tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27193796
Lý luận phê bình văn học
03.09.2009
Nguyễn Hữu Sơn
Tính vấn đề của Truyền thuyết sông Thu Bồn

Nhà văn cựu chiến binh Từ Nguyên Tĩnh (tên thật là Lê Văn Tĩnh) thuộc thế hệ đàn anh, có đến mười năm tham gia chiến trận rồi mới trở về học ngành văn cùng một khóa với chúng tôi ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1978-1982).


Còn nhớ, gặp lại sau khi ra trường mấy năm, có lần ông “khoe” với chúng tôi rằng mới tham dự trại sáng tác mãi trong Đà Nẵng (được gặp cả các nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, Phan Tứ, Nguyên Ngọc…) và dự định sẽ viết một cuốn sách tâm huyết về tiểu đoàn đặc công Lam Sơn – Thanh Hóa trên địa bàn Quảng – Đà. Một phần tư thế kỷ qua đi, mãi gần đây tôi mới nhận được tiểu thuyết Truyền thuyết sông Thu Bồn (NXB Hội Nhà văn, 2008, 358 trang), thành quả nghệ thuật từ lời hẹn năm nảo năm nào. Tôi đọc qua một lượt, thấy nhà văn xứ Thanh thực sự đã thấm được cái hồn cốt con người, cuộc sống, niềm vui nỗi buồn cả một thế hệ đã đi qua chiến tranh và một thời hậu chiến. Thiên tiểu thuyết giàu tính điện ảnh, phác vẽ một thời gian khổ, đầy biến động của đất nước và biết bao số phận con người. Hầu hết các nhân vật ở đây đều chứa chất những nghịch lý, những bi kịch lớn và nhỏ, những trận bão lòng của số phận cá nhân trong cơn lốc xoáy của vận mệnh lịch sử, dân tộc.


Về kết cấu, Truyền thuyết sông Thu Bồn mở ra với sự kiện vợ chồng Thậm – Thư nhận được tin con gái Thư An du học bên Mỹ sẽ lấy chồng người Mỹ. Kết thúc thiên tiểu thuyết là việc chàng rể người Mỹ tìm lại xác cha mình trong cuộc chiến trước đây. Người cha đăng lính kia từng bắn trọng thương Thậm (ông thông gia hôm nay) và chính hắn đã bị một đồng đội của ông Thậm kịp thời tiêu diệt (bây giờ cũng có mặt trong ngày vui của đôi trẻ và cùng đi tìm xác người lính Mỹ năm xưa). Tấn bi kịch kết thúc có hậu, một kiểu “khép lại quá khứ” hay là “bước qua lời nguyền” ở tầm quốc gia, dân tộc.


Với 26 chương chính văn và một chương Vĩ thanh, đan xen giữa khung cảnh một thời bom đạn thực chất lại là tấn bi kịch gia đình nối dài tới ba bốn thế hệ, suốt hơn nửa thế kỷ, khởi đầu từ kết thúc chống Pháp (1954), trải qua cuộc trường kỳ chống Mỹ gian khổ đến 1975 và một thời hậu chiến kéo dài tới khoảng cuối thế kỷ XX. Ở đây có sự đối đầu quyết liệt giữa ta và địch, có sự phân hóa ngay trong đội ngũ những người cách mạng (trung kiên như ông Hoan, Tấn, Thậm, Thư và kẻ chiêu hồi như Kham, Nhiễu), có sự phân hóa ngay trong mỗi con người trước hoàn cảnh, tình thế và thời cuộc mỗi ngày mỗi khác (má Nhàn lấy ông Hoan sinh Thư cùng theo cách mạng nhưng sau lại lấy dượng Châu sinh Ly Ly ở phía bên kia; ông Kham là thủ trưởng cũ nhưng lại gặp Thậm khi phải ra trình diện, sau đợt cải tạo đã cùng vợ con đi Mỹ theo diện HO; cô Thư cách mạng nòi nhưng em gái cùng mẹ lại xuôi về lối sống Mỹ và người con gái duy nhất du học bên Mỹ cũng lấy chồng người Mỹ…). Bao nhiêu nhân vật là bấy nhiêu hoàn cảnh, số phận. Có thể nói chính việc xây dựng được hệ thống nhân vật phức tạp với đủ mọi tình huống đã giúp cho ấn tượng về những trang ghi chép tư liệu các trận đánh không quá nặng nề, đủ làm nền cho một thời trận mạc, đồng thời tô đậm thêm tâm thế hoài cảm, phán xét, chiêm nghiệm lại những tháng năm quá khứ.


Từ điểm nhìn của ngày hôm nay, vấn đề số phận cá nhân và cộng đồng đã thực sự trở thành một chủ điểm quan trọng, đạt tới “tính vấn đề” trong Truyền thuyết sông Thu Bồn. Bước sang thời hậu chiến, có khi chính sự đoàn tụ lại vô tình mở rộng, khơi sâu những vết thương lòng: “Ngày giải phóng, gia đình Thư là một bi kịch” (tr.60). Đó là những tấn bi kịch nhỏ trong ngày chiến thắng vĩ đại của cả một dân tộc, cảm thấu cái giá của sự hy sinh với bao lớp người. Bà ngoại Thư nói: “Nhưng mà cái nước mình nó khổ” (tr.21). Ông Hoan từ nơi tù ngục trở về nói với người vợ cũ: “Hoàn cảnh nước mình nó thế. Anh thật có lỗi không đón được mẹ con em, để em khổ mọi bề” (tr.74), rồi phân trần với người chồng sau của vợ: “Không! Tôi chưa bao giờ phụ bạc với bà ấy cả… Tình cảnh của nước mình… Ông hiểu chớ?” (tr.279), và ông chiêm nghiệm: “Lúc chiến tranh thì mọi người cùng chung kiếp nạn. Bây giờ hòa bình rồi, bi kịch rơi vào từng người” (tr.286). Bản thân ông cũng thấy rõ sự lạc bước và những giới hạn của mình. Sau bao năm ở tù, tinh thần có thừa mà thiếu kiến thức, ý chí có thừa mà lúng túng như gà mắc tóc: “Nghĩ một lúc thấy điều này là phải, điều kia đuối lý. Nghĩ lại hầu như cái gì cũng là đúng… Góp ruộng, ai vào, ai không cho vào. Lấy lao động là chính, để cải tạo con người, thì con người nào không phải lao động” (tr.86), rồi khi khác trăn trở suy tư: “Có phải là vận mạng của dân tộc mà bất hạnh thì kéo theo bao người khác cùng khổ nhục và đắng cay không? Ba không được học nhiều, nhưng nghĩ thì đâu chỉ người học nhiều là có cái phước được nghĩ ngợi mà người ít học không được cái ân huệ ấy” (tr.291). Đặc biệt đến các chương 22-26, khi Thư An cùng anh chồng người Mỹ và dì Ly Ly hồi hương, không khí cuộc đoàn viên đã khép lại một thời, mở ra những trang đời mới thật nhiều hy vọng.


Truyền thuyết sông Thu Bồn là cuốn tiểu thuyết không dễ theo dõi. Ở đây có tầng tầng lớp lớp số phận nhân vật, sự kiện, biến cố. Giọng điệu trần thuật và tâm tưởng “hồi cố” cũng không phải do một vài nhân vật chính dẫn dắt mà chính bởi sự xếp đặt của một kiểu nhân vật hữu danh có tên là Lịch Sử. Chính vì thế mà người đọc không thấy nhiều những trang hồi ức, hồi tưởng của nhân vật. Tất cả thường chỉ là những mảng thực tại gắn kết, đan xen với nhau, chi phối lẫn nhau, hiển hiện như chính thực tại Lịch Sử. Cốt truyện không đơn tuyến, không xây dựng theo trật tự thời gian tuyến tính, lớp lang trước sau. Trên cái nền của thực tại, quá khứ được mở ra, đan cài theo nhiều chiều, nhiều tuyến nhân vật và sự kiện, lời độc thoại và đối thoại, nhiều khoảng không gian và thời gian khác biệt nhau. Có thể định danh Truyền thuyết sông Thu Bồn là tiểu thuyết sử thi về những số phận con người ở một miền đất trung dũng, kiên cường…


Tháng 7-2009


NHS

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đọc thơ Tô Thùy Yên - Vĩnh Hảo 23.05.2019
Tô Thùy Yên - Thu Tứ 23.05.2019
Chiêm nghiệm”Tuổi heo may” - Nguyễn Thụy Kha 20.05.2019
Bế Kiến Quốc- Thi sĩ lãng mạn và khát khao thành thực - Nguyễn Thị Minh Thái 19.05.2019
Đỗ Quang Tiến - Một nhà văn Hà Nội khiêm cung, trung hậu - Ngô Thảo 08.05.2019
30 bài thơ hay và 70 bài thơ dở nhất thế kỷ XX - Trần Mạnh Hảo 01.05.2019
Trần Mạnh Hảo, mình anh trong một thế giới - Nguyễn Đức Tùng 01.05.2019
Dòng sông văn hóa trong “Sức bền của đất” - Lê Quang Sinh 01.05.2019
Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử (9- Hết) - Chu Văn Sơn 18.04.2019
Ba đỉnh cao Thơ Mới: Xuân Diệu - Nguyễn Bính - Hàn Mặc Tử (8: Hàn Mặc Tử) - Chu Văn Sơn 18.04.2019
xem thêm »