sáng: Voltaire (1694-1778), người mà người ta đồn có lần cho rằng trong số các tác gia lỗi lạc cùng thời với ông như Jean Jacques Rousseau. Diderot, Montesquieu, Bernadin de Saint Pierre... chỉ mỗi một Lesage có thể sánh ngang văn tài của mình, đã đánh giá cao bộ Nghìn lẻ một ngày.  Voltaire viết trong bộ Thời đại vua Louis XIV của ông như sau: "... Người ta đọc được của F. Pétis de la Croix Chuyện Thành Cát Tư Hãn và Chuyện Tamerlan (tức Timour-I Lang) dựa theo các tác gia cổ người A rập, cùng nhiều tác phẩm có ích khác; tuy nhiên bản dịch bộ Nghìn lẻ một ngày của ông là cuốn sách có nhiều người đọc hơn cả..." Tại một bài khác, Voltaire lại viết: "Nghìn lẻ Một đêm hay Nghìn lẻ Một ngày đều giống như nhau thôi, đều cùng là Nghìn lẻ Một" - ý nhà văn muốn nói cả hai tác phẩm cùng hấp dẫn, phong phú tuyệt vời không mấy khác nhau.


 


Tu sĩ J. P.Nicéron (1685-1738), một tác gia chuyên về tiểu sử các nhà văn Pháp thế kỷ 18 bình: "Các truyện trong Nghìn lẻ một đêm do A. Galland dịch thường có nhược điểm là không mấy giống thực tế. Các truyện trong Nghìn lẻ một ngày, do F. P. De la Croix dịch một phần từ tiếng Ba Tư tài tình hơn nhiều và gần thực tại hơn nhiều, tuy không phải sự thần kỳ không ngự trị trong nhiều truyện, đúng như sở thích của những người phương Đông".


R. F. Burton (1821-1890) là dịch giả thành công nhất trong số người dịch bộ Nghìn lẻ một đêm của A. Galland ra tiếng Anh, khẳng định: Nghìn lẻ một ngày trên thực tế là một sáng tác. Trong phần lớn trường hợp, nhiều truyện kể trong bộ ấy là nhứng sáng tác tài tình bắt nguồn từ chỗ vay mượn (các truyện dân gian) rồi diễn tả lại một cách rất tự do".


 


Một vụ án văn chương


Hai bộ truyện sinh đôi ấy, đúng như lời mở đầu câu chuyện nổi tiếng Ali Baba và bốn mươi tên cướp viết, "những tưởng số phận hai người rồi cũng sẽ giống nhau, ai ngờ sự tình xui nên khác". Sau gần hai thế kỷ lừng lẫy không mấy kém người anh, bộ Nghìn lẻ một ngày bị thất sủng trước bạn đọc. Phải chờ cả trăm năm, đến cuối thế kỷ 20, công bằng mới tái lập, Nghìn lẻ một ngày mới có dịp tái xuất giang hồ.


 


Trong Lời giới thiệu do chính F.P. De la Croix viết năm 1710 và in ở đầu tập I, ông khẳng định bộ sách của mình được dịch từ tác phẩm của tu sĩ Mocles mà ông có dịp giao du năm 1675 khi đang làm việc ở thành phố Ispahan (Ba Tư). Tác phẩm ấy được tu sĩ Mocles dịch từ một bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, nhan đề Al-farage bad Al-shida, có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn, mà "Thư viện Hoàng gia của ta (Pháp) cũng có lưu trữ một bản". Tại Lời thưa trước I in đầu tập II và Lời thưa trước II, De La Croix hai lần khẳng định điều ấy. Vấn đề đặt ra đối với người đời sau là có tu sĩ Mocles - tác gia thật hay không (mặc dù tên ông ấy đã được đưa vào bộ Từ điển thư mục thế giới, cổ đại và hiện đại của Michaud /1811-1828), và có thật nguyên bản Niềm vui sau nỗi buồn lưu trữ ở Thư viện Hoàng gia (Paris) hay không.


 


Ngay từ cuối thế kỷ 18, đã có ý kiên nghi ngờ lời giới thiệu của De La Croix. Trong một chuyến sang Pháp, nhà đông phương học người áo là J. de Hammer (1774-1856) thân hành đến Thư viện Hoàng gia đào bới. Ông tuyệt nhiên không nhìn thấy nguyên bản Niềm vui sau nỗi buồn của tu sĩ Mocles. Ông đi tới kết luận Lời nói đầu của De la Croix cũng là một "truyện kể". Theo chân ông, nhà đông phương học người Pháp A. Loiseleur Deslongchamps (1805-1840) cũng cho đấy một "chuyện ngụ ngôn". Người ta còn nhấn mạnh, trong các cuốn sách ghi chép về những chuyến đi của ông sang các nước Trung á, tuy De La Croix có thuật lại khá chi tiết việc gặp tu sĩ Mocles tại thành phố Ispahan năm 1675, và sau đấy giữa hai người có mối quan hệ thầy trò, song tuyệt nhiên trong nhật ký ông không đả động đến bộ sách Hezaryec (Nghìn lẻ một ngày) mà ông nói "được tu sĩ cho phép sao giữ một bản".  Rõ ràng người làm nên bộ truyện Nghìn lẻ một ngày không phải tu sĩ Ba Tư Mocles mà chính là nhà đông phương học người Pháp F. P. De la Croix.


 


Câu chuyện trở thành một vụ án văn chương. F.P. De la Croix bị các nhà nghiên cứu văn học cổ đại phê phán nặng nề về sự không trung thực. Lý do? Chắc hẳn, như lời nhà nghiên cứu J.A.S. Collin de Plancy nói trong lời nói đầu bộ Nghìn lẻ một ngày tái bản năm 1826, "De la Croix sợ nếu nói thật mình là tác giả, có thể ảnh hưởng đến thành công của các truyện kể trước bạn đọc, vì người Pháp xưa nay vẫn chuộng các bản dịch từ tiếng nước ngoài hơn các kiệt tác của nước mình".


 


Tuy nhiên, ngay thời bấy giờ, đã có không ít người lên tiếng bênh vực De La Croix, khẳng định giá trị độc đáo của bộ Nghìn lẻ một ngày. Nhà văn La Harpe, trong cuốn Giáo trình văn học cổ đại và hiện đại (xin lưu ý: Giáo trình) đánh giá đúng mực: "Các truyện kể Ba Tư trong Nghìn lẻ một ngày có cơ sở vững chãi hơn các truyện trong Nghìn lẻ một đêm. Chủ đề chính là thuyết phục một nàng công chúa từ chỗ nặng định kiến về đàn ông, đi đến tin rằng trong giới mày râu chẳng thiếu gì người yêu chung thuỷ (...) Chúng ta cùng biết ơn Antoine Galland và Pétis de La Croix - biết ơn thật sự hai ông đã có công giới thiệu với chúng ta các truyện kể A rập và truyện kể Ba Tư. Ông trước viết văn cẩu thả, ông sau viết chuẩn mực hơn, văn cả hai ông đều rất tự nhiên".  Nhà nghiên cứu Collin de Plancy còn dứt khoát  hơn: "Dù thế nào, nếu lòng biết ơn của chúng ta đối với Pétis de La Croix với tư cách nhà dịch thuật có kém đi (sau khi phát hiện đấy không phải là một bộ truyện dịch), thì chúng ta càng biết ơn ông nhiều hơn với tư cách nhà sáng tác. Quang vinh của ông vì vậy chẳng giảm chút nào".


 


Ngày nay, sau bao công trình nghiên cứu, nhà đông phương học Pal Sebag đã có đủ cơ sở để khẳng định: phần lớn các truyện kể trong bộ Nghìn lẻ một ngày dựa vào bản cuốn sách viết tay bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nhan đề Al-Faraj bad al-shidda có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn. Đây là một tập gồm bốn mươi truyện kể, dịch từ tiếng Ba Tư sang. Những bản viết tay ấy, vào cuối thế kỷ XVII có ở Thư viện Hoàng gia Pháp, và De la Croix có thể tìm đọc bộ sách ở đấy.


 


Ngày nay, sau tròn ba thế kỷ, có lẽ đến lúc có thể quả quyết như Paul  Sebag: "Bộ sách Nghìn lẻ một ngày mà một công trình hoàn hảo nhất của nghệ thuật kể chuyện theo phong cách thế kỷ 18... Độc giả nào chưa đọc bộ sách ấy, chưa thể nói mình đã thông hiểu mọi tuyệt tác của nền văn học nước nhà". Gần đấy, trên nguyệt san Thế giới ngoại giao số ra tháng 10-2003 vừa qua, nhà phê bình văn học Pierre  Lepape viết: "Phải chăng thời điểm của Nghìn lẻ một ngày cuối cùng đã trở lại?  Có phải cuối cùng người ta thôi không coi F.P. De La Croix như một người làm đồ giả về tác phẩm hư cấu nữa, mà đánh giá ông thật sự là một nhà bác học dành thời giờ sáng tác trong những giờ thư giản? Bộ sách ấy xứng đáng giành lại chỗ nó đã có đúng như vào thời cuối triều đại vua Louis XIV, sát cánh bên bộ Nghìn lẻ một đêm của A. Galland. Ông này so với De La Croix có thể là nhà phiên dịch trung thành hơn, song lại là nhà văn không được trau chuốt bằng".


 


Về dung lượng, bộ Nghìn lẻ một ngày dài chỉ bằng một nửa người anh sinh đôi của nó: Nghìn lẻ một đêm. Có phải nguồn truyện cổ Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ không phong phú bằng nguồn truyện cổ A rập? Hay nhà đông phương học của chúng ta cạn tư liệu? Các nhà nghiên cứu về F.P. De la Croix vừa phát hiện thêm một chi tiết thú vị. Tại Lời thưa trước I, tác giả cho biết "mặc dù bận trăm công nghìn việc khác, người dịch vẫn tiếp tục công việc của mình vào những giờ phút rỗi rãi, và hy vọng sẽ cung cấp cho người đọc mỗi tháng một tập Nghìn lẻ một ngày". Hoá ra, ngoài hiệu ứng của thành công vang dội của bộ Nghìn lẻ một đêm, còn có một động lực cá nhân khác nữa thôi thúc De la Croix cố dành những giờ phút rỗi rãi để làm bộ sách, là nhằm mua vui cho một "người đọc" hào hoa: nàng Marie-Adélaide de Savoie, quận chúa xứ Bourgogne. Vẫn nhà nghiên cứu Paul Sebag cung cấp cho chúng ta tư liệu mới. Ông viết trong phần Cuộc đời và tác phẩm của F.P.De la Croix:


 


"1710-1712. Xuất bản bộ Nghìn lẻ một ngày, truyện kể Ba Tư do F.P. De la Croix dịch ra tiếng Pháp, Paris 1710-1712, năm tập, khổ in-12. Căn cứ và một tư liệu chúng tôi vừa phát hiện, hoá ra De la Croix biên soạn bộ sách ấy và những giờ rỗi rãi của ông, nhằm giải trí cho Marie-Adélaide de Savoie, quận chúa xứ Bourgogne, và chính "sự qua đời của nàng quận chúa ấy" mất vì bệnh ngày 12 tháng 2 năm 1712 ở tuổi hai mươi sáu, đã khiến tác giả ngưng một công trình đáng ra còn có thể "đi xa hơn nữa" (Theo tư liệu lưu trữ tại Thư viện L'Arsenal, Paris*, hồ sơ 5495, tập 75).


 


"4-12-1713. F.P. De la Croix, bị kiệt lực sớm vì làm việc quá sức, mất tại Paris và được an táng trong khuôn viên nhà thờ Saint Sulpitre. Báo La Gazette de Paris đưa tin về sự qua đời của nhà đông phương học như sau: Ngài Francois Pétis de La Croix, thư ký - phiên dịch của nhà vua và giáo sư ngôn ngữ và văn chương A rập tại Đại học hoàng gia, một người có năng lực phi thường và rất đáng tin cậy về các ngôn ngữ, A rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Armêni, vừa qua đời ngày 4-12-1713, thọ sáu mươi tuổi.


"Ông để lại trong tình trạng bản viết tay một số lượng rất đáng ngạc nhiên nhiều tác phẩm dịch từ tiếng A rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Armêni, nhiều từ điển song ngữ và sách bình chú về nhiều chủ đề khác nhau, con trai ông, Alexandre Louis Marie và linh mục Goujat, trong hai công trình tiến hành độc lập, đã thống kê và bổ sung đầy đủ".


 


Nhà Đông phương học lỗi lạc


Francois Pétis De la Croix, (sinh năm 1653, qua đời ngày 4-12-1713, thọ sáu mươi tuổi) là người cùng thời với Antoine Galland, kém ông này bảy tuổi nhưng lại ra đi trước hai năm, người ta bảo do kiệt sức vì làm việc quá nhiều.  Khi ông mất, Antoine Galland ghi vào Nhật ký của mình: "Sáng nay (ngày 9-12-1713), đọc báo La Gazette, tôi mới hay tin ông Francois Pétis de La Croix, thư ký - phiên dịch của Nhà Vua về ba thứ tiếng phương Đông: A rập, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ, giáo sư Đại học Hoàng gia môn ngôn ngữ A rập, đồng nghiệp của tôi, đã qua đời ngày 4 tháng này, thọ sáu mươi tuổi. Cho đến nay, chưa có một người châu Âu nào nắm vững cả ba ngôn ngữ ấy hoàn hảo như ông, không chỉ trong việc dịch xuôi hay nói chuyện mà cả trong sáng tác. Ngoài ba thứ tiếng ấy, gần đây do nhu cầu của Triều đình có một số văn bản tiếng Armêni cần dịch (ra tiếng Pháp), ông còn học và thông thạo thêm tiếng Armêni. Ông để lại nhiều tác phẩm dịch từ tiếng A rập và tiếng Ba Tư, đặc biệt cuốn Cuộc đời Tamerlan, nguyên tác tiếng Ba Tư của Sherfeddin, mà ông vừa chỉnh lý lại để đưa in".       


            De la Croix là một trong những người châu Âu đi tiên phong trong môn đông phương học. Ông sinh năm 1653, con trai một viên chức làm thư ký và phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ và A rập. Ngay từ nhỏ, cậu Francois đã được quan tâm đào tạo nhằm nối nghiệp cha sau này. Cậu không chỉ học các ngôn ngữ phương đông, mà còn tỏ ra xuất sắc các môn toán, thiên văn, địa lý, hội hoạ và âm nhạc. Chưa đến mười bảy tuổi, ông đã được Colbert hồi bấy giờ là thủ tướng của vua Louis XIV (còn được người đương thời tôn vinh là Ông vua toả sáng như Mặt trời) gửi sang Trung Đông để bổ tức về ngôn ngữ, văn học, nghiên cứu phong tục tập quán cũng như các môn khoa học, nghệ thuật và tôn giáo các dân tộc phương đông.


 


Trong suốt mười năm, từ 1670 đến 1680, chàng thanh niên  chu du qua các nước Xyri,  Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, lưu trú một thời gian dài tại các thành phó Alep, Ispahan và Constantinop (nay là Istanbun) để học thêm ngôn ngữ văn học cũng như khẩu ngữ của người A rập, người Ba Tư và người Thổ Nhĩ Kỳ. Thời gian lưu học ở Alep, mặc dù chưa đến hai mươi tuổi ông đã viết trực tiếp bằng tiếng A rập một cuốn sách về tiểu sử vua Louis XIV và chiến dịch đánh Hà Lan do nhà vua ấy tiến hành. Khi nước Pháp lần đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với đế quốc otôman và cử đại sứ đặc mệnh toàn quyền đến Thổ Nhĩ Kỳ, De La Croix làm trợ lý cho hai đại sứ liên tiếp.


 


Đọc các nhật ký và ghi chép ông để lại, người ta thấy ông đã đặt chân đến nhiều thành phố và vùng nông thôn sau này sẽ được nhà văn miêu tả khá chân thực sinh hoạt của người dân trong bộ Nghìn lẻ một ngày. Có thể kể: Alep, Batđa, Điabêkia, Muxen (hoặc Muxun), Ispahan, Constantinop, Smiêc, Livuanơ, rồi thời gian sau Maroc, Algiê, Cairo... Là người ham mê sưu tầm sách cổ đông phương, ông mang về làm giàu cho Thư viện Hoàng gia Pháp rất nhiều bản sách in và sách chép tay bằng tiếng A rập, Ba Tư hoặc Thổ Nhĩ Kỳ.


 


Sau đây là một đoạn nhật ký của chàng trai hiếu học về cuộc gặp gỡ tu sĩ Mocles ở Ispahan - Mocles là người gần bốn mươi năm sau được ông giới thiệu với độc giả Pháp là tác giả bộ Nghìn lẻ một ngày bằng tiếng Ba Tư: "Thời gian này tôi còn phải học thêm một cuốn sách rất khó về thần học nhan đề là Mesnevi  gồm  ít nhất chín vạn câu văn vần. Tôi muốn tìm một người thuộc lòng bộ sách ấy để học, nhưng vì thiếu tiền không thể tìm ra, đành phải xin gặp vị Tu sĩ Bề trên dòng tu Mewlevis. Nhờ một người bạn giới thiệu, tôi được gặp vị tu sĩ ấy. Tôi vừa ngỏ lời chúc tụng xong, ông đã đồng ý cho phép tôi trong khoảng thời gian năm, sáu tháng tới, được nhiều lần gặp ông để ông dạy bảo cho. Tôi học thành công cuốn sách ấy. Vị tu sĩ ấy đâu phải là người sẽ đồng ý nhận tiền công, tôi tặng ông ba cái âu sứ lớn, và được ông vui lòng nhận cho. Tên ông là tu sĩ Mocles. Thời gian này ông đang cùng mười hai môn đệ chuẩn bị sáng lập một giáo phái mới..."


 


Cuối năm 1680, trở về Paris, De La Croix được cử vào chức vụ làm thư ký phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngữ Trung Đông, mà thân sinh ông vẫn giữ từ trước. Năm 1692, được phong làm giáo sư thực thụ dạy ngôn ngữ và văn học A rập ở Đại học Hoàng gia, đồng thời vẫn tiếp tục làm thư ký - phiên dịch cho triều đình. Ông tập trung công sức vào việc trước tác và phiên dịch sách tiếng A rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Armêni. Ông để lại một thư mục dày dặn về các công trình của mình.


 


Việc đầu tiên của F.P. De La Croix về trước tác là chỉnh lý và cho xuất bản cuốn Lịch sử Thành cát tư Hãn mà người cha khi qua đời chưa kịp hoàn thành. Sau đấy, xuất bản cuốn Truyện bà hoàng Ba Tư và các vị tể tướng, gồm bôn mươi truyện kể gốc Thổ Nhĩ Kỳ (1707) và bộ Nghìn lẻ một ngày (1710-1712). Sau khi ông qua đời, con trai ông cho xuất bản cuốn Chuyện Timua-Bec (còn gọi là Tamerlan) do ông biên soạn. Thật ra, số lượng những tác phẩm đã được in của De La Croix chẳng nghĩa lý so với toàn bộ các công trình hết sức đồ sộ gồm trước tác, biên dịch, ghi chép, nhật ký... rất cần thiết cho những ai thời ấy muốn đi sâu nghiên cứu phương đông. Cuối bộ sách Thế kỷ của Louis XIV , phụ lục về Danh mục các nhà văn Pháp dưới triều đại của ông vua ấy, nhà văn và triết gia Voltaire dành cho De La Croix những dòng sau: "Ông là một trong những người vị thủ tướng vĩ đại Colbert khuyến khích và thưởng công xứng đáng. Vua Louis XIV đã cử ông sang Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư từ năm mười sáu tuổi để học các ngôn ngữ phương đông. Có mấy ai ngờ ông đã biên soạn một cuốn sách bằng tiếng A rập  được đánh giá rất cao ở phương đông về cuộc đời  vua Louis XIV? Ông còn viết cuốn Lịch sử Thành cát tư Hãn và Lịch sử Tamerlan, dựa trên các tác gia A rập thời cổ, và nhiều cuốn sách có ích khác. Nhưng bản dịch Nghìn lẻ một ngày là cuốn sách có nhiều người đọc hơn cả. Chẳng là: Con người là băng giá trước sự thật/ Nhưng lại là lửa hồng trước những điều tưởng tượng ra (La Fontaine, IX, 6)"


 


Sau nhiều chục năm nghiên cứu, nhà đông phương học Paul Sebag không ngần ngại gọi tác giả Nghìn lẻ một ngày là một nhà bác học.


 


Đạo Hồi, A rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ...


Người đọc Nghìn lẻ một ngày cũng như Nghìn lẻ một đêm thường gặp những khái niệm lịch sử, địa lý, tôn giáo... Trên thực tế, đất nước của các vị hoàng đế Ba Tư trong truyện không phải nước Ba Tư như chúng ta thường hiểu, càng không đồng nhất với Cộng hoà Hồi giáo Iran ngày nay. Cũng như vậy, nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại chỉ là một phần nhỏ còn lại của đế quốc otôman do các sultan ngày xưa trị vì. Và giữa đế quốc Ba Tư huyền thoại và đế quốc otôman Thổ Nhĩ Kỳ có khoảng cách chừng... hai ngàn năm lịch sử.


 


Ba Tư là một trong những dân tộc và quốc gia cổ nhất hành tinh. Nước Ba Tư thời thượng cổ có một nền văn minh tồn tại gần hai nghìn năm, từ khoảng năm 2500 đến năm 640 trước kỷ nguyên công giáo (quen gọi là công nguyên - C.N.). Đấy là nền văn minh êlamit, di sản văn hoá lâu đời nhất của người Ba Tư, dù trên thực tế những người tạo dựng nên nền văn minh ấy không phải tổ tiên đích thực của người Iran hiện nay. Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IV trước C.N. là đế quốc Ba Tư của người Mêdet và ngườ Acsênêit. Dưới triều các hoàng đế Xurut và Đariut, đế quốc Ba Tư trải rộng khắp vùng Trung Cận Đông. Phía Nam, từ phần đất dọc bờ nam Địa trung hải, qua toàn bộ lưu vực sông Nin, phần bắc lục địa A rập, đến vùng Lưỡng Hà, rồi đi dọc theo vịnh Ba Tư đến tận toàn bộ lưu vực sông Inđut của ấn Độ. Phía Bắc từ Maxêđoan thuộc châu Âu, theo bờ nam Hắc hải tới bờ nam biển Caspi, vươn sang vùng nam biển Aran và đi quá kinh đô Xamacan (nay thuộc Uzbêkistan) rất xa về phía đông.


 


Với cuộc chính phục của vua Alêchxan Đại đế, đế quốc Ba Tư bước vào thời kỳ Hi lạp hoá, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn minh cổ đại Hy Lạp. Dĩ nhiên nền văn minh Hya Lạp gặp sức đối kháng mãnh liệt của người Ba Tư mong muốn trở lại thời hoàng kim của mình thời trước. Đế quốc Ba Tư sau cùng là triều trại các hoàng đế thuộc dòng Xaxanit (từ thế kỷ III đến thế kỷ VI sau C.N.).


 


Nhà sử học Philippe Gignoux viết về thời kỳ này như sau: "Dưới triều đại của  đại đế Xosro Anusiavan (531-579) và cháu ông, đại đế Xosro Paviz (591-628), sự huy hoàng tráng lệ của các triều đình Ba Tư đạt tới đỉnh cao và lưu vào huyền thoại cho đến ngày nay. Hoàng đế Anusiavan là một điển hình nhà vua công minh, hào hiệp theo truyền thông A rập. Ông duy trì được hoà bình, tiến hành nhiều cuộc cải cách, xây dựng nhiều thành phố. Riêng vùng Xtêsiphon đã là một tổng thể gồm bảy thành phố liên hoàn. Đây là một thời kỳ rực rỡ của văn học và triết học. GIới tăng lữ nắm trong tay toàn bộ nền giáo dục. ảnh hưởng của Hy Lạp về y học, của ấn Độ về văn học rất đậm nét".**


 


Với sự ra đời của đạo Hồi do Mahomêt sáng lập và thế kỷ thứ VII, đặc biệt sau các cuộc chinh phục của các Calip (hoàng đế và thống lĩnh tín đồ hồi giáo) kế vị Mahômêt, đế quốc Ba Tư bước vào thời kỳ Hồi giáo hoá. Kinh đô đượcchuyển sang Batđa nay là thủ đô Irăc. Xuất hiện một nền văn minh mới, hệ quả giao thoa giữa hai nền văn minh lớn: Ba Tư và A rập (còn có tên Văn minh A rập - Ba Tư). Chói lọi nhất (và cũng nhiều rối rắm nhất) thời kỳ này là vương triều của hoàng đế Harun-an-Rasit (766-809), một nhân vật lịch sử xuất hiện thường xuyên trong hai bộ Nghìn lẻ một đêm và Nghìn lẻ một ngày. Dưới triều đại của ông, kinh thành Batđa được coi như một trung tâm chính trị văn hoá huy hoàng tráng lệ nhất thời bấy giờ.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một ngày. Phan Quang dịch và giới thiệu, theo bản tiếng Pháp LES MILLE ET UN JOURS của nhà Đông phương học lỗi lạc Francois Pétis de La Croix. Nhà xuất bản Garnier Frères Paris 1919. NXB Văn học, 2005.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện cổ Grimm (100) - Anh em Grimm 31.05.2019
Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 11.01.2019
Khảo dị về truyện Tấm Cám (1) - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
xem thêm »