tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28924959
Lý luận phê bình văn học
09.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (7)

3. Thứ ba, trong một quan hệ nhất định, ngay cả nội dung của nghệ thuật cũng vay mượn ở lĩnh vực cảm quan, ở tự nhiên, và nếu như ngay cả nội dung cũng mang tính chất tinh thần, thì người ta tiếp thu nó làm thế nào để cho yếu tố tinh thần ở đấy (chẳng hạn các quan hệ nhân tính) được thể hiện dưới hình thức một hiện thực bên ngoài.


 


Mục đích của nghệ thuật.


 


Bây giờ, chúng tôi nêu lên câu hỏi: con người trong khi sáng tạo nội dung ấy dưới hình thức những tác phẩm nghệ thuật thì vâng theo một hứng thú gì, theo đuổi mục đích gì? Đó là quan điểm thứ ba chúng tôi đề xuất đối với tác phẩm nghệ thuật và việc khảo sát cẩn thận quan điểm này sẽ dẫn chúng ta tới một khái niệm chân thực về bản thân nghệ thuật.


Nếu như chúng ta chú ý đến những kiến giải lưu hành về quan điểm này thì lập tức chúng ta bắt gặp những quan niệm sau đây.


 


Nguyên lý bắt chước tự nhiên.


Theo quan điểm này thì mục đích chính của nghệ thuật là bắt chước, danh từ bắt chước ở đây là chỉ khả năng sao phỏng các hình ảnh của tự nhiên phù hợp với hình thức như chúng ta thực sự tồn tại. Người ta cho rằng một sự biểu hiện thành công việc miêu tả sự tương ứng này với tự nhiên cần phải khiến người ta hoàn toàn thỏa mãn.


Theo cách qui định này, con người nhằm một mục đích hình thức là tái hiện lại lần thứ hai phù hợp với phương tiện y vẫn có cái đã tồn tại trong thế giới bên ngoài và cả dưới hình thức nó tồn tại nữa. Nhưng chúng ta phải thừa nhận ngay lập tức rằng sự lặp lại này.


(aa) Là một việc thừa, bởi vì những cái người ta bắt chước các bức tranh trong các trình diễn sân khấu v.v… các súc vật, các phong cảnh tự nhiên, các biến cố của đời sống con người chúng ta đều đã có ở trước mắt ta ở trong vườn hay trong nhà, trong môi trường những người gần gũi hoặc biết rõ và mọi sự bắt chước như thế đều có thể xem là một trò chơi đầy tham vọng, bởi vì:


(bb) Nó vẫn thua kém tự nhiên. Bởi vì nghệ thuật nếu bó hẹp vào các biện pháp miêu tả thì chỉ có thể tạo nên một cái tình cảm bên ngoài mà thôi. Thực vậy, nếu như nghệ thuật không đi xa hơn cái mục đích hình thức mà chỉ lo bắt chước đơn thuần thì nó chỉ đem đến một cái vỏ của sự sống chân thực mà thôi chứ không phải đưa ra sự sống chân thực. Những người Thổ Nhĩ Kỳ là những người Hồi giáo không chấp nhận một hình vẽ, một chân dung nào hết v.v…


Khi Giêmxơ Bruxơ(21) trên con đường đi đến nước Abitxini chỉ cho một người Thổ Nhĩ Kỳ những con cá được vẽ ra, người này lúc đầu sửng sốt, nhưng sau đó trả lời ngay: “Vào ngày phán xử cuối cùng khi con cá này lên tiếng tố cáo anh và nói anh đã cấp cho tôi một xác thịt nhưng không cấp cho tôi một linh hồn sống, lúc đó anh biết nói gì để bào chữa cho mình?” Như thánh thư Hồi giáo kể lại nghe hai người đàn bà là Ommi Khalibơ và Ommi Xolme nói với ông ta về những tranh vẽ trong các nhà thờ Ethiôphi, chính vị tiên tri đã bảo họ như sau: “Đến ngày phán xử cuối cùng, các bức tranh này sẽ tố cáo những người đã sáng tạo ra chúng”.


Kể ra, đã có những thí dụ bắt chước khiến cho người ta hoàn toàn mắc lừa. Zơxít(22) đã ve những chùm nho khiến cho những con bồ câu sống hay bay đến để mổ và từ xưa đến nay điều đó đã được dẫn ra như là một thí dụ chứng tỏ nghệ thuật chiến thắng và của nguyên lý bắt chước tự nhiên. Ta có thể them vào thí dụ cổ xưa chuyện con vượn của Buytnơ(22) đã gặm mất con bọ hung ở trong quyển sách “Những lạc thú của côn trùng” của Rơnxen(22). Mặc dầu con vượn đã phá hủy mất cái bản đẹp đẽ của quyển sách quí báu, ông chủ của nó vẫn tha thứ cho nó vì đây là một chứng minh cụ thể cho tính ưu việt của các bản minh họa. Song chúng ta cần phải đi đến tư tưởng sau đây về những thí dụ như vậy.


Chúng ta không nên khen ngợi các tác phẩm nghệ thuật về điểm của chúng đã đánh lừa được ngay cả bồ câu và vượn. Thế vào đấy, lẽ ra chúng ta nên tránh những kẻ tưởng đâu rằng họ đã đề cao sáng tác nghệ thuật bằng cách khẳng định một tác dụng thảm hại như vậy mà tác phẩm nghệ thuật đem đến lại chính là mục đích tối cao và cuối cùng của nghệ thuật. Tóm lại, ta có thể nói rằng nếu chỉ lo bắt chước mà thôi thì nghệ thuật sẽ không sao cạnh tranh được với tự nhiên và điều này cũng giống như một con giun muốn đuổi kịp một con voi vậy.


(cc) Do chỗ sao phỏng bao giờ cũng thất bại so với cái nguyên bản tự nhiên cấp cho, cho nên mục đích duy nhất của nghệ thuật chỉ còn là một khoái cảm có được nhờ chính khả năng sáng tạo một cái gì giống như một tác phẩm của tự nhiên. Con người có thể mừng rỡ về điểm biết dùng công trình của mình và cố gắng của mình tái hiện được một cái gì đã tồn tại trong tự nhiên rồi. Nhưng niềm vui, nỗi say sưa ngây ngất này sẽ càng nguội lạnh và còn biến thành sự chán ngán và bực bội nếu bản sao phỏng càng giống cái nguyên bản đã có sẵn trong tự nhiên. Khi nói về sự hài lòng do việc bắt chước đem đến, càng nói rằng con người biết bắt chước hoàn toàn tiếng hót của chim họa mi (có những người như vậy thực) chẳng bao lâu sẽ làm chúng ta ngán, và hễ chúng ta phát hiện ra rằng một con người biết huýt chứ không phải một con họa mi hót thì chẳng bao lâu chúng ta chán cái tiếng hót ấy. Chúng ta chẳng nhìn thấy ở đấy một sáng tạo tự do của tự nhiên, cũng chẳng thấy đó là một tác phẩm nghệ thuật, mà chỉ thấy đó là một trò khéo léo. Bởi vì ta chờ đợi ở khả năng sáng tạo tự do của con người một cái gì khác hẳn, chứ không phải cái loại âm nhạc cố ý phát ra từ lồng ngực con người giống như một tiếng hót của chim họa mi, và ta chờ đợi ở tính sinh động độc đáo này tạo được những âm nói lên những tình cảm của con người.


Nói chung, niềm vui mà cái tài khéo bắt chước đem đến chỉ có thể là hết sức nhỏ bé, và nói chung con người nên cảm thấy thích thú về chỗ anh ta tự mình sáng tạo ra một cái gì mới thích hợp với cương vị con người hơn. Về mặt này, sự phát minh bất kỳ một kỹ thuật thích nghi dù vụn vặt nhất cũng vẫn có giá trị to lớn và con người có thể cảm thấy một niềm kiêu hãnh to lớn về chỗ y đã phát minh ra được cái búa, cái đinh v.v… hơn là chỗ y nêu lên được một trò khéo léo như vậy. Bởi vì cái lối thi đua trừu tượng trong việc bắt chước như thế có thể so sánh với trò chơi của một anh chàng ném hạt đậu qua một lỗ hổng nhỏ trăm lần không sai một. Anh ta đã chứng minh tài khéo léo của mình cho Alecxăng xứ Maxêdoan, nhưng để thưởng cho cái nghệ thuật vô bổ và không có nội dung ấy Alecxăng đã cho anh ta một đấu hạt đậu.


Bởi vì nguyên lý bắt chước mang tính chất thuần túy hình thức, cho nên khi nó biến thành mục đích thì bản thân cái đẹp khách quan ở nó đã mất hẳn. Sở dĩ thế là vì lúc đó chúng ta chỉ lo sao bắt chước cho đúng đắn mà thôi chứ không tìm hiểu về bản chất câu chuyện ta nên bắt chước cái gì. Đối tượng và nội dung của cái đẹp được xem là một cái gì hoàn toàn không quan trọng. Và nếu như người ta nói đến những động vật, những con người, những địa điểm, những hành động, những tính cách đẹp hay xấu, thì khác nhau giữa cái đẹp và xấu cũng vẫn là một sự phân biệt không quan trọng đối với nghệ thuật. Nhưng khi không có tiêu chuẩn đẹp và xấu có thể áp dụng cho các hình thức vô tận của tự nhiên trong việc lựa chọn các đối tượng bắt chước thì chúng ta chỉ còn cách vâng theo năng khiếu thưởng thức của chủ thể là cái người ta không thể qui định qui tắc cho nó và không thể tranh cãi về nó.


Thực ra, nếu như trong việc lựa chọn các đối tượng để bắt chước, chúng ta chỉ xuất phát từ các năng khiếu thưởng thức của con người, chỉ xuất phát từ cái người đời cho là đẹp hay xấu và tương ứng với điều đó, có xứng đáng để được bắt chước hay không ở trong  nghệ thuật thì chúng ta có thể lấy bất kỳ đối tượng nào của tự nhiên cũng được bởi vì đối tượng nào cũng có những con người yêu thích nó; về năng khiếu thưởng thức nếu như không phải người chồng nào cũng cho vợ mình là đẹp thì ít nhất những người chồng chưa cưới cũng cho người vợ chưa cưới của mình là đẹp và có thể thậm chí hết sức đẹp. Vấn đề thị hiếu chủ quan không có những qui tắc vững chắc đối với cái đẹp như vậy có thể xem là một hạnh phúc cho cả đôi bên.


Sau khi đã gạt bỏ những con người cá biệt cùng với các thị hiếu cá nhân ngẫu nhiên của họ, nếu ta bước sang khảo sát thị hiếu của các dân tộc, chúng tôi sẽ thấy rõ rằng thị hiếu này cũng hết sức khác nhau và thậm chí đối lập nhau. Chúng ta thường nghe nói rằng người Trung Quốc không thích những đàn bà đẹp châu Âu, và người Hôttentôt lại càng không thích, bởi vì người Trung Quốc có những quan niệm khác hẳn về cái đẹp so với người da đen, và người da đen đến lượt họ cũng có một quan niệm khác người châu Âu. Và nếu như chúng ta khảo sát các tác phẩm nghệ thuật của những dân tộc không phải châu Âu, thí dụ thần tượng thần linh đã nảy sinh trong hư cấu của họ với tư cách những sự sùng bái cao cả có giá trị, thì chúng ta sẽ thấy đó là những ngẫu tương xấu xí và có thể xem âm nhạc của họ là âm thanh hỗn độn hết sức kinh khủng đối với lỗ tai của chúng ta. Về phía họ, họ có thể cho các điêu khắc, tranh vẽ, các sáng tác âm nhạc của ta là một cái gì không thể quan niệm được và thậm chí xấu xí.


Nhưng nếu như chúng ta từ bỏ việc khảo sát cái nguyên lý khách quan của nghệ thuật và thừa nhận rằng năng khiếu thưởng thức chủ quan của từng người phải là cơ sở của cái đẹp, thì chúng ta sẽ thấy rằng việc bắt chước tự nhiên tuy có vẻ là một nguyên lý phôr biến được nhiều uy tín lớn bênh vực, song nó vẫn không thể được thừa nhận dưới hình thức phổ biến hoàn toàn trừu tượng như thế. Một khi nhận thấy rằng nếu như hội họa và điêu khắc biểu hiện những sự vật giống như các đối tượng của tự nhiên hay về căn bản là vay mượn ở tự nhiên, thì các tác phẩm kiến trúc (kiến trúc cũng là một sáng tác nghệ thuật) cũng như các tác phẩm thơ không thể gọi là bắt chước tự nhiên được, bởi vì chúng không bó hẹp vào chỗ miêu tả đơn thuần. Và nếu như vô luận thế nào đi nữa, chúng ta vẫn cứ chủ trương quan điểm bắt chước, thì chúng ta phải đưa ra những lời chào đón và những điều giới hạn quan trọng. Không những thế, ta còn phải thừa nhận rằng nguyên lý bắt chước không phải là chân thực mà chỉ có khả năng trở thành chân thực. Nhưng ở đây lại nảy sinh những khó khăn trong việc qui định xem cái gì là cái có thể xẩy ra, và cái gì không thể xẩy ra. Không những thế, không ai muốn và không ai có thể loại trừ ra khỏi lĩnh vực của thơ những hư cấu võ đoán, hoàn toàn quái đản.


Do đó, mục đích nghệ thuật phải là một cái gì khác chứ không phải chỉ là bắt chước cái tồn tại một cách hình thức, lối bắt chước này chẳng qua chỉ tạo ra được những vật được chế tạo khéo léo chứ không tạo ra được những tác phẩm nghệ thuật. Kể ra, đối với nghệ thuật, điều cơ bản là những hình thức của tự nhiên làm thành cơ sở của nghệ thuật, bởi vì nghệ thuật sáng tạo thông qua hình thức của những hiện tượng bên ngoài, và do đó phải sử dụng những biểu hiện của hiện tượng tự nhiên. Chẳng hạn, việc khảo sát các hoa, các ảnh hưởng của ánh sáng, các phản quan v.v…, nắm vững các hình thức và các hình ảnh của các đối tượng cho đến những sắc thái nhỏ nhất cũng như biết sao phỏng chúng là có tầm quan trọng to lớn đối với hội họa. Về mặt này, ở thời hiện đại đã xuất hiện nguyên lý bắt chước tự nhiên và tính tự nhiên. Nguyên lý này dường như có nhiệm vụ làm cho cái nghệ thuật đã trở thành yếu đuối và mơ hồ, lạc vào tính chất giả tạo võ đoán, vừa thoát ly tự nhiên cũng như thoát ly nghệ thuật có được sức mạnh và tính chất cụ thể của tự nhiên, tính chất qui tắc vững chắc hợp lý và trực tiếp của tự nhiên. Mặc dầu xu hướng này cũng có một mặt đúng nào đấy, song tính chất giống tự nhiên mà ta đòi hỏi ở nghệ thuật vẫn không phải là cái chủ yếu và cái chính làm thành cơ sở của nghệ thuật. Và mặc dầu tính chất giống tự nhiên của sự bắt chước bên ngoài làm thành một trong những nét miêu tả của nghệ thuật, song tính chất tự nhiên tồn tại trong tự nhiên vẫn không phải là một qui tắc đối với nghệ thuật, và việc bắt chước các hiện tượng bên ngoài tự thân nó vẫn không phải là mục đích của nghệ thuật.


 


Thuyết những tình cảm của tâm hồn.


Do đó, chúng ta phải tiến lên một bước nêu lên câu hỏi: Nội dung chân chính của nghệ thuật là cái gì? Tại sao nghệ thuật lại phải thể hiện cái nội dung ấy? Ở đây, chúng ta bắt gặp một kiến giải vẫn lưu hành cho rằng nghệ thuật dường như có nhiệm vụ đem đến cho các tình cảm, các cảm giác, và các cảm nghĩ của chúng ta, tất cả những gì diễn ra trong tinh thần con người. Nghệ thuật có nhiệm vụ phải thực hiện ở ta câu danh ngôn: Nihil humanum a me alienun puto (Tôi nghĩ rằng mọi cái nhân tính đều không xa lạ đối với tôi). Người ta cho rằng nghệ thuật có mục đích thức tỉnh mọi tình cảm, mọi nguyện vọng và mọi dục vọng có thể có đang ngủ ở trong ta làm cho con tim tràn đầy. Nó làm cho một con người có giáo dưỡng hay chưa được giáo dưỡng cảm thấy tất cả những gì mà tâm hồn con người có thể chứa đựng, cảm thấy và tạo nên ở những nơi sâu thẳm và huyền bí nhất của y, tất cả những gì có thể làm cho con tim người xúc cảm sâu sắc và bộc lộ các khả năng và các phương diện đa dạng của nó. Nghệ thuật cần phải đem đến cho tình cảm và sự chiêm ngưỡng một sự thưởng thức có tính chất huy hoàng của cái cao thượng, của cái vĩnh viễn và cái chân thực đồng thời thưởng thức mọi cái chủ yếu và cao quí mà tinh thần có được ở trong tư duy và ở trong ý niệm.


Và cũng hệt như vậy, nghệ thuật có nhiệm vụ làm cho người ta nhận thức được bất hạn và tai họa, cái ác và tội lỗi cũng như biết mọi điều kinh khủng và xấu xa và mọi khoái cảm và hạnh phúc và, cuối cùng, nghệ thuật có nhiệm vụ cấp một phạm vi đầy đủ cho hư cấu, cho trò chơi nhàn rỗi của trí tưởng tượng, để cho chúng ta có thể tha hồ tận hưởng sức quyến rũ của những hình ảnh cảm quan và những cảm giác mà chúng ta ngây ngất. Nghệ thuật cần phải làm chủ cái nội dung phong phú bao gồm mọi mặt này để bổ sung cho kinh nghiệm tự nhiên của sự tồn tại bên ngoài của ta và gây ở ta những dục vọng đã nói trên để cho chúng ta cảm thấy các thể nhiệm tinh thần này và có được sự mẫn nhuệ đối với mọi hiện tượng.


Nhưng các tình cảm này nảy sinh ở đây không phải là do kinh nghiệm thực tế mà chỉ là do cái biểu hiện bên ngoài của nó gây nên mà thôi, tức là do những sáng tạo tư tưởng của nghệ thuật dùng để thay thế hiện thực. Sở dĩ nghệ thuật có thể đánh lừa được chúng ta bằng cái biểu hiện bên ngoài này là vì bất kỳ hiện thực nào trước khi thâm nhập vào tình cảm và ý chí của con người cũng phải đi qua chiêm ngưỡng và biểu tượng của y. Ở đây, vấn đề thực tế bên ngoài thâm nhập trực tiếp hay là điều đó diễn ra bằng những con đường khác, qua môi giới các hình ảnh, các tín hiệu và các biểu tượng chứa đựng và bắt chước nội dung của hiện thực, vấn đề này không quan trọng. Con người có thể hình dung những vật không tồn tại trong thực tế nó tồn tại thực sự. Vì vậy, vấn đề một quan hệ nào đó và nội dung sinh động do bản thân hiện thực hay là do cái ngoại hiện của nó có đạt đến ý thức chúng ta hay không, thì quan hệ này cũng vẫn gây nên một tác dụng như nhau đối với tâm hồn chúng ta: Trong cả hai trường hợp, tùy theo nội dung, quan hệ này vẫn làm chúng ta buồn bã hay vui mừng, cảm động hay sợ hãi và bắt ta cảm thấy những tình cảm những dục vọng giận dữ, căm ghét, cảm thương, lo lắng, sợ hãi, yêu thương, kính trọng, ngây ngất, vinh dự và hân hạnh.


Như vậy, người ta thấy sức mạnh đặc thù của nghệ thuật thức tỉnh ở ta mọi tình cảm, làm cho tâm hồn chúng ta tràn ngập những nội dung khác nhau của cuộc sống, và gợi lên những cảm nghĩ này bằng cài vẻ giống thực lừa dối ta.


Nhưng bởi vì nghệ thuật có thể gợi lên cho tâm hồn chúng ta và trong trí tưởng tượng của chúng ta những tình cảm tốt đẹp cũng như xấu xa, có thể cũng cố ở ta những ham thích cao thượng cũng như đưa vào lòng ta những dục vọng ích kỷ có tính chất tình dục, cho nên nghệ thuật có một nhiệm vụ hoàn toàn hình thức và nếu như nó chỉ đem đến cho ta một hình thức vững chắc đối lập, thì nó chỉ đem đến cho ta một hình thức trống rỗng đối với mọi nội dung và mọi chất liệu.


 


Thuyết mục đích có tính cao cả.


Trong nghệ thuật còn có mặt hình thức nữa: nghệ thuật có thể đưa đến chỗ ta chiêm ngưỡng, cảm xúc và tô điểm một chất liệu hết sức đa dạng cũng như tư duy suy luận có thể đề cập tời mọi đối tượng và mọi phương thức hành động, bằng cách tìm thấy căn cứ và lý do biện biện hộ cho chúng. Vì nội dung là đa dạng như vậy, nên chúng ta lập tức có thể nhận thấy: các biểu tượng và tình cảm khác nhau mà nghệ thuật có nhiệm vụ gợi lên hay củng cố là đan chéo vào nhau một cách đầy mâu thuẫn và thủ tiêu lẫn nhau. Thậm chí, có thể nói rằng nghệ thuật do chỗ gợi lên ở ta những tình cảm mâu thuẫn nhau chẳng qua chỉ làm cho tính chất mâu thuẫn của các dục vọng càng tăng thêm và bắt chúng ta quay cuồng trong tình trạng say sưa mê mẩn cũng như lý trí suy luận rơi vào ngụy biện và chủ nghĩa hoài nghi.


Bản thân tính đa dạng của chất liệu thúc dục ta đừng tự hài lòng với một định nghĩa hình thức như vậy, bởi vì trí tuệ mỗi khi thâm nhập vào tình trạng đa dạng sặc sỡ này đòi hỏi ta phải nhìn thấy trong các yếu tố mâu thuẫn nhau như vậy một mục đích tối cao, bao quát tất cả ở trong bản thân mình và nhận thức xem đạt được mục đích này như thế nào. Chẳng hạn, người ta thừa nhận rằng mục đích cuối cùng của mọi xã hội và mọi nhà nước đó là phát triển và biểu lộ tất cả mọi khả năng của con người cũng như tất cả mọi sức mạnh cá nhân, ở tất cả mọi mặt và mọi hướng. Nhưng trong một quan hệ có tính chất hình thức như vậy, chẳng bao lâu đã làm nảy sinh câu hỏi như sau: các biểu hiện đa dạng này cần được hợp nhất ở trong các thể thống nhất như thế nào? Mục đích duy nhất nào cần phải làm thành khái niệm chủ yếu và sự cố gắng cuối cùng chúng nhằm đạt tới? Đối với khái niệm nhà nước cũng như đối với khái niệm nghệ thuật đều nảy sinh sự cần thiết phải có một mục đích, một phần là một mục đích cao hơn  có tính bản chất. Những suy nghĩ chỉ cho chúng ta thấy rằng mục đích có tính bản chất của nghệ thuật tóm lại là nghệ thuật có nhiệm vụ và có khả năng làm dịu bớt tính chất thô bạo của các dục vọng.


Về cách nhìn thứ nhất này, cần phải giải thích khả năng loại trừ tính chất thô bạo của các dục vọng thuần dưỡng nó và làm cho các ham muốn, các thiên hướng và các dục vọng có tính chất văn hóa là tiêu biểu như thế nào cho nghệ thuật.


Cơ sở của tính chất thô bạo là tính ích kỷ rõ rệt của những ham muốn chỉ lo trực tiếp thỏa mãn các dục vọng của mình. Nhưng dục vọng càng làm chủ toàn bộ con người ở trong tình trạng chật hẹp, cô lập thì nó càng thô bạo và chuyên chính, kết quả là con người không thể tách ra khỏi đặc trưng này để biến thành một cái gì phổ biến độc lập. Sở dĩ con người trong những trường hợp này nói: dục vọng mạnh hơn tôi, thì đối với ý thức, cái “tôi” trừu tượng là chỉ tách rời khỏi cái dục vọng riêng biệt này một cách hình thức mà thôi, bởi vì do sự phân biệt này chỉ nói lên rằng, so với các dục vọng mạnh mẽ thì “cái tôi” với tính cách một yếu tố phổ biến hoàn toàn không đáng kể. Do đó, tính chất thô bạo của dục vọng là ở sự thống nhất giữa “cái tôi” với tính cách một yếu tố phổ biến với cái nội dung chật hẹp của ham muốn của y, kết quả là con người không có một ý muốn nào khác ngoài cái dục vọng cá biệt này.


Nghệ thuật còn làm giảm bớt tính thô bạo và tính buông thả của tính dục bằng cách làm cho người ta nhận thức được tất cả những điều mà non người cảm thấy và làm trong tình trạng này. Và ngay dù cho nghệ thuật chỉ bó hẹp vào việc miêu tả các dục vọng để người ta ngắm nhìn nó, nếu như thậm chí nghệ thuật mơn trớn vuốt ve các dục vọng thì sức mạnh làm giảm nhẹ dục vọng cũng là ở đấy: nó làm cho con người nhận thức được rằng y tồn tại trực tiếp. Lúc này con người ngắm nhìn những ham muốn và những thiên hướng của mình, và trong khi trước đây y vâng theo những ham muốn ấy không chút suy nghĩ thì bây giờ con người nhìn thấy nó ở ngoài mình và y đã bắt đầu được giải phóng khỏi các ham muốn ấy đối lập lại như một cái gì khách quan.


Chính vì vậy một nghệ sĩ đau khổ thường giảm nhẹ nỗi đau buồn bã làm cho cường độ của tình cảm mình yếu đi bằng cách miêu tả tình cảm ấy. Ngay trong những giọt nước mắt đã chứa đựng một niềm an ủi; con người trong khi bị nỗi buồn lôi cuốn, ít cũng có được khả năng thể hiện trực tiếp cái cảm nghĩ bên trong của mình.


Nếu như con người dùng ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh và hình tượng thì còn làm giảm nhẹ nỗi đau buồn hơn nữa. Thời xưa, có tục hay trong đám ma người ta thuê những người khóc mướn, để thể hiện nỗi đau khổ ra ngoài cho người ta có thể ngắm nhìn. Sự biểu hiện lòng thông cảm cũng nêu ra trước ý thức con người nội dung điều bất hạnh của y; nhờ nói nhiều lần về nỗi đau buồn của mình, con người ngẫm nghĩ về nỗi đau buồn của mình và nhờ vậy cảm thấy nguôi bớt. Chính vì vậy việc khóc than, việc bộc lộ nỗi đau buồn đè nặng trong lòng cũng được xem là một biện pháp nhằm giải phóng mình khỏi gánh nặng của tình cảm này, hay ít nhất để làm con tim dịu bớt nỗi đau thương.


Việc làm giảm bớt sức mạnh của dục vọng cũng có một nguyên nhân chung là trường hợp sau đây: con người thoát khỏi sự lệ thuộc trực tiếp vào một tình cảm nào đấy và bắt đầu nhận thấy tình cảm ấy là một cái gì ở bên ngoài mình và quan hệ của ý và tình cảm này bây giờ là quan hệ có tính chất tư tưởng, lý tưởng. Nghệ thuật dùng những biểu tượng của mình và ở trong phạm vi lĩnh vực cảm quan để giải phóng con người khỏi sức mạnh của yếu tố cảm quan. Thường thường ta nghe những câu nói rằng con người phải ở trong một thể thống nhất trực tiếp với tự nhiên. Nhưng thể thống nhất này ở trong tính chất trừu tượng của mình lại làm thành một điều thô lỗ và thô bạo, và bằng cách phá vỡ sự thống nhất này, nghệ thuật giải phóng con người ra khỏi sự lệ thuộc vào tự nhiên và nâng cao con người lên cao hơn chính y. Việc chuyên tâm vào các tác phẩm nghệ thuật chỉ bồi dưỡng sự chú ý tới những hình tượng được biểu hiện, và sau đó, nó hướng người ta chú ý tới cả ý nghĩa của các hình tượng ấy nữa. Nghệ thuật thúc đẩy ta so sánh một nội dung này với một nội dung khác và tạo nên một bầu không khí cho phép ta cấp cho điều chiêm ngưỡng và các quan điểm của nó một tính chất khái quát.


Thêm vào đó, lại có một nét thứ hai mà người ta cấp cho nghệ thuật với tính cách mục đích chủ yếu của nghệ thuật: làm cho các dục vọng được trong sáng, giáo dục và bồi dưỡng về đạo đức. Bởi vì định nghĩa cho ràng nghệ thuật có nhiệm vụ kiềm chế tính chất thô bạo, đem đến cho dục vọng một tính chất văn hóa, vẫn là một định nghĩa hoàn toàn hình thức và khái quát, cho nên ta lại xuất hiện câu hỏi: hình thức cụ thể và mục đích giáo dục này là cái gì?


(aa) Quan điểm cho nghệ thuật là một phương tiện làm cho dục vọng trong sáng cũng phạm những khuyết điểm như quan điểm trên đây cho rằng mục đích của nghệ thuật là giảm yếu dục vọng. Song quan điểm thứ hai nhấn mạnh tới trường hợp: sự biểu hiện của nghệ thuật cần một qui mô khiến cho nghệ thuật có thể đánh giá được rằng biểu hiện này có giá trị hay không. Qui mô này là ở chỗ nghệ thuật có hiệu lực làm cho dục vọng thoát khỏi tất cả những gì nhơ bẩn hay không. Do đó, nghệ thuật cần có một nội dung có khả năng nói lên sức mạnh gạn đục khơi trong này, và bởi vì tác dụng này cần phải làm thành mục đích có tính chất của nghệ thuật, cho nên chúng ta cần phải nhận thức cái nội dung có tác dụng làm cho dục vọng trong sáng ấy, về mặt tính phổ biến và tính cốt tử.


(bb) Về mặt này, người ta đưa ra ý kiến: mục đích nghệ thuật là giáo huấn. Như vậy, người ta cho đặc điểm tiêu biểu của nghệ thuật là ở chỗ: một mặt, nghệ thuật làm tình cảm được khích động, và thoả mãn sự khích động này, bằng cách gây nên tình cảm sợ hãi, đau xót, bằng hoàng và sửng sờ. Như vậy, tức là người ta cho nghệ thuật có nhiệm vụ làm thỏa mãn các hứng thú của tình cảm và dục vọng, và do đó, ở chỗ ngắm nghía và thưởng thức các đối tượng của nghệ thuật, ở các hình tượng và các tác dụng của chúng. Song lúc đó tiêu chuẩn cao nhất của nghệ thuật sẽ chỉ là giáo dục, chỉ là cái fabula docet (ngụ ngôn giáo dục), và do đó, chỉ là điều ích lợi mà tác phẩm nghệ thuật có thể đem đến cho con người tri giác nó. Về mặt này, câu châm ngôn của Hôraxơ “et prodesse colunt et delectare poetare” (và các nhà thơ vừa muốn làm điều có ích vừa muốn giải trí) đã nói lên cô đọng trong một vài chữ những điều sau này được trình bày trong những bài phiếm luận dài vô tận, và một khi đến điểm cực đoan nó sẽ biến thành một quan điểm hết sức dung tục về nghệ thuật.


Đối với hình thức giáo dục này, chúng ta cần phải nêu ngay câu hỏi: tác phẩm nghệ thuật phải chăng cần phải chứa đựng giáo dục dưới hình thức trực tiếp hay là dưới hình thức kín đáo, tức là một cách explicite (lộ liễu) hay implicite (ẩn ngầm)?


Nếu như nói đên mục đích phổ biến chứ không phải mục đích ngẫu nhiên của nghệ thuật, thì trong khi chú ý đến bản chất mang tính chất tinh thần mà thôi và, do đó, không phải là ngẫu nhiên mà bắt rễ vào bản thân mục đích của nghệ thuật. Về mặt giáo dục, mục đích này chỉ có thể tóm lại ở chỗ thông qua tác phẩm nghệ thuật, đưa ra cái nội dung chủ yếu có tính chất tinh thần đến nhận thức. Về mặt này, ta có thể khẳng định rằng nghệ thuật càng đánh giá mình cao thì nó càng phải tiếp thu cái nội dung ấy và chỉ ở trong bản chất của nội dung ấy, nó mới tìm thấy những tiêu chuẩn để đánh giá một cách tích cực hay tiêu cực những điều được biểu hiện ở trong tác phẩm nghệ thuật. Nghệ thuật thực sự đã trở thành vị thầy cao nhất của các dân tộc.


Nhưng nếu như ta xem giáo dục là một mục đích theo cái nghĩa là tính chất phổ biến của nội dung được biểu hiện cần phải xuất hiện trực tiếp dưới hình thức một suy luận trừu tượng, một suy nghĩ khô khan, một giáo điều phổ biến chứ không phải chứa đựng một cách ẩn ngầm trong một hình tượng nghệ thuật cụ thể, thì do tình trạng hình thức hình tượng cảm quan đã bị phân liệt như vậy (tình trạng làm cho tác phẩm nghệ thuật thành một tác phẩm nghệ thuật), hình tượng cảm quan sẽ hóa ra chỉ còn là một vật thừa không cần thiết, một cái vỏ, cái vỏ biểu hiện bên ngoài, được xem như một cái vỏ đơn thuần, một ngoại hiện trần truồng mà thôi.


Bản chất tác phẩm nghệ thuật như vậy sẽ bị bóp méo. Sở dĩ thế là vì tác phẩm nghệ thuật nêu lên nội dung không phải ở trong dạng thức xuất hiện phổ biến, được xét với tính cách phổ biến, trái lại nó phải cá tính hóa tính cách phổ biến ấy, cấp cho nó tính chất đơn thuần nhất về mặt cảm quan. Nếu như tác phẩm nghệ thuật không theo nguyên lýnày mà lại nhấn mnạh tới tính phổ biến chỉ nhằm đưa ra một giáo huần trừu tượng, thì yếu tố hình tượng và yếu tố cảm quan của nó chẳng qua chỉ là một trang sức bên ngoài, một điều thừa thãi; trái lại tác phẩm nghệ thuật trở thành một cái gì tan rã ở bên trong: hình thức và nội dung của nó không phải là nguyên nhân và kết quả của nhau. Như vậy, cái đơn nhất về mặt cảm quan và cái phổ biến về mặt tinh thần trở thành xa lạ với nhau.


Không những thế, nếu như ta bó hẹp mục đích của nghệ thuật vào một lợi ích, được đưa đến bằng giáo dục như trên đã nói, thì cái mặt thứ hai của nghệ thuật, tóm lại ở chỗ khoái cảm, thưởng thức, tiêu khiển sẽ trở thành không quan trọng và người ta sẽ xem nó là một yếu tố thứ yếu của điều ích lợi mà giáo dục đưa đến. Nhưng như thế tức là thừa nhận rằng nghệ thuật không mang nhiệm vụ của mình với tính cách mục đích cuối cùng của mình ở ngay bản thân nghệ thuật, trái lại khái niệm nghệ thuật nằm trong một cái gì khác và nó là công cụ của cái ấy. Trong trường hợp này, nghệ thuật chẳng qua chỉ là một trong nhiều công cụ thích hợp và được áp dụng để đạt đến những mục đích này. Ở đây chúng ta đã bước đến ranh giới ở đấy nghệ thuật thôi không còn là một mục đích tự thân mà đã bị hạ thấp xuống một trò chơi cố ý hay một phương tiện giáo dục đơn thuần.


(cc) Nếu như chúng ta nêu lên câu hỏi tại sao vấn đề làm cho dục vọng trong sáng và giáo dục con người lại là mục đích cao nhất của nghệ thuật thì lúc bấy giờ con đường phân chia ranh giới này sẽ bộc lộ rõ rệt nhất. Trong thời đại hiện này, người ta thường đưa ra việc sửa chữa về mặt đạo đức làm thành mục đích ấy và cho rằng mục đích nghệ thuật là ở chỗ bồi dưỡng dục vọng và ham muốn vươn đến sự hoàn mỹ về đạo đức và đưa chúng đến mục đích cuối cùng này. Trong quan niệm này về giáo dục và làm cho tình cảm trong sáng đã được hợp nhất lại, bởi vì nghệ thuật trong khi đạt đến cái thiện chân chính về mặt đạo đức, và trong giáo dục chúng ta, đồng thời giúp chúng ta gạn đục khơi trong các dục vọng, và, nhờ đó, làm cho người được tốt thêm: ích lợi và mục đích tối cao của nghệ thuật là ở đấy.


Ta cũng có thể nói về mặt nghệ thuật có mục đích sửa chữa về đạo đức như đã nói về mục đích giáo huấn. Ta dễ dàng đồng ý với điểm về mặt nguyên tắc, nghệ thuật không nên cổ vũ tính vô đạo đức. Song dùng nghệ thuật để biểu hiện tính vô đạo đức là một việc, và không biến nghệ thuật thành đạo đức lại là việc khác.


Ta có thể rút ra một luân lý ở mỗi tác phẩm nghệ thuật thực sự chân chính. Song vấn đề tóm lại ở chỗ người ta giải thích tác phẩm như thế nào, và, do đó, ở chỗ ai đã rút ra lời giáo huấn về đạo đức. Chẳng hạn, người ta biện hộ cho việc thể hiện sự vô đạo đức bằng cách nói rằng cần phải biết cái xấu, cái tội lỗi để hành động hợp với đạo đức. Người ta còn đưa ra một ý kiến đối lập cho rằng việc thể hiện Mari Madơlen(23) một người đàn bà đẹp có nhiều tội lỗi sau này hối hận, bởi vì nghệ thuật làm cho sự hối hận ở trước mắt ta thành đẹp đẽ quyến rũ và muốn hối hận thì trước tiên phải phạm tội.


Song nếu ta suy nghĩ một cách nhất quán thì học thuyết về sự sửa chữa đạo đức sẽ không làm ta thỏa mãn. Sở dĩ thế là vì khi giải thích tác phẩm nghệ thuật, ta phải rút từ đấy ra một lý luận và phải nhấn mạnh về chỗ giáo dục luân lý là mục đích bản chất cốt tử, và tác phẩm nghệ thuật chỉ nên thể hiện những đối tượng đạo đức, những tính cách đạo đức, những hành vi và những biến cố đạo đức. Bởi vì nghệ thuật có thể chọn đối tượng thể hiện chứ không phải như lịch sử và khoa học ở đấy đối tượng đã được qui định từ trước.


Để đưa ra một đánh giá có căn cứ về quan điểm cho rằng mục đích cuối cùng của nghệ thuật là sửa chữa con người, trước hết chúng tôi phải nêu lên câu hỏi: quan điểm luân lý cụ thể mà các đại biểu bênh vực quan điểm này đã đưa ra là quan điểm gì?


Néu như chúng ta nhìn chăm chú hơn vào quan điểm đạo đức theo cái nghĩa tốt đẹp nhất của từ này, như chúng ta cần phải quan niệm nó ở thời đại chúng ta, thì chúng ta chẳng bao lâu sẽ nhận thấy rằng khái niệm này không trùng làm một với điều chúng ta muốn gọi là đức hạnh, nết tốt, lòng chính trực v.v… Một con người đức hạnh, tốt, không bắt buộc đã là một con người đạo đức; bởi vì đạo đức đòi hỏi phải suy nghĩ, phải có ý thức rõ rệt về những điều mà nhiệm vụ yêu cầu và đòi hỏi những hành động nảy sinh từ một nhận thức đã có từ trước như vậy. Bản thân nhiệm vụ là một pháp lệnh của ý chí mà con người xác lập một cách tự do trong khi chỉ tuân theo chính mình mà thôi, và sau đó quyết định thực hiện nhiệm vụ này chỉ vì nhân danh nhiệm vụ, và hoàn thành nó, tạo ra cái thiện chí bởi vì anh ta tin rằng nó là cái thiện.


Cái pháp lệnh này, cái nhiệm vụ này được thực hiện nhân danh bản thân nhiệm vụ, theo lòng xác tín tự do và theo mệnh lệnh bên trong của bản thân làm thành một yếu tố phổ biến trừu tượng ở trong ý chí, đối lập trực tiếp với tự nhiên, với những lôi cuốn cảm quan, với những hứng thú ích kỷ cũng như với tất cả những gì được gọi chung là tâm hồn và con tim. Trong tình trạng đối lập này, một mặt loại trừ mặt kia, và bởi vì cả hai mặt đều tồn tại với tính cách đối lập nhau ở trong chủ thể, cho nên khi con người làm một quyết định độc lập thì y phải làm một sự lựa chọn giữa cái này hay cái kia.


Nhưng những quyết định như thế và những hành động tương ứng với những quyết định như vậy chỉ trở thành đạo đức nhờ có niềm tin tưởng tự do thấy rằng đó là mệnh lệnh của nhiệm vụ và bằng cách khắc phục không những cái ý chí riêng, những ham muốn, những sở thích và những điều tự nhiên… mà còn nhờ những tình cảm cao thượng và những ham muốn cao quí. Sở dĩ thế là vì học thuyết hiện đại về đạo đức là xuất phát từ chỗ đối lập thẳng thừng giữa tính phổ biến có tính chất tinh thần của ý chí với tính đặc thù cảm quan, tự nhiên của nó. Lý luận này không phải cốt để điều hòa hai mặt đối lập này mà cốt khẳng định yêu cầu: trong cuộc đấu tranh với các ham muốn thì nhiệm vụ phải chiến thắng.


Sự đối lập này đối với ý thức không những biểu hiện trong lĩnh vực chật hẹp của hành động đạo đức mà còn động vào một sự phân chia chung và sự đối lập chung của hiện thực bên ngoài và của tồn tại bên ngoài với tất cả những gì tồn tại ở bản thân mình và vì bản thân mình. Dưới hình thức trừu tượng, đây là sự đối lập giữa cái phổ biến và cái đặc thù, hai cái này được cố định hóa làm thành những sức mạnh đối lập nhau. Nó xuất hiện cụ thể hơn ở trong tự nhiên với tính cách sự đối lập giữa một biện pháp trừu tượng với toàn bộ các hiện tượng cá biệt, đặc thù đối với bản thân nó. Sự đối lập này ở trong tinh thần đóng vai sự đối lập giữa yếu tố cảm quan và yếu tố tinh thần ở trong con người với tính cách cuộc đấu tranh của tinh thần với xác thịt khi nhiệm vụ được nêu ra vì nhiệm vụ, khi cái đạo đức lạnh lùng đấu tranh chống lại những quyền lời riêng tư, cái dục vọng nòng cháy, những ham muốn và những lôi cuốn có tính chất cảm quan, nói chung chống lại những cài gì cá nhân. Đây là tình trạng mâu thuẫn gay gắt giữa tự do nội tâm với tất yếu tự nhiên bên ngoài, hơn nữa đây là mâu thuẫn giữa cái khái niệm chết cứng, bên trong trống rỗng với cuộc sống cụ thể tràn đầy, giữa lý luận, tư duy chủ quan với tồn tại khách quan, kinh nghiệm khách quan.


Những mặt đối lập này không phải là những điều do sự suy nghĩ hay do triết học nhà trường sáng tạo ra. Chúng mang những hình thức khác nhau và đã từng làm ý thức con người băn khoăn từ những thời đại xa xưa, mặc dầu chỉ có nền văn hóa hiện đại mới chú ý cẩn thận đến nó và nêu nó lên dưới hình thức một mâu thuẫn cực kỳ gay gắt. Nền văn hóa tinh thần, tính chất trí tuệ của thời hiện đại đã làm nảy sinh ở con người tình trạng đối kháng ấy, trong khi biến con người thành một con vật lưỡng thể, bởi vì giờ đây con người phải sống ở trong hai thế giới đối lập nhau. Ý thức cũng bắt buộc phải loay hoay ở trong tình trạng mâu thuẫn này và trong khi bị đẩy từ bên này sang bên kia, ý thức bất lực không sao tìm được sự thỏa mãn ở bên ngoài nào hết. Một mặt, con người bị cuộc sống hàng ngày và sự tồn tại trần thế cầm tù, y đau khổ dưới áp lực của đòi hỏi và thiếu thốn, thiên nhiên bóp nghẹt y, những công việc vật chất, những mục đích cảm quan và việc thỏa mãn những điều đó trói buộc y, và cái dòng những ham muốn tự nhiên và những dục vọng lôi cuốn y. Mặt khác, y vươn lên những ý niệm vĩnh viễn, vươn đến cái vương quốc của tư tưởng và của tự do, lấy những qui tắc phổ biến và những tiêu chuẩn phổ biến làm ý chí của mình, gạt bỏ tất cả cái thực tế sinh động, nở hoa ra khỏi cái thế giới bao quanh và trình bày nó thành những khái niệm trừu tượng. Tinh thần khẳng định quyền lợi và giá trị của mình chỉ bằng cách ngược đãi và bóp nghẹt tự nhiên, nó bắt tự nhiên phải chịu đựng những bất hạnh và những gò bó mà chính tự nhiên đã bắt nó phải chịu.


Cùng với tình trạng cuộc sống và ý thức đối với nên văn hóa hiện đại và đối với tư duy suy lý của nó đã bị phân biệt như vậy đã nảy sinh nhu cầu muốn tìm cách giải quyết mâu thuẫn này. Song lý tính không thể từ bỏ tính bất biến của những mâu thuẫn này. Giải quyết mâu thuẫn vẫn là một nhiệm vụ đơn thuần đối với ý thức, và hiện thực cứ băn khoăn loay hoay mãi mãi lo tìm cách điều hòa các mâu thuẫn, nhưng không tìm được cách nào. Ở đây nảy sinh những câu hỏi: cái thế đối lập toàn diện, bao quát tất cả như thế nhưng vẫn không vượt ra khỏi ngoài nhiệm vụ đơn thuần và yêu cầu giải quyết – phải chăng là một tình thế đối lập chân thực ở bản thân mình và vì mình và nói chung là mục đích cuối cùng cao cả nhất?


Nếu như nền văn  hóa chung đã rơi vào một tình trạng mâu thuẫn như vậy, thì nhiệm vụ triết học tóm lại là gạt bỏ tình trạng mâu thuẫn này, tức là chứng minh rằng cả hai mặt của nó ở trạng thái phiến diện trừu tượng đều không phải là chân thực và tự ý phá hủy mình. Còn cái chân thực chỉ tóm tại là điều hòa hai mặt, một sự điều hòa gián tiếp này không phải là một yêu cầu mà, trái lại, là một hiện thực tồn tại tự mình và cho mình, và không ngừng ở trong quá trình được thực hiện. Quan niệm này là phù hợp trực tiếp với lòng tin ngây thơ và với ý chí bởi vì hai cái này bao giờ cũng lo giải quyết tình trạng mâu thuẫn này và cho mục đích là nhiệm vụ của mình tóm lại là làm điều đó. Triết học chỉ cấp cho ta một cái nhìn tư biện về bản chất của mâu thuẫn này mà thôi, bởi vì triết học nêu rõ cái chân thực, là cách giải quyết tình trạng mâu thuẫn, cách giải quyết này không có nghĩa là tình trạng mâu thuẫn và cái mặt của nó hoàn toàn không tồn tại mà chỉ nói lên cách điều hòa các mặt mâu thuẫn mà thôi.


Bởi vì sự sửa chữa về mặt đạo đức xem như mục tiêu cuối cùng của nghệ thuật còn nêu lên một quan điểm cao hơn nữa, cho nên chúng ta phải sử dụng những áp dụng của quan điểm cao hơn này đối với nghệ thuật. Nhờ vậy, lập tức cái lập trường sai lầm đã nêu lên bên đây bị sụp đổ; lập trường cho rằng nghệ thuật có nhiệm vụ làm công cụ phục vụ những mục đích đạo đức và thông qua việc giáo huấn và việc sửa chữa con người, nó góp phần đạt đến mục dích đạo đức cuối cùng của thế giới, thành ra mục đích riêng của nghệ thuật không phải là ở bản thân nghệ thuật mà là ở một cái gì khác. Nếu như chúng ta còn nói về mục đích cuối cùng của nghệ thuật là đồng nghĩa với công cụ của nó. Tính chất sai lầm của quan niệm này tóm lại là luận điểm cho rằng nghệ thuật cần phải tương ứng với một cái gì khác, cái ấy mới là cốt tử và là nhiệm vụ đối với ý thức, do đó tác phẩm nghệ thuật chỉ được xem là một công cụ hữu ích để thể hiện cái mục đích độc lập này mà thôi, một mục đích nằm ở ngoài lĩnh vực mục đích của nghệ thuật. Độc lập với điều đó, chúng tôi khẳng định rằng  nghệ thuật có nhiệm vụ bộc lộ cái chân thực dưới hình thức cảm quan, miêu tả cái thế đối lập đã được nó tóm lại là biểu hiện và phát hiện. Sở dĩ thế là vì mục đích khác, thí dụ giáo huấn, làm cho tình cảm trong sạch, sửa chữa, kiếm tiền, mưu cầu vinh quang và danh vị đều không có quan hệ gì đối với tác phẩm nghệ thuật với tính cách tác phẩm và không qui định khái niệm nghệ thuật.


 


(Còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »