tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28950016
Lý luận phê bình văn học
09.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (4)

DẪN LUẬN


Những bài giảng này bàn đến mỹ học. Đối tượng của nó là vương quốc cái đẹp rộng lớn, đúng hơn, lĩnh vực nghệ thuật, hay đúng hơn nữa, là lĩnh vực sáng tác nghệ thuật.


Thực ra, danh từ Asthetik (“mỹ học”), không hoàn toàn thích hợp với đối tượng chúng ta khảo sát, bởi vì mỹ học kể ra chỉ là khoa học, khảo sát cảm giác, tình cảm. Nếu hiểu như vậy, thì mỹ học đã nảy sinh ở trường phái Vônphơ(1) với tính cách một khoa học mới, hay ít nhất là với tính cách mầm mống của một nền triết học tương lai. Trong lúc đó, ở Đức vẫn quen khảo sát các tác phẩm nghệ thuật ở trong mối liên hệ với những tình cảm mà chúng cần phải nêu lên – chẳng hạn liên hệ với khoái cảm, tình cảm ngây ngất, sợ hãi, cảm thươngv.v…


Bởi vì tên gọi “Asthetik” là không thích hợp và có tính chất hời hợt, cho nên đã xuất hiện những cố gắng muốn sáng tạo một danh từ khác. Chẳng hạn, người ta đã đề nghị danh từ “Kallistik”(2). Nhưng tên gọi này cũng tỏ ra không ổn bởi vì cái khoa học chúng ta bàn đây không khảo sát cái đẹp nói chung, mà chỉ khảo sát cái đẹp ở trong nghệ thuật mà thôi. Do chỗ bản thân tên gọi đối với chúng ta không phải là quan trọng, chúng tôi sẵn sàng giữ danh từ “mỹ học”, nhất là vì nó đã được khẳng định ở trong tiếng nói hàng ngày. Tuy vậy, cách biểu hiện duy nhất đáp ứng nội dung khoa học của chúng ta đó là “triết học về nghệ thuật”,  hay chính xác hơn, “ triết học của sáng tác nghệ thuật”.


 


SỰ XÁC LẬP PHẠM VI VÀ SỰ BẢO VỆ MỸ HỌC


Cái đẹp trong tự nhiên và cái đẹp trong nghệ thuật.


 


Sau khi đã chấp nhận định nghĩa nói trên, chúng ta, do đó, ngay lập tức loại trừ cái đẹp trong tự nhiên ra khỏi đối tượng của chúng ta. Giới hạn đối tượng như thế một phần có vẻ võ đoán. Người ta vẫn quen cho rằng khoa học nào cũng có quyền tuỳ ý quy định ranh giới lĩnh vực của mình căn cứ vào mỹ học là lĩnh vực cái đẹp nghệ thuật  theo ý nghĩa như vậy.


Trong đời sống hàng ngày, người ta vẫn thường nói đến một màu đẹp, một con sông đẹp, những con người đẹp. Chúng ta hãy khoan đi sâu vào những cuộc tranh luận về chỗ cấp tính chất đẹp cho những đối tượng như vậy và, do đó, nêu lên cái đẹp trong tự nhiên, bên cạnh cái đẹp của nghệ thuật là có thể chấp nhận đến mức độ nào. Ngay giờ đây chúng ta đã có thể khẳng định rằng cái đẹp trong nghệ thuật là cao hơn cái đẹp trong tự nhiên.


Không những thế, nếu nói về mặt hình thức, thì bất kỳ ảo tưởng thảm hại  nào nảy sinh trong đầu óc con người cũng là “cao hơn” bất kỳ sáng tạo nào của tự nhiên, bởi vì mọi hư cấu dù sao cũng vẫn còn có một cái gì có tính chất tinh thần, cũng vẫn còn có tự do. Cố nhiên, mặt trời chẳng hạn, xét về nội dung, là một nhân tố tuyệt đối tất yếu; trái lại một ảo tưởng kỳ quặc là một vật ngẫu nhiên và sẽ biến mất nhanh chóng. Nhưng một mẫu mực của tồn tại tự nhiên như là mặt trời, nếu xét theo quan điểm “một tồn tại cho mình” thì sẽ là một vật bàng quan, bản thân không tự do và không tự nhận thức được mình. Còn khi ta nhìn mặt trời ở trong mối liên hệ tất yếu của nó với các tồn tại khác tương tự, ta sẽ không xét mặt trời theo quan điểm một tồn tại cho nó và, do đó, ta sẽ không xét mặt trời như một cái gì đẹp(3).


Sau khi nêu lên cái chân lý phổ biến cho rằng tinh thần và cái đẹp nghệ thuật gắn liền với tinh thần là cao hơn cái đẹp trong tự nhiên, cố nhiên chúng tôi hầu như vẫn chưa nói gì hết, bởi vì từ “cao hơn” là một cách nói hết sức mơ hồ. Nó giả thiết rằng cái đẹp trong tự nhiên và cái đẹp trong nghệ thuật ngõ hầu cũng thuộc một phạm vi quan niệm như nhau thành ra hai lĩnh vực này chỉ khác nhau về số lượng, và do đó, chỉ có sự khác nhau bên ngoài mà thôi. Song từ “cao hơn” theo nghĩa tính ưu việt của tinh thần (cũng như tính ưu việt của cái đẹp của nghệ thuật do tinh thần tạo ra) so với tự nhiên không phải là một cái gì thuần túy tương đối. Chỉ có tinh thần mới là cái chân thực với tính cách một yếu tố bao quát tất cả, và tất cả cái đẹp sở dĩ là cái đẹp thực sự chẳng qua vì cái đẹp tham dự vào một cái cao hơn và do cái cao hơn này sản sinh ra. Xét theo nghĩa này, thì cái đẹp trong tự nhiên chr phản ánh cái đẹp thuộc về tinh thần. Ở đây, trước mắt ta là một loại đẹp không hoàn mỹ, không đầy đủ, và xét về mặt bản chất, bản thân cái đẹp của tự nhiên là nằm trong tinh thần.


Chúng tôi nói thêm rằng việc hạn chế đối tượng mỹ học vào cái đẹp ở trong nghệ thuật sẽ hoàn toàn hợp chỗ, bởi vì mặc dầu người ta đã bà ra tán vào về cái đẹp của tự nhiên (những người xưa lại nói về điều đó ít hơn chúng ta). Thì mãi cho đến nay cũng vẫn chưa có ai nảy ra ý nghĩa bắt tay vào nghiên cứu các đối tượng của thế giới tự nhiên theo góc độ cái đẹp của chúng ta và xây dựng một khoa học cho phép chúng ta trình bày một cách có hệ thống những cái đẹp này. Trong khi vâng theo quan điểm cái hữu ích, người ta đã xây dựng, chẳng hạn, một khoa học về các đối tượng của tự nhiên giúp ta đấu tranh chống lại bệnh tật. Đó là khoa học về materia (dượt vật học): khoa học này miêu tả khoáng vật, các sản phẩm hóa học, các thực vật và các động vật có ích đối với việc chữa bệnh. Nhưng xưa nay không có ai hợp nhất và khảo sát các thế giới khác nhau của tự nhiên theo quan điểm cái đẹp. Chúng tôi vẫn cảm thấy rằng những khái niệm của chúng ta về cái đẹp của tự nhiên là quá mơ hồ đến nỗi trong lĩnh vực này chúng ta không có tiêu chuẩn gì hết và vì vậy việc hợp nhất các đối tượng của tự nhiên theo quan điểm cái đẹp sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả.


Những nhận xét mở đầu trên đây về cái đẹp trong tự nhiên cũng như về cái đẹp trong nghệ thuật, về mối quan hệ của hai cái này cũng như về việc gạt cái đẹp trong tự nhiên ra khỏi lĩnh vực khảo sát theo nghĩa đen là tất yếu để gạt bỏ mọi quan niệm có thể cho rằng các ranh giới của mỹ học dường như là chỉ lệ thuộc vào một sự lựa chọn võ đoán do tự chúng ta đưa ra. Ở đây chứng minh ngay mối quan hệ qua lại giữa hai loại cái đẹp cũng không có căn cứ, bởi vì việc khảo sát quan hệ là thuộc nội dung bên trong của khoa học và do đó, chỉ sau này ta mới có thể phân tích và chứng minh mối quan hệ này một cách chi tiết hơn.


 


Bác bỏ một số luận điểm chống lại mỹ học.


 


Sau khi đã qui định ranh giới như vậy, để có thể ở ngay giai đoạn mở đầu này chỉ nói đến cái đẹp trong nghệ thuật, chúng ta đã bắt gặp ngay những khó khăn mới.


Thứ nhất, người ta có thể ngờ vực không biết sáng tác nghệ thuật có xứng đáng được phân tích một cách khoa học hay không. Kể ra, nghệ thuật và cái đẹp xuất hiện ở trong các hoàn cảnh đời sống của ta chẳng khác gì một ông thần thiện: bằng cách tô điểm cái thế giới bên ngoài và cái thế giới bên trong của con người, nghệ thuật và cái đẹp đã cấp cho môi trường trong đó chúng ta sống một tính chất huy hoàng hơn, tươi vui hơn. Nghệ thuật làm cho các hoàn cảnh và sự diễn biến phức tạp của đời sống hiện thực bớt nghiêm trang. Nó xua tan nỗi buồn bực của ta trong những giờ nhàn rỗi, và ngay cả nơi không thể có điều gì tốt lành thì ít nhất nghệ thuật cũng thay thế cái xấu. Nhưng nếu như có thể tìm thấy nghệ thuật với các hình thức hấp dẫn của nó trong mọi vật – từ cách trang sức thô lỗ của những người dã man đến vẻ phong phú huy hoàng của một điện thờ tráng lệ thì tự bản thân các hình thức này cũng vẫn dường như nằm ngoài phạm vi những mục đích chân thực của đời sống. Và mặc dầu các hình tượng của một nhà nghệ sĩ không cản trở tính chất nghiêm túc của các mục đích ấy mà, xét cho cùng, đôi khi lại còn giúp đỡ cho nó vì chúng ít nhất là giúp ta tránh khỏi cái xấu thì ta phải thừa nhận rằng nghệ thuật liên quan tới những giây phút tinh thần nhà rỗi, thư thái, trong lúc đó, trái lại, những quyền lợi trọng yếu đòi hỏi tinh thần phải căng thẳng. Do đó, cố gắng khảo sát với tất cả tính nghiêm túc của khoa học cái mà tự thân là không nghiêm túc có thể có vẻ là một điều hợm hĩnh kỳ quặc.


Theo một cách nhìn tương tự, dù cho ta chấp nhận rằng tình trạng mềm yếu về tinh thần do hứng thú nghệ thuật dẫn đến không phải là tình trạng nhu nhược tai hại, thì nghệ thuật cũng vẫn là một điều xa xỉ đối với cần thiết thực tiễn nói chung và nhất là đối với đạo đức và tôn giáo. Và bởi xét theo quan điểm này, nếu ta không thể nào chứng minh rằng nghệ thuật là vô hại, thì ít nhất chỉ còn cách hình dung sự việc như sau: những cái lợi gắn liền với điều xa xỉ này của tinh thần vẫn nhiều hơn những cái hại mà nó đưa đến.


Đứng trước vấn đề này, nhiều khi người ta cấp cho nghệ thuật những mục đích nghiêm túc. Người ta đã cố gắng hình dung nghệ thuật là môi giới giữa lý tính và cảm tính, giữa thiên chức và nhiệm vụ: nghệ thuật điều hoà những yếu tố vẫn xung đột nhau này ở trong tình trạng đấu tranh gay go và đối lập nhau. Nhưng dù cho nó chấp nhận rằng nghệ thuật có những mục đích nghiêm túc hơn đi nữa, thì lý trí và nhiệm vụ cũng không được lợi gì qua việc cố gắng tìm một mắt xích trung gian như vậy. Sở dĩ thế là về thực chất, hai cái này không chịu được sự pha trộn nào hết và không thể xuất hiện trong tình trạng hòa giải như vậy – bởi vì các yếu tố này đòi hỏi một tính chất thuần túy mà chúng có được ở bản thân. Đã thế, tất cả những điều này xem ra cũng vẫn chưa làm cho sáng tác nghệ thuật trở thành một đối tượng xứng đáng với sự nghiên cứu khoa học hơn. Ở đây, nói đến một sự phục vụ hai mặt: một mặt, là phải phục vụ những mục đích cao hơn; một mặt, là phải phục vụ những công việc nhàn rỗi hơn và phù phiếm hơn, và trong khi phục vụ như vậy, nghệ thuật chỉ đóng vai một phương tiện chứ không phải một mục đích tự thân.


Cuối cùng nếu nói đến bản thân hình thức phương tiện này, thì hình thức này bao giờ cũng chứa đựng ở mình một thiếu sót nào đấy. Bởi vì nếu như nghệ thuật thực sự phục vụ những mục đích nghiêm túc hơn, và ảnh hưởng của nó dẫn tới những kết quả nghiêm túc hơn thì điều này lại được thực hiện bằng lừa dối. Nghệ thuật sống ở ngoại hiện (Schein)(4). Nhưng mọi điều này dễ dàng phù hợp với điểm: không nên sử dụng biện pháp lừa dối để đạt tới mục đích cuối cùng bản thân là chân thực. Nếu trong một trường hợp nào đó, lừa dối có thể giúp ta đạt đến mục đích thì chỉ trong một phạm vi rất hạn chế mà thôi, chứ không thể nào là một phương tiện chắc chắn để đạt tới đích. Chỉ có cái chân thực thì mới làm nảy sinh được cái chân thực, còn ngoại hiện và lừa dối thì không thể nào sản sinh cái chân thực được. Cũng vậy, khoa học chỉ nên khảo sát những hứng thú chân thực của tinh thần căn cứ vào tình trạng chân thực của hiện thực và phù hợp với hình thức chân thực của biểu hiện về hứng thú này.


Về mặt này, có thể nảy sinh những ảo tưởng cho rằng nghê thuật ngõ hầu không được nghiên cứu một cách khoa học bởi vì nghệ thuật chẳng qua chỉ là một trò chơi thú vị, và dù có theo đuổi những mục đích nghiêm túc hơn đi nữa, thì nghệ thuật vẫn mâu thuẫn với chính bản thân các mục đích ấy. Nói chung, nhiệm vụ của nghệ thuật là thuần túy phục vụ cả ở trong mục đích nghiêm túc cũng như ở trong trò chơi. Không những thế, yếu tố cốt tử của nghệ thuật cũng là những phương tiện mà nghệ thuật sử dụng để tác động đến con người, đó là ngoại hiện và lừa dối.


Thứ hai, chúng ta lại càng dễ hình dung rằng mặc dầu thích hợp với tư duy triết học, nhưng nghệ thuật cũng không phải là một đối tượng thích hợp với sự khảo sát khoa học theo nghĩa đen của từ này. Bởi vì cái đẹp trong nghệ thuật là nhằm hướng về tình cảm, cảm giác,trực giác, tưởng tượng. Lĩnh vực của cái đẹp khác lĩnh vực tư tưởng và việc lý giải hoạt động nghệ thuật và các sản phẩm của hoạt động này đòi hỏi một chức năng khác tư duy khoa học. Không những thế, điều chúng ta thưởng thức trong cái đẹp nghệ thuật, đó là tính chất tự do của sáng tác và các hình thức hình tượng. Trong khi sáng tạo hay thưởng thức tác phẩm nghệ thuật, chúng ta dường như thoát khỏi mọi xiềng xích, mọi qui tắc đã được đưa ra. Sau khi thoát ly khỏi cái sức mạnh nghiệt ngã của các quy luật và sự tập trung ủ dột của tư tưởng, chúng ta tìm sự yên tĩnh và cuộc sống tươi mát trong các hình tượng nghệ thuật. Đối lập lại cái vương quốc của hình bóng là nơi ý niệm ngự trị, chúng ta hướng về cái hiện thực vui tươi, tràn đầy nhựa sống.


Cuối cùng, các tác phẩm nghệ thuật là bắt nguồn từ các hoạt động tự do của trí tưởng tượng phóng túng, trí tưởng tượng phóng túng khi xây dựng các hình tượng mà nó tưởng tượng ra, vẫn tự do hơn là bản thân tự nhiên. Không những nghệ thuật có được tất cả tính chất phong phú của các hình thức tự nhiên rạng rỡ với cái đẹp muôn hình ngàn sắc của nó mà nghệ thuật còn đi xa hơn nữa, và rút từ trong trí tưởng tượng sáng tạo ra những sáng tác vô tận của mình. Đứng trước sự phong phú vô biên của trí tưởng tượng và sáng tác tự do của trí tưởng tượng, tư tưởng dường như mất dũng khí và sẵn sàng từ bỏ cái tham vọng nó vẫn ôm ấp là giải thích hoàn toàn các hình tượng này của trí tưởng tượng phóng túng, đưa ra lời xét xử của mình đối với chúng và qui chúng về những công thức phổ biến.


Còn về khoa học thì về hình thức của mình, như nó giả thiết, khoa học lại gắn liền với tư duy trừu tượng là cái làm cho chúng ta thoát khỏi cái khối lượng các chi tiết. Vì vậy, một mặt, khoa học gạt bỏ tưởng tượng là cái bao giờ cũng mang ở mình dấu ấn của tính ngẫu nhiên và tính võ đoán, tức là khoa học loại trừ chức năng hoạt động và thưởng thức nghệ thuật.


Mặc khác, nếu như chúng ta đồng ý cho rằng nghê thuật cần phải làm cho tính chất khô khan cứng rắn của khái niệm thành sinh động, bổ sung các khái niệm trừ tượng tẻ nhạt của khoa học bằng sức sống hiện thực và làm cho khái niệm hòa hợp với hiện thực, do đó chấm dứt được tình trạng chia rẽ này, thì sự phân tích nghệ thuật chỉ theo quan điểm tư tưởng mà thôi sẽ lại gạt bỏ, thủ tiêu mất phương tiện bổ sung lẫn nhau cho nghệ thuật sáng tạo ra, sẽ kéo khái niệm trở về tính chất giản đơn không có sinh khí và tính chất trừ tượng hư ảo của nó.


Không những thế, về nội dung của mình, khoa học nghiên cứu một cái gì ở bản thân mình là cốt yếu. Và bởi vì mỹ học gạt bỏ cái đẹp của tự nhiên, cho nên ta có thể cảm thấy rằng về mặt này ta không những không được lợi mà thậm chí còn rời khỏi cái tất yếu còn xa hơn nữa. Đó là vì tự thân danh từ “tự nhiên” đã gợi cho ta một biểu tượng về tính tất yếu và tính qui luật tức là về những quan hệ thích hợp hơn với sự phân tích khoa học, với nhận thức khoa học. Trái lại, tinh thần nói chung, mà nhất là trí tưởng tượng phóng túng thì ở đây so với tự nhiên, tinh thần làm thành một hiện tượng thường thường là võ đoán chẳng có qui luật gì, nói khác đi, thoát khỏi mọi cơ sở khoa học.


Do đó, về tất cả các mặt này, cả về nguồn gốc cũng như về ảnh hưởng và các ranh giới, nghệ thuật có vẻ là một cái gì tách khỏi khoa học, và không phải là một miếng đất tốt để áp dụng khoa học. Sáng tác nghệ thuật dường như đối lập lại mọi việc dùng tư tưởng để qui tắc hóa và ta có thể nghĩ rằng đối tượng này không đáp ứng những đòi hỏi của sự phân tích khoa học theo nghĩa đen.


Những ngờ vực như vậy (mà những ngờ vực khác tương tự) về khả năng xử lý các sáng tác nghệ thuật một cách thực sự khoa học là bắt nguồn từ những biểu tượng, từ những quan điểm và những ý nghĩ hàng ngày. Các ý kiến này đã được phát triển chi tiết đến phát chán trong các tác phẩm ngày xưa; nhất là các tác phẩm của người Pháp về cái đẹp và về các nghệ thuật khác nhau. Các sự kiện mà các tác phẩm này dẫn ra một phần  xác thực, và các nhận định phát biểu về vấn đề này mới thoạt nhìn cũng có vẻ đúng. Chẳng hạn, quả thực là các hình thức của cái đẹp cũng đa dạng như tính chất phổ biến của hiện thực cái đẹp mà chúng ta bắt gặp ở mọi nơi. Nếu như người ta muốn, người ta có thể xuất phát từ những sự kiện này để rút ra kết luận rằng ở trong bản chất của con người, mọi người đều có bản năng về cái đẹp, và sau đó đi đến kết luận rằng không thể có những qui luật chung nào về cái đẹp và về thị hiếu, bởi vì các quan niệm về cái đẹp là vô cùng đa dạng và do đó, mang tính chất cá nhân.


Trước khi chuyển từ những nhận định chung sang bản thân đối tượng, chúng tôi cần phải đưa ra vắn tắt dưới hình thức chuẩn bị những lời bát bỏ mọi điều phê phán và ngờ vực có thể có.


Trước kết là vấn đề sáng tác nghệ thuật có xứng đáng được phân tích một cách khoa học hay không. Hiển nhiên là ta có thể dùng nghệ thuật cả vào những trò chơi giải trí: nghệ thuật có thể là một nguồn giải trí và tiêu khiển. Nó có thể tô điểm hoàn cảnh trong đó con người sống, làm cho bề ngoài của cuộc sống trở thành hấp dẫn hơn và nêu bật các đối tượng khác bằng cách tô điểm cho chúng. Nếu đi theo con đường này thì nghệ thuật thực tế sẽ không phải là nghệ thuật độc lập, sẽ không phải là nghệ thuật tự do mà sẽ là nghệ thuật phục vụ. Chúng tôi cũng muốn nói về nghệ thuật tự do cả về quan điểm mục đích, cũng như về quan điểm phương tiện để đạt đến mục đích. Nhưng không phải chỉ một mình nghệ thuật là có thể phục vụ những mục đích xa lạ của bản thân mình với tính cách một phương tiện thứ yếu. Nó cũng có chung đặc điểm này với tư tưởng: số là ta có thể dùng khoa học làm phương tiện khảo sát nhằm đạt tới những mục tiêu hữu cơ và với tính cách những biện pháp ngẫu nhiên. Lúc đó, bản thân nghê thuật sẽ không qui định nhiệm vụ cho mình, mà sẽ nhận nhiệm vụ từ các đối tượng khác và từ các hoàn cảnh khác. Nhưng một khi thoát khỏi vai trò phụ thuộc này đối với tư  tưởng, một khi nó đã trở thành tự do và độc lập, nghệ thuật sẽ vươn tới chân lý và trong lĩnh vực chân lý, nghệ thuật sẽ trở thành độc lập và chỉ thực hiện những mục tiêu riêng của mình mà thôi.


Chỉ ở trong trình độ tự do này, sáng tác nghệ thuật lần đầu tiên mới trở thành nghệ thuật chân chính và chỉ khi nào sáng tác nghệ thuật nhập vào cùng một phạm vi chung với tôn giáo và triết học và chỉ là một trong những phương thức nhận thức và biểu hiện cái thần linh, những quyền lợi sâu sắc nhất của con người, những chân lý tinh thần rộng lớn nhất thì, đến lúc đó, sáng tác nghệ thuật mới giải quyết được cái nhiệm vụ tối cao của mình. Các dân tộc đã ký thác vào các sáng tác nghệ thuật những chiêm ngưỡng nội tâm và những biểu tượng của mình. Nghệ thuật thường thường là một cái chìa khóa, và ở một vài dân tộc, đó là cái chìa khóa duy nhất để hiểu sự khôn ngoan sáng suốt và tôn giáo của họ. Nghệ thuật có được đặc tính này ngang với tôn giáo và triết học sang điểm độc đáo của nó là ở chỗ: ngay cả các đối tượng siêu việt nhất cũng được nghệ thuật thể hiện dưới một hình thức cảm quan, bằng cách làm cho các đối tượng ấy gần tự nhiên hơn, gần tính chất biểu hiện của tự nhiên hơn, gần tri giác và tình cảm hơn. Trong khi thâm nhập vào nơi sâu thẳm của thế giới siêu cảm quan, tư tưởng lúc đầu đối lập cái thế giới ấy với nhận thức trực tiếp và với cảm giác, thành một cái gì thuộc thế giới bên kia; chính tự do của nhận thức tư duy được giải phóng(5) khỏi quyền lực của cái thế giới bên này – là cái mang tên hiện thực cảm quan và thế giới hữu hạn. Nhưng khi đoạn tuyệt như vậy với thế giới bên này thì chính tinh thần lại chữa được cái vết thương mà tinh thần đã tự gây cho mình ở trong sự vận động tiến lên của mình: từ bản thân tinh thần sản sinh ra các tác phẩm nghệ thuật làm thành cái mắt xích trung gian đầu tiên là mắt xích điều hòa các hiện tượng bên ngoài, cảm quan quá độ với tư duy thuần túy, điều hòa tự nhiên và hiện thực hữu hạn với tự do vô hạn của tư duy nhằm lý giải sự vật.


Hơn nữa sự khẳng định cho rằng yếu tố nghệ thuật là một cái gì không có giá trị, chỉ là cái ngoại hiện và sự lừa dối, thì điều chỉ trích này dường như đúng đắn hiển nhiên nếu ta được nghệ thuật bộc lộ và phát hiện. Kể ra, bản chất cũng biểu hiện cả ở trong thế giới hàng ngày ở bên trong cũng như thế giới hằng ngày ở bên ngoài. Song ở đây, bản chất lại biểu lộ dưới hình thức một cõi hỗn mang của những điều ngẫu nhiên lộn xộn, bởi vì bản chất bị tính trực tiếp của yếu tố cảm quan và bị những nét võ đoán của tình huống, biến cố, tính cáchv.v… xuyên tạc mất. Nghệ thuật giải phóng nội dung chân thực của các hiện tượng ra khỏi ngoại hiện và sự lừa dối ẩn nấp trong cái thế giới xấu xa bóng chớp ấy và truyền đạt cho nó một hiện thực cao hơn, do tinh thần sản sinh ra.


Như vậy, nghệ thuật không những không phải là một ngoại hiện trần truồng mà ta phải thừa nhận rằng các tác phẩm của nó có một thực tại cao hơn và chân thực hơn so với tồn tại khách quan hàng ngày.


Những miêu tả mà nghệ thuật đưa đến không thể nào gọi là ngoại hiện hư ảo, dù có so sánh chúng với những miêu tả có vẻ chân thực hơn của các tác phẩm lịch sử. Yếu tố các tác phẩm lịch sử miêu tả không phải là tồn tại trực tiếp, mà là ngoại hiện có tính chất tnh thần của nó. Ngoài ra, nội dung tác phẩm lịch sử không khỏi có những đặc điểm lịch sử ngẫu nhiên của hiện thực, với các biến cố, các chi tiết và các điểm đặc thù, trong lúc đó thì các tác phẩm nghệ thuật lại nêu rõ cho chúng ta thấy những lực lượng vĩnh viễn thống trị lịch sử mà không có những nét thứ yếu của tồn tại cảm quan trực tiếp và cái vẻ bên ngoài hư ảo của nó.


Nếu như phương thức các hình tượng nghệ thuật xuất hiện đối với chúng ta được gọi là hư  tưởng căn cứ trên sự so sánh với tư tưởng triết học, với các nguyên lý tôn giáo và đạo đức, thì điều đó là đúng, bởi vì hình thức trong đó nội dung biểu hiện ở trong lĩnh vực tư tưởng hiển nhiên là một thực tại hết sức chân thực. Song nếu so sánh với ngoại hiện của một tác phẩm sử học và của tồn tại cảm quan trực tiếp thì ngoại hiện của nghệ thuật lại có được ưu điểm sau đây: nó kéo ta ra ngoài các giới hạn, chỉ cho ta thấy một cái gì có tính chất tinh thần, và cái này nhờ có nghệ thuật cần phải trở thành đối tượng của biểu tượng của chúng ta. Trái lại, một biểu tượng trực tiếp tuy không bị xem là một điều lừa dối mà là một hiện tượng hiện thực và chân thực, nhưng thực ra cái được trí giác trực tiếp chỉ che mờ và che đậy cái chân thực mà thôi. So với tác phẩm nghệ thuật thì cái vỏ khô cứng của tự nhiên và của thế giới đời sống hàng ngày làm cho tinh thần càng khó thâm nhập vào ý niệm hơn.


Song trong khi dành cho nghệ thuật một địa vị cao như vậy, ta cần phải nhớ rằng: nghệ thuật, về hình thức cũng như về nội dung, đều không làm thành một phương thức cao hơn và tuyệt đối để cho tinh thần nhận thức được các hứng thú chân chính của mình. Do hình thức của mình, nghệ thuật còn bị hạn chế bởi một nội dung cụ thể. Chỉ có một phạm vi nhất định và một trình độ nhất định của chân thực là có thể thể hiện bằng hình thức của tác phẩm nghệ thuật. Để có một chân lý nào đấy có thể trở thành nội dung thực sự của nghệ thuật, thì nội dung ấy phải có khả năng được chuyển một cách thích hợp sang một hình thức cảm quan. Các vị thần Hy Lạp chẳng hạn là thuộc loại chân lý như vậy. Đối lập lại điều này, còn có một cách biẻu hiện sâu sắc hơn về chân lý khi không phải là gần gũi, họ hàng như vậy với cảm quan để cho chất liệu cảm quan có thể chấp nhận nó và cấp cho nó một biểu hiện tương ứng. Chẳng hạn, cách quan niệm Thiên Chúa giáo là như thế; tinh thần thế giới ngày nay, nói đúng hơn tinh thần của tôn giáo chúng ta và của nền văn hóa chúng ta là được xây dựng tên một lý tính được nâng lên một trình đọ cao hơn so với trình độ trong nghệ  thuật làm thành hình thức cao nhất để nhận thức cái tuyệt đối(6).


Tính chất đặc thù của sáng tác nghệ thuật và của những sáng tạo của nó không cho phép chúng ta thực hiện đòi hỏi cao nhất của mình một cách đầy đủ hơn. Chúng ta đã bước ra khỏi cái thời đại trong đó người ta có thể thần thánh hóa các tác phẩm nghệ thuật và sùng bái nó như sùng bái thần linh. Ấn tượng mà các tác phẩm nghệ thuật ngày nay đã gây cho chúng ta đã mang tính chất lý trí hơn: các tình cảm và các tư tưởng mà các tác phẩm nghệ thuật làm nảy sinh ở ta còn đòi hỏi phải được một sự kiểm tra cao hơn nữa và được khẳng định căn cứ vào những nguồn gốc khác. Sự suy nghĩ và tư duy đã vượt quá tác phẩm nghệ thuật. Nếu có người nào thích than phiền và phủ nhận một tình trạng như vậy, thì anh ta có thể cho rằng hiện tượng này là một triệu chứng của sự suy đồi và đổ lỗi cho tình trạng ở thời chúng ta các dục vọng và các quyền lợi ích kỷ đã chiếm ưu thế và giết chết cái thái độ nghiêm túc mà nghệ thuật đòi hỏi cũng như giết chết niềm vui mà nghệ thuật đem đến cho anh ta. Anh ta có thể tố cáo các điều kiện nặng nề của thời đại chúng ta về mặt này, đổ lỗi cho chính hoàn cảnh phức tạp của đời sống chính trị và sinh hoạt xã hội mà theo anh ta, đã không cho phép tinh thần (lúc này đã bị những quyền lợi nhỏ nhặt cầm tù) được giải phóng khỏi những quyền lợi ấy để vươn lên những mục tiêu cao cả của nghệ thuật. Theo anh ta, chính lý trí của con người lại chạy theo những điều kiện vất vả này và những lợi ích vụn vặt hàng ngày; bản thân trí tuệ đã dành toàn tâm toàn ý vào những khoa học chỉ bổ ích trong việc đạt đến những mục đích thực tiễn thứ yếu. Nó đã bị quyến rũ và lâm vào hoàn cảnh đầy ải tự nguyện vào cỏi sa mạc vô liêu này.


Dù cho tình hình là thế nào đi nữa, ngày nay nghệ thuật không còn đem đến cái khoái cảm tinh thần mà các thời đại xưa cũng như các dân tộc xưa đã tìm thấy ở nó và học chỉ tìm thấy khoái cảm ấy ở nó mà thôi. Khoái cảm này, ít nhất là về mặt tôn giáo, trước đây là gắn liền hết sức khăng khít với nghệ thuật. Nhưng ngày tươi đẹp của nghệ thuật Hy Lạp và các thời hoàng kim buổi vãn kỳ thời trung cổ đã qua rồi. Nền văn hóa hiện đại của chúng ta xây dựng trên sự suy nghĩ đã khiến chúng ta có nhu cầu bám lấy những quan điểm chung, cả đối với ý chí cũng như đối với suy luận và qui định từng tư tưởng và từng hành động của ta theo các quan điểm này. Các hình thức, các qui tắc, các nhiệm vụ, các luật lệ chung đã qui định hành vi của chúng ta và chỉ đạo cuộc đời của chúng ta. Còn hứng thú đối với nghệ thuật cũng như sáng tác nghệ thuật thì lại đòi hỏi một tính chất sinh động khi cái khái quát không tồn tại dưới hình thức những qui tắc và những châm ngôn; trái lại đóng vai một cái gì đồng nhất với những trạng thái tâm hồn và những cảm xúc, và lúc đó hư cấu chứa đựng ở mình cái khái quát và cái hợp lý trong trạng thái nhất trí với các hiện tượng cảm quan cụ thể.


Chính vì vậy, về mặt tình hình chung, thời đại ta là bất lợi cho nghệ thuật. Bản thân nghệ sĩ không chỉ đơn thuần tiêm nhiễm tiếng nói của sự suy nghĩ vang lên ầm ĩ xung quanh y, mà tiêm nhiễm cái thói quen chung là phán đoán một cách lý trí về nghệ thuật. Những cái đó thúc dục y đưa vào các tác phẩm mình nhiều tư tưởng hơn nữa. Nhưng toàn bộ nền văn hóa tinh thần của thời đại ta đều mang một tính chất đặc biệt khiến cho một nghệ sĩ sống trong cái thế giới lý trí này và trong các quan hệ của y không tài nào có thể dùng sự cố gắng của lý trí và dùng quyết định của mình để phớt hẳn cái thế giới ấy, cũng không tài nào đạt đến tình trạng cô lập giả tạo thay thế cái tình trạng đã mất đi bằng một hình thức giáo dục đặc biệt cũng như thoát ly những điều kiện của đời sống hiện tại.


Trong mọi quan hệ như vậy, nghệ thuật xét về các khả năng cao nhất của nó đối với chúng ta đã là một cái gì lùi về quá khứ. Đối với chúng ta, nó đã mất tính chất một sự chân thực và một sự sống chân chính. Nó đã thôi không bảo vệ sự cần thiết trước đây của mình ở trong cái thế giới của hiện thực và thôi không chiếm ở đấy cái điạ vị cao quý trước đây vẫn dành cho mình. Đúng hơn, nghệ thuật đã trực tiếp chuyển vào thế giới những quan niệm của chúng ta. Ngày nay sáng tác nghệ thuật không còn làm nảy sinh ngay lập tức ở trong ta một sự thỏa mãn trực tiếp, mà làm nảy sinh  một sự đánh giá bởi vì chúng ta dùng tư tưởng để xét xử về nội dung của nghệ thuật, về các phương thức biểu hiện của nó và về chỗ hai mặt này có tương ứng với nhau hay không. Do đó, khoa học về nghệ thuật ở thời đại chúng ta đã trởi thành một nhu cầu càng thực sự hơn là trong những thời đại trong đó bản thân nghệ thuật đã cấp cho ta một sự thỏa mãn toàn vẹn. Nghệ thuật yêu cầu chúng ta dùng tư duy để khảo sát nó nhưng không phải là để làm cho tác phẩm nghệ thuật sống dậy, mà để nhận thức một cách khoa học xem nghệ thuật là cái gì.


Khi ta muốn đi theo yêu cầu này, ta bắt gặp điều ngờ vực đã nói ở trên. Thậm chí, nếu ta chấp nhận rằng nghệ thuật nói chung là một đối tượng thích hợp với những suy nghĩ triết học, thì chúng ta lại ngờ vực không biết nghệ thuật với tính cách nghệ thuật có phải là đối tượng để khảo sát khoa học một cách có hệ thống hay không. Ở trong điều chê trách này chứa đựng trước hết một quan niệm sai lầm tưởng chừng như sự khảo sát triết học có thể không có tính chất khoa học. Về điểm này, tôi phải nói vắn tắt rằng, dù cho các quan niệm của những người khác về triết học và về phiếm luận triết học là như thế nào đi nữa, tôi vẫn cho rằng sự suy nghĩ triết học là gắn liền khăng khít với tính khoa học. Sở dĩ thế là vì triết học có nhiệm vụ khảo sát đối tượng căn cứ vào tính tất yếu của nó, và tính tất yếu này không những là tính tất yếu chủ quan, có tính chất bên ngoài, một sự phân loại v.v… mà triết học còn cần phải phát hiện và chứng minh đối tượng này là phù hợp với tính tất yếu của bản chất bên trong của đối tượng. Chỉ có một sự trình bày như thế thì mới làm thành tính khoa học của một công trình khảo sát. Nhưng bởi vì tính tất yếu khách quan của đối tượng là ở trong cái bản chất lô-gích siêu hình của đối tượng cho nên ta có thể và thậm chí cần phải nhân nhượng đôi chút về mặt chặt chẽ kho học khi khảo sát nghệ thuật một cách khoa học. Sở dĩ thế là vì ở trong nghệ thuật có nhiều tiền đề liên quan đến một bộ phận của chính nội dung, một bộ phận của chất liệu và yếu tố của nó, và những điều đó khiến cho nghệ thuật sinh ra từ tinh thần và được tinh thần sáng tạo ra thì chúng vẫn mang tính chất tinh thần, mặc dù sự biểu hiện nghệ thuật khoác một cái vỏ bên ngoài có tính chất cảm quan, bằng cách làm cho chất liệu cảm quan được tinh thần hóa. Xét về mặt này, nghệ thuật là gần tinh thần và gần tư duy của tinh thần hơn cái tự nhiên bên ngoài không có tính tinh thần. Tinh thần chẳng qua chỉ bắt gặp lĩnh vực của mình thôi.


Tuy sáng tác nghệ thuật không phải là tư duy và khái niệm mà là một khái niệm được phát triển  tự bản thân mình, một khái niệm bước vào lĩnh vực cảm quan xa lạ với mình, nhưng dẫu sao sức mạnh tinh thần tư duy vẫn là ở chỗ sau đây: tinh thần đạt đến bản thân không những ở cái hình thức riêng của mình tức là ở trong tư duy, mà tinh thần còn nhận ra được mình ở trong cái trạng thái bên ngoài và dị thể hóa (Entausserung)(7) thành tình cảm và cảm quan, đã đạt đến chính mình ở trong một tồn tại khác bằng cách biến thành một dị thể ở trong tư duy và do đó lại quay trở về bản thân mình. Bởi vì khái niệm là cái phổ biến được duy trì ở trong các hình thức đặc thù của mình, được nâng cao lên khỏi chính mình cũng như khỏi sự tồn tại khác biệt của mình. Nó là sức mạnh và là một hoạt động có khả năng loại trừ các tình trạng dị thể hóa mà nó quay trở về đấy trong vận động triệt để của mình. Như vậy, mặc dầu trong tác phẩm nghệ thuật, tư tưởng vẫn thuộc về lĩnh vực của tư duy ở trong các khái niệm, và tinh thần trong khi lấy tác phẩm này làm thành đối tượng khảo sát khoa học, do đó chỉ thỏa mãn một nhu cầu của chính bản chất của mình thôi, bởi vì bản chất và khái niệm của tinh thần là tư duy cho nên tinh thần chỉ cảm thấy hoàn toàn thoả mãn sau khi đã dùng tư tưởng đạt đến tất cả các sản phẩm này thực sự là của mình. Còn nghệ thuật, như chúng ta sau này sẽ thấy cụ thể, không phải là hình thức bên ngoài cao nhất của tinh thần, nhưng chỉ được khẳng định thực sự ở trong khoa học mà thôi.


Cũng hệt như vậy, không phải vì nghệ thuật có tình trạng võ đoán hỗn loạn nên không thể giải thích một cách triết học. Chúng tôi đã nêu lên điểm nhận thức những hứng thú cao nhất của tinh thần là nhiệm vụ chân chính của nghệ thuật. Xuất phát từ đó, ta thấy ngay rằng nếu xét về mặt nội dung thì sáng tác nghệ thuật không thể vâng theo trí tưởng tượng phóng túng hoàn toàn buông thả: các hứng thú tinh thần này đã xác lập những chỗ dựa cho nội dung của nghệ thuật, dù cho các hình thức và các hình tượng nghệ thuật có đa dạng và vô tận đến đâu đi nữa. Về bản thân các hình thức cũng thế: các hình thức không thể phó mặc tình trạng võ đoán hoàn toàn. Không phải mọi cấu tạo hình  thức đều có thể  thể hiện và biểu hiện các hứng thú này, đều có thể tiếp nhận và truyền đạt các hứng thú ấy; trái lại một nội dung nhất định cũng qui đinh luôn hình thức tương ứng với nó.


Lý do này cho phép chúng ta có thể dùng tư tưởng tìm được hướng đi ở trong các sáng tác nghệ thuật có hình thức nghệ thuật có vẻ hằng hà sa số không thể thấy hết được.


Như vậy, ở đây chúng tôi đã xác định nội dung của khoa học của chúng ta, chúng tôi cố tình bó hẹp vào việc trình bày cái nội dung ấy, đồng thời chứng minh rằng nghệ thuật xứng đáng trở thành đối tượng khảo sát triết học, cũng như sự khảo sát triết học có thể hiểu được bản chất của nghệ thuật.


(Còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch và giới thiệu. NXB Văn học, 1999.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »