tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28949964
Lý luận phê bình văn học
09.10.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học Hegel (3)

Sự phát triển của kịch.


Luận điểm 42: Cơ sở chung của hành động bi kịch Hy Lạp là trạng thái của thế giới anh hùng kết hợp với sự nhiệt tình cá nhân rắn chắc như ta thấy trong Antigôn của Xôphôklơ, Orextơ của Etsin. Kết thúc ở đâythực hiện bằng cách hủy bỏ tính phiến diện ở cá nhân và cá nhân hoặc bị hy sinh như trong Antigôn hoặc có một thần linh xuất hiện để tạo ra sự hòa giải như trong Philôctét, hoặc bằng sự hòa giải bên trong như Ơđíp tự chọc mù mắt rồi rời khỏi thành Thebơ trong Ơđíp ở Côlôn.


Luận điểm 43: Cơ sở của hài kịch Hy Lạp là thái độ thản nhiên, yên ổn của tâm hồn, Arixtôphan và bậc thầy vô song trong việc chế giễu thái độ tự tin ngu ngốc, hoàn toàn thản nhiên của người Aten trước một giá trị: quốc gia, đạo đức, tôn giáo, phong tục.


Luận điểm 44: Đặc điểm của bi kịch hiện đại.


Bi kịch hiện đại lấy cái nội cảm chủ quan, cái tình trạng phân đôi của nội tâm làm cơ sở và Sêchpia là người vĩ đại nhất ở đây (Risa, Mắcbét, Vua Lia…). Lối Thoát của nó là cá nhân vui lòng chấp nhận những kết quả khốc liệt phù hợp với hành động của y hay do một nguyên nhân ngẫu nhiên như trong Rômêô và Giuliét.


Luận điểm 45: Đặc tính của hài kịch hiện đại.


Hài kịch hiện đại cốt phơi bày tính chất nôm na, vô nghĩa của những khát vọng cá nhân và cái cười chứa đựng một niềm vui độc ác: các hài kịch của Môlie, của Tây Ban Nha. Muốn tìm lại hài kịch nên thơ gần với hài kịch Hy Lạp thì các tác phẩm lỗi lạc nhất cũng là những tác phẩm hài của Sếchpia.


*


*           *


Trở lên là tóm tắt toàn bộ công trình dồ sộ này. Người tóm tắt cố gắng nêu lên:


Tính duy lý trong Mỹ học của Hêghen.


 Biện chứng pháp của cái đẹp, trong đó mọi cái đều quy thành quan hệ, có thể chuyển hóa lẫn nhau trong những điều kiện nhất định, làm ta thấy tính chất đại số học của triết học Hêghen.


Quan hệ giữa mỹ học Hêghen với mỹ học hiện thực. Điều này chỉ làm một phần vì đây chỉ là tóm tắt tác phẩm của Hêghen.


Ngoài cuốn Mỹ học, Hêghen còn viết nhiều trang sâu sắc về mỹ học nhưng tản mác trong nhiều tác phẩm khác. Số lượng các trang này đã được tập hợp lại trong bản dịch Nga văn cũng bằng một nửa quyển Mỹ học. Để hiểu Hêghen, nên đọc Mỹ học trước, vì nó tương đối dễ đọc hơn. Từ khi tác phẩm này xuất bản cho đến nay, tuy các công trình mỹ học có nhiều nhưng chưa thấy có công trình nào bao quát rộng lớn, giải thích chặt chẽ và nhất quán như công trình của Hêghen.


Xin giới thiệu ngắn gọn biện chứng pháp của Hêghen. Mỗi hình thức nghệ thuật như Thơ hay Nhạc đều có những thành tố không thể thiếu, lại có những thành tố không thể có khi đối lập các loại hình với nhau. Thí dụ Nhạc và Thơ đều có âm thanh. Ta đối lập âm thanh trong nhạc và trong thơ để rút ra những nét khu biệt xuất phát từ bản chất âm thanh ở hai thể loại. Không chỉ có âm thanh mà còn có cả cách tổ chức âm thanh thành kiến trúc tạo nên thi pháp tròn thơ, nhạc pháp trong nhạc. Hai cách này cũng khác nhau về bản chất. Mỗi nghệ thuật có được thành tố này thì vắng thành tố khác. Thí dụ sự vắng mặt của không gian trong nhạc, của vận động trong điêu khắc, của nội cảm trong kiến trúc. Đây đều là những vắng mặt có ý nghĩa và nghệ sĩ phải khắc phục sự vắng mặt bằng một cách đền bù để cấp cái nghĩa mà tự thân nghệ thuật xét với con mắt tục khách thấy thiếu. Mọi cái là quan hệ và các quan hệ này chuyển hóa trong lịch sử theo những đòi hỏi chung của thời đại để thực hiện yêu cầu đem đến sự thống nhất giữa hình thức (biểu hiện bằng chất liệu, các chác tổ chức bằng chất liệu mà truyền thống đã có được), với nọi dung là khao khát tái hiện nội cảm của nghệ sĩ, nội cảm này về thực chất là chung cho một thời đại.


Làm thế nào để lật ngược biện chứng pháp này? Không phải bằng cách đưa ra những kết luận có sẵn của các nhà cách mạng, theo con đường giáo điều, minh họa. Mà phải đi từ đầu. Mác chẳng hạn cắt nghĩa lịch sử xuất phát từ nhu cầu vật chất là ăn. Rồi có kẻ muốn ăn nhưng không muốn làm, bắt người khác phải làm cho mình ăn, rồi đến các kiểu tổ chức để ăn rất nhiều mà làm rất ít. Bằng cách đó, ý niệm của Hêghen chuyển thành nhu cầu vật chất.


Sở dĩ Hêghen viết khó đọc là vì ông tách rời ba kiến giải (perpective). Lấy phần bàn về các loại hình nghệ thuật làm thí dụ chẳng hạn, ta thấy trước tiên, ông tách ý niệm cái đẹp ra, rồi xét ở tự thân nó, như là một yếu tố của hệ thống triết học. Sau đó, ông xét sự phát triển của ý niệm cái đẹp trong lịch sử. Ông trình bày lịch sử trải qua các giai đoạn tượng trưng, cổ điển, lãng mạn. Cuối cùng, ông xét sự thể hiện nghệ thuật trong từng loại hình riêng như kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thơ. Nếu nhìn từng phần một tách rời hai phần kia thì rất khó nắm cách lập luận của ông.


Cũng vậy, để đảo ngược mỹ học của Hêghen phải xuất phát từ nhu cầu bất biến là cuộc sống thực tế đòi hỏi một sự tập dượt: các giác quan đều trở nên tinh vi trong cuộc tập dượt này. Nghệ thuật trước hết giúp cho cuộc tập dượt thành hào hứng. Âm thanh, vận động, đường nét, ánh sáng cho cuộc tập dượt đều gắn liền với cả lịch sử đấu tranh để tồn tại, điều này khảo cổ học đã chứng minh. Sang xã hội có giai cấp có sự chuyển hóa trong nội cảm của từng lớp người và có những vấn đề chung của mỗi thời đại. Những vấn đề này không phải là do sự phát triển của bản thân ý niệm mà có. Trái lại điều này là sự phát triển của kỹ thuật làm chủ tự nhiên và biện pháp sử dụng để làm chủ xã hội. Tính khô cứng của nghệ thuật Ai Cập không phải do ý niệm xuất phát từ trạng thái tượng trưng mà là phản ảnh thực tế của một xã hội tôn ty luật gắt gao, trong đó tôn ty quy định từng người và không có cá nhân. Nghệ thuật cổ điển ra đời ở Hy Lạp với tính cách biểu hiện của cá nhân trong hoàn cảnh phải dựa vào sự tồn tại của thành bang, kết quả của một nền dân chủ chủ nô, tức là một chế độ dân chủ tự thân nó xây dựng trên bất công và phản dân chủ cao nhất. Giai đoạn nghệ thuật lãng mạn là phản ánh sự xuất hiện của con người tự do tách khỏi công cụ lao động.


Một khi chấp nhận kiến giải mới do khoa học xã hội thế kỷ XX xác lập thì việc gì phải đau xót về sự tan rã của nghệ thuật, về cái chết của yếu tố thần linh. Phải nhìn thấy đây là bước tiến mới, trong đó nghệ thuật gắn chặt với kỹ thuật, khoa học, máy móc và sinh hoạt. Một xã hội như thế dứt khoát phải trải qua rất nhiều biến động, một ổn định đều sẽ bị phá vỡ để đi đến những tìm tòi riêng biệt của cá nhân.


Những điều này xã hội học, kinh tế học đã chứng minh. Không phải ý niệm tự nó phát triển mà chính sự phát triển của xã hội được phản ảnh thành sự phát triển của ý niệm. Dĩ nhiên con đường duy vật này mất nhiều công sức, trong đó cách nhìn để tìm quan hệ, đối lập các thành tố để rút ra ý nghĩa từng quan hệ, xét quan hệ trong lịch sử đấu tranh với thiên nhiên (mặt kỹ thuật) và đấu tranh xã hội (mặt nội dung tư tưởng) là vất vả hơn con đường minh họa những luận điểm áp dụng cho những lĩnh vực không thuộc nghệ thuật.


Hêghen sống vào thời đại xã hội học, dân tộc học, nhân loại học chưa ra đời, sự khảo cổ học chỉ mới đào bới trên bờ sông Nin, Đông phương học còn mò mẫm. Thế mà ông đã làm được một công trình đồ sộ như thế. Tôi biết trong từng lĩnh vực của nghệ thuật Việt Nam các bạn của tôi có nhiều kiến thức hết sức quí báu mà Hêghen không sao có được. Con đường phải đi là “trèo lên vai Hêghen” bằng cách nắm biện chứng pháp, tiếp thu các nghiên cứu của khảo cổ học, dân tộc học, Đông phương học, nhất là Việt Nam học, chuyển hóa biện chứng pháp này sang con đường thỏa mãn những nhu cầu vật chất và những dòi hỏi của tâm thức Việt Nam. Trong hoàn cảnh này, việc đọc Mỹ học của Hêghen là rất thích hợp. Khi các nhà cách mạng hy sinh để giải phóng đất nước này, nguyện vọng của các bậc tiền bối là sau khi giành được độc lập các thế hệ tiếp theo xây dựng được một đất nước đàng hoàng hơn, tốt đẹp hơn, có phần đóng góp xứng đáng vào gia tài tinh thần và kỹ thuật của thế giới. Có phải thế không các bạn?


 




(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch & giới thiệu. NXB Văn học, 1999.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
Về Roger Garaudy với chủ nghĩa hiện thực vô bờ bến - Phương Lựu 18.08.2019
Saint John Perse - Roger Garaudy 18.08.2019
Một dẫn luận về chủ nghĩa siêu hiện đại - Phạm Tấn Xuân Cao 17.08.2019
Phương thức huyền thoại trong sáng tác văn học - Phùng Văn Tửu 17.08.2019
Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka - Trương Đăng Dung 17.08.2019
Nguyễn Thành Long và "một cuộc sống khác" - Vương Trí Nhàn 11.08.2019
Nguyễn Công Hoan và thể tiểu thuyết - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Điểm lại quan niệm về hồi ký và các hồi ký đã in trong khoảng 1990-2000 - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
Nguyễn Công Hoan và cuốn hồi ký "Đời viết văn của tôi" - Vương Trí Nhàn 10.08.2019
xem thêm »