tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29914623
Tiểu thuyết
08.10.2008
Stefan Zweig
Khát vọng đổi đời

Ai đã có lần ghé vào phòng làm việc của một trạm bưu điện nông thôn nước Áo thì có thể coi như mình đã biết tất cả các trạm bưu điện khác, bởi lẽ chúng chẳng khác nhau là bao. Vẫn những đồ vật được sắp đặt, hay nói đúng hơn là được quy định sắp đặt theo một quy chế thống nhất, vẫn những dụng cụ có từ thời Frăngxơ-lôxíp và ở bất cứ đâu những vật dụng ấy đều mang dấu ấn của thói quan liêu nặng nề, ngay cả những xóm làng hẻo lánh vùng Tirôn băng giá cũng thế. Trong các trạm bưu điện ấy lúc nào cũng bốc lên mùi tù hãm của thuốc lá rẻ tiền và bụi giấy, những mùi vị đặc trưng cho các phòng giấy của nước Áo cổ. Các trạm bưu điện đó dù có ở nơi nào cũng đều được thiết kế giống nhau. Từ tấm vách ngăn bằng gỗ với những ô cửa sổ nhỏ lắp kính chia căn phòng theo một tỉ le nhất định, như muốn ngăn đôi thế giới thành hai khu vực – khu vực dành cho khách hàng và cho nhân viên phục vụ. Trong khu vực dành cho mọi người chẳng có lấy một chiếc ghế hoặc những đồ dùng cần thiết dành cho khách hàng, điều ấy đã nói lên một cách rõ ràng rằng chính phủ rất ít quan tâm đến sự có mặt trong giây lát của mọi công dân trong khu vực ấy. Đồ gỗ duy nhất ở đây thường chỉ có một chiếc bàn viết phủ vải sơn dựng hờ hững vao tường. Tấm vải sơn nứt nẻ, loang lổ vết mực dù chẳng ai nhớ nổi trong cái lọ mực được gắn chặt trên mặt bàn đã bao giờ có một thứ gì, ngoài một chất lỏng lổn nhổn như cháo. Còn nếu tình cờ cạnh đấy có một chiếc bút thì chắc chắn là ngòi bút bị toè, không thể viết được. Cơ quan ngân khố quốc gia chẳng những chỉ tiết kiệm trong các tiện nghi mà ngay cả trong hình thức cũng vậy. Kể từ khi nước Cộng hoà ra lệnh bãi bỏ các bức chân dung của Frăngxơ-lôxíp đến nay thì vật trang trí duy nhất ở những nơi công cộng là những tấm quảng cáo loè loẹt dán đầy trên các bức tường không quét vôi bẩn thỉu, kêu gọi mọi người đến xem các phòng triển lãm đã đóng cửa  từ lâu hoặc mua vé xổ số. Còn trong một vài văn phòng khác, ít được ai ngó tới, vẫn treo những tấm áp phích hô hào mọi người mua công trái chiến tranh, với những thứ trang trí rẻ tiền như vậy lại còn kèm theo một lơi yêu cầu không được hút thuốc lá và hầu như chẳng ai thèm chấp hành, sự hào phóng của quốc gia trong các văn phòng bưu điện chỉ được giới hạn có từng ấy.


         Tuy nhiên, ở ngăn của nhân viên phục vụ trông có vẻ đáng kể hơn nhiều. Tại đây, với một quy mô thích hợp, chính phủ muốn phô trương sự hùng cường cua mình dưới mọi hình thức. góc phòng thường đặt một chiếc két sắt chống cháy mà dựa vào những chấn song lắp trên cửa sổ ta có thể đoán được trong chiếc két ấy đôi khi có chứa những khoản tiền lớn. Trên bàn làm việc ngự trị chiếc máy điện báo bằng đồng thau sáng loáng, trông như một vật trang sức quý giá. Cạnh đấy là chiếc điện thoại đang yên nghỉ trên cái giá đỡ mạ kền. Hai thứ dụng cụ trên được cố tình để riêng ra trong một vị trí sang trọng như vậy bởi lẽ chúng đã nối liền cái thôn hẻo lánh này với mọi miền của đất nước bằng những dây dẫn bằng đồng. Những dụng cụ vặt vãnh còn lại của những ngành bưu điện đành phải chịu cảnh lép vế, những chiếc cân và những chiếc túi đựng thư, các bảng tra cứu, những chiếc cặp giấy nhét đầy sổ sách, cuốn sổ thống kê, chiếc hộp tròn đựng tiền trả cước phí đầy tiền xu hễ cứ động vào là kêu lẻng xẻng, những quả cân, những chiếc bút chì xanh, đỏ, đen và bút chì hoá học, những chiếc kẹp giấy, cuộn giấy buộc hàng, hộp đựng xi, miếng bọt biển thấm nước, cái bàn thấm, con dao rọc giấy, lọ keo cùng với chiếc kéo,tất cả những dụng cụ khác nhau đó đành phải chen chúc lộn xộn nơi mép bàn. Còn trong các ngăn kéo thì nhét đầy mọi thứ giấy tờ đủ loại và những biểu mẫu. Mới thoạt nhìn, tất cả cái đống vật dụng ấy có vẻ được sử dụng rất hoang phí, nhưng cảm giác ấy hoàn toàn sai lầm. Nhà nước thường xuyên kiểm tra rất nghiêm ngặt từng thứ vật dụng rẻ tiền mau hỏng đó. Từ mẩu bút chì đến con tem rách, từ tờ giấy thấm nhàu nát cho tới mẩu xà phòng ở chỗ rửa tay, từ chiếc bóng chiếu sáng văn phòng cho tới chìa khoá để khoá văn phòng lại, chính phủ yêu cầu các nhân viên phục vụ phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về những tài sản quốc gia đó, cho dù chúng đã hỏng hay đang sử dụng. Bên cạnh chiếc lò sưởi bằng gang có treo một bảng đánh máy liệt kê tất cả mọi thứ vật dụng, bên dưới có đóng dấu hẳn hoi và một chữ ký loằng ngoằng. Với một sự chính xác của toán học, tất cả mọi thứ dụng cụ, kể cả những thứ rẻ tiền và không đáng kể của trang thiết bị đã được tính toán, cân nhắc để cung cấp cho từng trạm bưu điện tương ứng. Không một thứ vật dụng nào không có tên ở trong bảng lại có quyền tồn tại trong phòng làm việc, và ngược lại mỗi một dụng cụ có tên trong bảng phải luôn luôn có mặt trong phòng để bất cứ lúc nào cũng có thể sử dụng được. Chính quyền, luật lệ và thể chế đã quy định như vậy.


         Nghiêm khắc mà nói trong cái bảng liệt kê được đánh máy cẩn thận ấy cần phải ghi thêm một nhân vật nữa, đó là người nhân viên cứ sáng sáng, vào đúng bảy giờ lại nhấc tấm kính ở vách ngăn ra rồi đưa toàn bộ thế giới vô tri ấy vào hoạt động. Người đó sẽ mở các bao thư, đóng dấu vào các bao thư, thanh toán các giấy chuyển tiền, viết hoá đơn, cân các bưu kiện, ghi chép và đóng những cái dấu bí hiểm không ai hiểu nổi lên giấy tờ bằng những bút chì xanh đỏ và bút chì hoá học, nhấc ống nghe lên và quay cái máy điện thoại Morze. Nhưng có lẽ vì tế nhị mà người ta không đưa cái nhân vật vẫn thường được khách hàng gọi là nhân viên bưu điện ấy vào trong bảng liệt kê vật dụng nói trên. Tên họ của người đó đã được đăng ký trong bộ phận khác của ban giám đốc bưu điện. Tuy nhiên cũng giống như những thứ vật dụng khác, người đó cũng nằm trong diện được kiểm tra thường xuyên.


         Trong các phòng làm việc đáng tôn kính ấy hầu như không bao giờ xảy ra một sự thay đổi đáng kể nào. Những quy luật về cuộc sống và cái chết đành phải lùi bước khi đụng vào bước tường chắn của quốc gia. Xung quanh ngôi nhà bưu điện, cây cối đâm chồi nẩy lộc rồi trút lá, trẻ con lớn lên còn người già chết đi, những ngôi nhà cũ kỹ ọp ẹp đổ sập xuống và người ta lại xây những ngôi nhà mới, chỉ riêng cái công sở của nhà nước ấy là vẫn khoa trương sức mạnh không hề bị khuất phục bởi bất cứ điều gì. Bởi lẽ, trong cái môi trường ấy, mỗi một vật dù bị mòn hay bị mất, bị hỏng hay bị gẫy, liền được các nhà chức trách yêu cầu phải thay thế ngay bằng một tiêu bản khác giống y như vậy. Chính điều đó được chứng minh sự hơn hẳn của cơ quan nhà nước với thế giới bên ngoài đang tàn rữa. Nội dung chứa đựng bên trong có thể chỉ nhất thời nhưng hình thức thì không bao giờ thay đổi. Trên bức tường có treo một tấm lịch. Cứ mỗi ngày trôi qua, một tờ lịch lại được bóc đi. Sau một tuần mất bẩy tờ, sau một tháng ba mươi tờ. Vào ngày ba mươi mốt tháng mười hai, khi lóc lịch đã hết người ta làm đơn xin cái mới, cũng với kích thước y như vậy, hình thức ấn loát y như vậy. Và thế là một năm mới đã bước sang nhưng tấm lịch thì vẫn như cũ. Trên bàn có một cuốn sổ kế toán với những hàng số chi chít. Khi những dãy số của hàng bên trái vừa cộng xong, kết quả liền được đưa sang hàng bên phải và công việc tính toán lại được tiếp tục, hết trang này đến trang khác. Khi trang cuối cùng được viết kín cuốn sổ cũng coi như hết, lại bắt đầu một cuốn mới, vẫn hình dạng y như thế, chiều dày y như thế, không khác chút nào so với cuốn trước. Còn tất cả mọi công việc đã kết thúc trong ngày hôm ấy thì hôm sau sẽ bắt đầu lại, tẻ nhạt, đơn điệu như chính bản thân công việc. Trên mặt bàn sẽ lại xuất hiện chính những đồ vật ấy, vẫn những tập biểu mẫu in sẵn với những cây bút chì, vẫn những chiếc kẹp giấy va những tờ phiếu ghi, lần nào công việc cũng có vẻ như mới nhưng thực ra vẫn như cũ. Không có chuyện gì thay đổi hoặc thêm vào trong cái thế giới do nhà nước quản lý này. Cuộc sống cứ thế lặp đi lặp lại, không chút sinh khí, nói cho đúng hơn là sự chết dần chết mòn ấy không bao giờ chấm dứt. Điều duy nhất khác nhau giữa những đồ vật là nhịp độ hao mòn và khả năng phục hồi của chúng, nhưng điều đó không phụ thuộc vào bản thân đồ vat. Chiếc bút chì chỉ tồn tại trong một tuần và sau đó được thay bằng chiếc khác giống y như chiếc cũ. Cuốn sổ bưu điện sống được một tháng, chiếc bóng đèn được ba tháng, còn tấm lịch thì một năm. Chiếc ghế mây được quy định phải dùng trong ba năm mới được thay thế còn người ngồi trên đó thì phải ngồi suốt đời, khoảng ba mươi đến ba mươi lăm năm. Sau đó trên chiếc ghế ấy người ta sẽ bổ nhiệm một người khác, song chiếc ghế vẫn như cũ, chẳng khác gì chiếc trước.


         Vào năm 1926, trong trạm bưu điện Kliain-Raifling, nằm ở một làng nhỏ bình thường cạnh thành phố Cremxơ và cách thủ đô Vienna khoảng hai giờ xe lửa, thứ vật dụng có thể thay thế được mà ta vẫn thường gọi là “nhân viên phục vụ” lại là một người phụ nữ. Và bởi lẽ trạm bưu điện này được xếp vào loại nhỏ, do đó người nhân viên cũng chỉ được mang tước vị (trợ lý ngành bưu điện). Qua tấm kính của vách ngăn ta không thể nhìn rõ cô gái được, nhưng có thể thấy một khuôn mặt thiếu nữ nhìn nghiêng không có gì đặc biệt song rất dễ thương: cặp môi nhỏ, đôi má hơi nhợt nhạt, phía dưới cặp mắt có một quầng tối. Vào buổi chiều, khi cô gái bật ngọn điện sáng gắt lên, người tinh mắt có thể nhận thấy một vài nếp nhăn nhỏ trên trán và hai bên thái dương, mặc dù vậy, bên cạnh cành Miên Quỳ ló sau khung cửa sổ và bó hoa Cơm cháy, sáng nay cô vừa cắm trong chiếc lọ bằng sắt tây, cô gái vẫn là một đối tượng sinh động hơn cả giữa những vật dụng của trạm bưu điện Kliain-Raifling. Và cũng dễ dàng nhận thấy cô gái ấy còn tiếp tục công việc của mình ít nhất là hai mươi lam năm nữa. Bàn tay nhỏ nhắn với những ngón tay trắng xanh kia sẽ còn phải nhấc lên đặt xuống hàng nghìn lần nữa, cái tấm kính ngăn. Và hàng trăm nghìn lần nữa, mà cũng có thể là hàng triệu lần nữa, bằng những động tac máy móc, cô sẽ còn phải đặt những bức thư lên miếng đệm cao su, rồi cũng hàng nghìn lần nữa có thể hàng triệu lần nữa, đóng cái dấu bằng đồng nhem nhuốc lên những con tem. Có lẽ các thao tác thành thạo của cánh tay cô gái sẽ ngày càng chính xác hơn, nhanh nhẹn hơn nhưng đồng thời cũng trở nên vô ý thức hơn. Hàng trăm nghìn bức thư nữa sẽ qua tay cô gái, tất nhiên những bức thư khác nhau nhưng chúng luôn luôn chỉ là những bức thư, và những con tem dẫu có khác nhau, nhưng dù sao thì đó cũng chỉ là những con tem. Những ngày tháng khác nhau sẽ trôi qua, nhưng ngày nào cũng bắt đầu từ tám giờ sáng đến mười hai giờ trưa, từ hai giờ chiều đến sáu giờ tối, rồi năm tháng sẽ trôi qua, không chút hứng thú, không chút thay đổi vì vậy chỉ là những công việc ấy, cứ lặp đi lặp lại.


         Cũng có thể vào chính cái buổi trưa mùa hạ êm ả ấy, người thiếu nữ có mái tóc màu hung nhạt ngồi sau ô cửa kính đang nghĩ về tương lai của mình, mà cũng có thể nàng chỉ đang mơ mộng. Dù có thế nào thì cô gái vẫn ngồi đấy, hai cánh tay tuột khỏi mặt bàn nằm yên trên gối, những ngón tay thon nhỏ, trắng xanh met mỏi đan vào nhau. Vào những buổi trưa tháng bảy oi nồng với bầu trời xanh nhạt như thế này, trong trạm bưu điện Kliain-Raifling hầu như chẳng có việc gì làm. Công việc buổi sáng đã kết thúc, người ta đưa thư Hitor-phener, mot người đàn ông gù lưng bao giờ cũng nhai thuốc lá đã chuyển xong những bức thư từ lâu. Từ giờ đến chiều tối sẽ chẳng có một cái công văn hoặc một mẩu hàng từ những nhà máy gửi đến nữa, còn người dân trong làng thì chẳng muốn hoặc chẳng có thời gian đâu mà viết thư. Những người nông dân đầu đội mũ rơm rộng vành đang vun gốc nho, đám trẻ con chân đất vẫn đang nghỉ hè thì dẫn nhau ra sông. Mảnh sân lát đá trước cửa vắng hoe bị ánh nang mặt trời nung nóng. Giá bây giờ được ngồi ở nhà thì thật tuyệt và cũng thật là tuyệt nếu được ngồi yên mà mơ mộng. Dưới bóng râm của cánh cửa chớp, những tờ biểu mẫu và những tấm bưu ảnh đang ngủ yên trên giá và trong hộp gỗ, chiếc máy điện máy uể oải lười biếng hắt ra ánh kim loại trong bóng tối nhờ nhợ vàng đục. Sự tĩnh lặng giống như một lớp bụi vàng dày đặc bao trùm lên tất cả mọi thứ dụng cụ trong phòng, chỉ còn lại dàn nhạc violon nhỏ xíu của đàn muỗi, bầy ong đất là vẫn còn tiếp tục chương trình hoà nhạc buổi chiều của mình ngoài khung cửa. Vật duy nhất còn hoạt động trong căn phòng mát mẻ là quả lắc chiếc đồng hồ treo tường vỏ go treo giữa hai khuôn cửa sổ. Mỗi một giây trôi qua, chiếc đồng hồ nuốt chửng một giọt thời gian. Tuy nhiên, tiếng lắc đều đều yếu ớt của nó chỉ làm cho người ta càng dễ ngủ hơn và đánh thức người ta dậy. Cô gái trợ ly ngành bưu điện vẫn ngồi yên trong cái thế giới nhỏ bé của mình và uể oải thiếp đi với một cảm giác dễ chịu. Đúng ra mà nói, cô cũng định tranh thủ thêu thùa một chút. Cô đã chuẩn bị sẵn kim chỉ và một chiếc kéo nhỏ, nhưng tấm vải thuê tuột khỏi đầu gối rơi xuống đất, nhặt nó lên thì cô không đủ sức và cũng chẳng có ý định ấy. Ngửa người ra thành ghế, cô gái nhắm mắt lại thở nhè nhẹ, hoàn toàn đắm chìm trong cảm giác khoan khoái, dễ chịu vì được nghỉ ngơi. Những giây phút như vậy thật hiếm hoi trong đời nàng.


         Thế rồi bỗng nhiên: Tạch! Tạch! Nàng giật mình bừng dậy. Những tiếng gõ kim loại nghe vội vã, dứt khoát: Tạch! Tạch! Cái thiết bị cua Morse vẫn bướng bỉnh gõ đều đều, nhanh hơn cả tiếng quả lắc đồng hồ. Cái bức điện ấy, vị khách hiếm hoi của Kliain-Raifling muốn người ta phải đón tiếp mình một cách kính cẩn. Ngay lập tức cô gái bừng tỉnh, bước vội đến chiếc bàn để máy và đỡ lấy băng giấy. Nhưng vừa dịch xong hàng chữ đầu tiên, nàng đỏ bừng mặt đến tận chân tóc. Bởi lẽ từ trước đến nay, kể từ khi bắt đầu làm việc ở đây, lần đầu tiên nàng nhìn thấy tên mình trên băng giấy. Bức điện đã truyền xong, nàng đọc lại lần thứ hai rồi lần thứ ba, nhưng hoàn toàn không hiểu một chút gì. Tại sao lại thế nhỉ? Có chuyện gì vậy? Người nào đã nghĩ ra chuyện đánh điện cho nàng từ thành phố Pontrezin?


         “Crixtina Hốplener, Kliain-Raifling, nước Ao. Chúng tôi rất vui mừng đợi cô. Hãy đến vào bất cứ ngày nào. Báo trước cho biết ngày có mặt. Hôn cô Cler Entôni”.


         Nàng đăm chiêu suy nghĩ: Không biết người mang tên Entôni ấy là ai, đàn ông hay đàn bà? Hay một người bạn đồng nghiệp nào đó đã nghĩ ra chuyện này để đùa nàng? Nhưng rồi nàng bỗng nhớ lại, cách đây không lâu, mẹ nàng có nói rằng vào mùa hè này, dì nàng, đúng rồi bà dì ấy tên là Clara, sẽ sang châu Âu. Như vậy có lẽ Entôni là tên chồng dì, mẹ vẫn thường gọi ông ấy là Entôni. Đúng, bây giờ thì nàng nhớ ra cách đây không lâu chính nàng đã mang về cho mẹ một bức thư từ thanh phố Sécbua, tuy nhiên không biết tại sao mẹ lại giấu không nói cho nàng biết nội dung bức thư ấy. Nhưng bức điện này gửi cho nàng cơ mà. Chẳng lẽ chính nàng sẽ đi Pontrezin? Đã có ai nói về chuyện ấy đâu. Nàng lại nhìn vào cái băng giấy, nhìn vào bức điện đầu tiên nàng nhận được ở đây một lần nữa, đọc lại nó với một sự ngỡ ngàng xen lẫn tò mò, nghi hoặc, hoàn toàn không hiểu tí gì về những gì viết trong đó. Không, nàng không thể chờ đến giờ nghỉ được. Cần phải hỏi mẹ xem tất cả những chuyện này nghĩa là thế nào? Crixtina cầm chìa khoá, đóng cửa văn phòng lại và chạy về nhà. Trong lúc vội vã nàng quên tắt chiếc máy điện báo, và thế là trong căn phòng vắng ngắt chiếc phím nhỏ bằng đồng thau vẫn gõ mãi, gõ mãi một cách vô ích lên băng giấy trắng đang bực bội vì người ta lại đối xử với mình một cách cẩu thả như vậy.


         Không ai có thể hình dung nổi vận tốc chuyển động của dòng điện và chính vì vậy mà nó chuyển động nhanh hơn những ý nghĩ của chúng ta. Điều này lại một lần nữa được khẳng định. Giống như một tia chớp trắng, ba mươi mốt từ vừa rồi đã lao vào căn phòng tù hãm nửa tỉnh nửa mê của trạm bưu điện nước Áo, chỉ mới được viết ra trước đó vài phút. Nó đã kịp băng qua quốc gia để đến đây. Bức điện xuất phát từ một miếng đất có những con sông băng lạnh lẽo màu xanh nhạt, dưới bầu trời thiên thanh trong suốt của thành phố Engadin. Và khi những dòng chữ của người gửi trên bức điện còn chưa kịp khô thì những ý nghĩ của chúng đã kịp làm cho một trái tim phải bối rối.


         Sự việc xảy ra như sau: Ngài Entôni Van Bôôlen vốn là một người Hà Lan làm nghề môi giới (nhiều năm trước ông đi di cư sang miền Nam Hợp chủng quốc Hoa Kỳ với nghề kinh doanh bông vải), chính ngài Entôni Van Bôôlen ấy là người đàn ông tốt bụng nhưng lãnh đạm và hoàn toàn không có gì đặc biệt vừa mới dùng xong bữa sáng trong phòng ăn trên sân thượng lắp kính sáng sủa của khách sạn “Palát”. Bây giờ cần phải kết thúc bữa bằng một điếu xì gà “Habana” hảo hạng màu nâu sẫm được chở thẳng tới đây từ nơi chế tạo, trong những lớp giấy bọc mà ngay đến không khí cũng không lọt qua được. Khi vừa rít xong hơi đầu tiên, hơi thuốc ngon nhất đối với dân nghiện, con người phì nộn ấy gác chân lên chiếc ghế mày bên cạnh rồi dở tờ báo “New york Gerander” hình vuông, to như cánh buồm và bắt đầu bơi trong cái biển thị trường chứng khoán. Vợ ngài bà Cler trước kia vẫn thường được gọi là Clara, với vẻ mặt buồn chán đang ngồi trước ngài bóc từng múi bưởi. Theo kinh nghiệm tích luỹ từ nhiều năm nay, bà Cler hiểu rằng mọi cuộc nói chuyện không thể làm sao nhãng việc đọc báo buổi sáng của chồng. Nhưng vừa lúc ấy cô nhân viên phục vụ khách sạn, một cô gái mặc áo hồng, đội mũ nâu, khá ngộ nghĩnh, bất ngờ xuất hiện và trao cho bà bưu phẩm vừa mới nhận được. Trên chiếc khay chỉ có mỗi bức thư. Rõ ràng là nội dung của bức thư đã làm cho bà Cler rat quan tâm vì vậy bà quên mất cái kinh nghiệm đã tích luỹ được, định cố lôi chồng ra khỏi tờ báo.


Entôni, mình nghe này, - bà nói trong lúc tờ báo vẫn không động đậy.


Entôni, tôi khong muốn làm phiền mình đâu, chỉ xin mình một chút thôi vì có


 việc này quan trọng lắm. Có thư của chị Mary... bà vô tình gọi tên người chị bằng tiếng Anh.


Mary viết chị ấy không thể đến đây được dù rất muốn. Chị ấy bị đau tim rất


nặng. Bác sĩ bảo chị ấy không chịu nổi khi sống ở độ cao trên hai nghìn mét. Nhưng nếu chúng ta không phản đối, chị ấy sẽ cho Crixtina đến chơi với chúng ta khoảng hai tuần lễ. Mình cũng biết đấy, Crixtina làm việc ở văn phòng dịch vụ và chưa lần nào nghỉ phép, nếu xin nghỉ người ta có thể đồng ý ngay. Tất nhiên là con bé sẽ rất sung sướng vì suốt bao năm nay nó vẫn “kính trọng dì, dượng Entôni quý mến”... Bà Cler còn nói một thôi một hồi nữa. Tờ báo vẫn không động đậy. Bà Cler quyết định mạo hiểm:


mình nghĩ thế nào, có mời con bé ấy không?... Đối với nó, một vài ngụm  


không khí trong lành thế này chắc không có hại gì đâu. Chỉ yêu cầu nó ăn mặc lịch sự là được. Dẫu sao tôi cũng đa đến đây cho nên cũng phải cần gặp con gái Mary, quan hệ họ hàng đã bị gián đoạn từ lâu rồi. Mình không phản đối chứ, nếu như tôi mời con bé ấy?


         Tờ báo hơi động đậy một chút. Đầu tiên, một vòng khói tròn màu xanh nhạt bay ra khỏi mép tờ báo sau đó là một giọng nói ề à, dửng dưng:


         -     Tôi không phản đối. Có gì mà phải phản đối cơ chứ!


         Bằng một câu trả lời ngắn gọn như vậy, cuộc nói chuyện kết thúc sau khi quyết định trước một bước ngoặt quan trọng cuộc đời nào đó. Thế là mười năm, quan hệ ruột thịt đã được nối lại, bởi lẽ, mặc dù bà Cler Van Bôôlen mang một cái họ quý tộc thì chữ “Van” trong tên bà cũng chỉ là một tiep đầu ngữ Hà Lan thông thường mà thôi, và cho dù hai vợ chồng bà có nói chuyện với nhau bằng tiếng Anh, bà cũng chẳng vì thế trở thành một người khác mà vẫn là em ruột của Mary Hốplener, có nghĩa là dì ruột của cô nhan viên trạm bưu điện Kliain-Raifling. Bà Cler Van Bôôlen đã rời bỏ nước Áo hơn hai mươi lăm năm về trước vì một lý do mờ ám nào đó. Sự việc ấy bà chỉ còn nhớ mang máng – trí nhớ của chúng ta quả là rộng lượng, và người chị gái của bà cũng chẳng bao giờ kể cho các con của mình biết về chuyện ấy. Tuy nhiên vào những năm đó, câu chuyện đã gây bao tai tiếng và chắc chắn sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng nếu như những người thông minh và tháo vát không kịp thời dẹp ngay cái nguyên cớ đã khơi nên sự chú ý của mọi người. Cũng vào những năm ấy, bà Cler Van Bôôlen mà chúng ta đang nhắc đến chỉ là một cô gái bình thường mang tên Clara và làm người mẫu cho mot tiệm trưng bày quần áo ở Cônmáctơ. Chính cô gái có thân hình uyển chuyển và cặp mắt sắc xảo ấy đã gây được một ấn tượng mạnh mẽ với một nhà công nghiệp từng đã có tuổi, trong lần ông đưa vợ đến thử quần áo. Với tất cả nỗi tuyệt vọng của ngọn lửa tình bỗng bừng lên trước khi tàn lụi, nhà công nghiệp kiêm cố vấn quốc gia, một con người giàu có đã mê mẩn cô gái tóc sáng dịu dàng và trẻ trung. Ông đã tán tỉnh nàng bằng một sự hào phóng đáng ngạc nhiên ngay cả với những người trong tầng lớp của mình. Thế là sau đó không lâu, bất chấp mọi sự phản đối của những người họ hàng đứng đắn, cô gái làm người mẫu mười chín tuổi đã đồng ý đi dạo chơi trong chiếc Phiát sang trọng với những đồ trang sức và quần áo len dạ đắt tiền. Những thứ ấy trước kia cô chỉ được mặc mỗi khi đứng trước gương và trước những người khách hàng cầu kỳ, xét nét. Càng trở nên kiều diem bao nhiêu, cô gái lại càng làm cho nhà bảo trợ có tuổi say đắm bấy nhiêu và điều đó lại càng làm cho công việc buôn bán của ông trở nên phát đạt, do vậy ông càng tỏ ra hào phóng hơn. Cuối cùng ông  gần như phát rồ lên vì cái tình yêu sét đánh ấy. Chỉ sau vài tuần cô đã làm cho người bảo trợ của mình mê mẩn đến nỗi theo yêu cầu của ông, người luật sư riêng đã bí mật chuẩn bị mọi thủ tục cần thiết để ông ly dị vợ, và cô gái được ông tôn thờ kia chỉ một chút nữa là trở thành người đàn bà giàu có nhất thành Vienna. Nhưng chính lúc ấy, nhờ những bức thư nặc danh kịp thời mà vợ ông đã quyết định tìm cách ngăn cản và bà ta đã làm một việc ngu ngốc. Thật cay đắng và bất công vì sau ba mươi năm chung sống yên ổn bỗng nhiên người ta lại muốn gạt bà ra như gạt một con ngựa già. Điều ấy đã làm cho bà điên lên. Bà liền sắm một khẩu súng ngắn và nhảy bổ vào văn phòng của đôi tình nhân không tương xứng lúc đó họ đang ân ái. Chẳng cần phải mào đầu này nọ, người vợ bị chọc tức liền nổ hai phát súng vào kẻ đã phá hoại hạnh phúc của mình, một viên bị trượt còn viên kia trúng ngay vào vai. Thực ra vết thương cũng chẳng có gì nguy hiểm nhưng sự việc tiếp theo lại chẳng dễ chịu chút nào: những người láng giềng đã đổ xô đến, những tiếng la hét vọng ra từ chiếc cửa sổ vỡ kính, cửa chính bị phá ra, người này người kia ngã lăn bất tỉnh, rồi cảnh cãi vã ầm ĩ, bác sĩ xuất hiện, cảnh sát đến lập biên bản về sự việc đã xảy ra. Còn trước mắt, chắc chắn là phải ra toà. Đúng là một vụ xì căng đan mà những người tham dự trong đó đều khiếp sợ như nhau. Tuy nhiên thật may mắn vì tất cả những kẻ giàu có, chẳng riêng gì ở Vienna mà ở khắp mọi nơi, đều có những luật sư tháo vát có khả năng lấp liếm được các vụ tai tiếng. Và mọi bậc thầy giầu kinh nghiệm như thế đã xuất hiện, đó là ông cố vấn tư pháp Carplus. Ông ta, theo người ta vẫn thường nói, đã cố gắng tìm ra một thứ thuốc giải độc. Ông cố vấn tư pháp nhã nhặn mời Clara đến văn phòng của mình. Cô gái xuất hiện trong bộ trang phục trang nhã, cánh tay được băng lại một cách cầu kỳ, tò mò đọc bản giao kèo trong đó có ghi rõ cô phải sang ngay Châu Mỹ trước khi bị toà gọi đến. Ơ đó, ngoài khoản tiền đền bù thiệt hại một lần vì sự thiệt hại, cô còn được một khoản trợ cấp nhất định trong thời gian năm năm liền, chỉ với điều kiện cô phải sống thật yên lặng. Số tiền này cô sẽ được nhận vào ngày mùng một tháng một hàng tháng thông qua luật sư. Sau vụ tai tiếng nói trên cho dù không có khoản trợ cấp ấy thì Clara cũng chẳng muốn tiếp tục làm người mẫu ở thành Vienna nữa, thêm vào đó cô còn bị bố mẹ đuổi ra khỏi nhà. Clara thản nhiên đọc cho hết bốn trang bản giao kèo, nhanh chóng tính toán tổng số tiền mình sẽ được cấp và nhận ra rằng số tiền ấy chẳng phải là ít. Cô thử đòi thêm một ngàn Gunden (đơn vị tiền tệ của Áo) nữa và yêu cầu này cũng được chấp nhận. Clara mỉm cười ký vào bản giao kèo, rồi ngay sau đó lên đường vượt đại dương, không chút ân hận gì về quyết định của mình. Ngay trên đường đi cô đã không ít nhận được những lời cầu hôn, nhưng cuối cùng cô quyết định chọn thành phố New York sau khi làm quen với chàng thanh niên Van Bôôlen trong quán trọ. Vào thời gian ấy, Van Bôôlen chỉ là một nhân viên thương mại bình thường của một hãng buôn Hà Lan, nhưng anh ta đã tính  rằng với số vốn của vợ, một con gái có quá khứ lãng mạn mà anh ta không chút nghi ngờ sẽ làm nên sự nghiệp ở miền Nam nước Mỹ. Sau ba năm họ sinh được hai đứa con, còn sau năm năm đã tậu được một ngôi nhà và sau mươi năm đã có một số vốn đáng kể. Số vốn ấy ngày càng được nhân lên nhất là trong thời gian chiến tranh, cho dù có được đầu tư vào bất cứ lục địa nào ngoài châu Âu, nơi chiến tranh đã tàn phá khủng khiếp toàn bộ của cải của mọi người. Giờ đây khi những đứa con của họ đã trưởng thành và có khả năng tiếp tục sự nghiệp của bố, bậc cha mẹ đã lớn tuổi có thể cho phép mình làm một cuộc du lịch thoải mái sang châu Âu. Và thật lạ lùng, khi dải đất Noócmanđi vừa ló ra khỏi màn sương mù, bà Cler bỗng cảm thấy trong lòng mình dâng lên tình cảm quê hương từ lâu bị quên lãng. Đã lâu rồi, từ trong thâm tâm bà vẫn tự cho mình là một người đàn bà Mỹ, nhưng khi vừa nhận ra giải đất kia chính là châu Âu, bà cảm thấy một nỗi buồn da diết về cái thời thanh nữ của mình, tối đến bà nằm mơ thấy chiếc giường nhỏ có những chấn song mà hồi trước bà đã từng ngủ trên đó với chị mình, bà nhớ lại hàng nghìn chi tiết nữa và cảm thấy xấu hổ vì suốt từng ấy năm chưa hề viết một dòng nào cho chị gái goá bụa. Ý nghĩ về người chị không phút nào cho bà được yên và ngay sau khi vừa đặt chân lên đất liền, bà liền gửi một bức thư mời người chị đến chơi trong lá thư ấy bà còn gửi theo tờ bạc 100 đôla.


         Còn bây giờ, trong giây phút khi bà Van Bôôlen đã hiểu ra rằng thay vì phải mời người mẹ bà sẽ, mời người con, bà liền vẫy nhẹ mấy ngón tay và ngay lập tức người bồi mặc bộ đồ đồng phục nâu, đội mũ tròn vội lao đến như một hòn đạn. Anh ta nhanh chóng hiểu ngay bà cần gì, liền mang đến cho bà một tờ giấy mẫu điện tín, rồi sau khi bà viết xong anh ta mang ngay ra bưu điện.


         Vậy là chỉ vài phút sau đó những dấu chấm và gạch được phát đi từ chiếc máy điện báo Morze đã vọt lên mái nhà, và như một tia chớp phóng theo những sợi dây điện bằng đồng dài hàng nghìn km nhanh hơn bất cứ một chuyến tàu nào, bất cứ chiếc ô tô nào. Trong chớp mắt bức điện đã vượt qua biên giới, một cái chớp mắt nữa đã vượt qua hàng ngàn mái nhà nóc nhọn của thành phố Phorabécgơ, vượt qua thành phố Linkhơtenxtein nhỏ bé, vượt qua những thung lũng của vùng Tirôn. Những hàng chữ ấy biến thành một tia lửa nhỏ lao thẳng từ những đỉnh núi băng giá xuống thung lũng Đunai, tiến vào thành phố Linxê và có mặt ở tổng đài. Tại đây, sau khi nghỉ ngơi vai giây, bởi lẽ chỉ có thể chạy thật nhanh mới xứng đáng với “chữ điện khẩn”, bức điện nhanh chóng rời khỏi dây dẫn để nhập ngay vào chiếc máy điện báo. Và thế là sau khi thở phào nhẹ nhõm nó liền tác động ngay vào trái tim của một cô gái, làm cho cô vừa ngạc nhiên vừa tò mò, bối rối.


         Sau khi rẽ vào góc phố, rồi bước lên chiếc cầu thang bằng gỗ ọp ẹp, tối tăm, Crixtina bước lên căn gác áp mái trong ngôi nhà nông dân tồi tàn. Tại đây, trong căn phòng với những ô cửa sổ nhỏ xíu Crixtina cùng sống với mẹ. Chiếc mái tre rộng trước mặt tiền căn nhà, dùng để che tuyết vào mùa đông và che nắng lúc ban ngày chỉ cho phép những tia nắng chiếu yếu ớt lọt tới chỗ chậu Thiên Trúc Quỳ đặt trên bệ cửa số. Chính vì vậy trong căn gác áp mái không khí lúc nào cũng tù túng và ẩm ướt, bốc lên mùi gỗ mục và mùi vải trải giường chưa khô hẳn. Những mùi vị lưu cữu ấy ngấm vào tường như nấm bám vào thân cây. Có lẽ căn gác áp mái này trước kia dùng làm nơi để chứa đồ linh tinh vớ vẩn. Nhưng vào những năm sau chiến tranh, với những khó khăn về nhà ở, nhu cầu của con người cũng trở nên khiêm tốn hơn. Họ sẽ rất biết ơn số phận nếu như chiếm được một căn phòng chỉ cần kê được hai chiếc giường cùng vơi chiếc bàn và cái rương cũ đựng quần áo. Ngay cả chiếc ghế bành là vật thừa tự cũng đã chiếm rất nhiều chỗ trong căn phòng vì vậy hai mẹ con phải bán cho người buôn đồ cũ và bây gờ họ rất lấy làm tiếc vì chuyện ấy. Mỗi khi đôi chân phù thũng của bà Hốplener bị phù lên, bà chẳng biết ngồi vào đâu, đành phải nằm trên giường, thành ra lúc nào bà cũng phải nằm trên giường.


         Đôi chân phù thũng sưng vù lên như hai khúc gỗ với những mạch máu xanh thẵm của người đàn bà mệt mỏi và già trước tuổi kia, chính là hậu quả hai năm làm thợ giặt tại trạm quân y, trong tầng trệt của một toà nhà lúc nào cũng ẩm ướt. Từ khi việc đi lại đối với người đàn bà mập mạp này trở nên một cực hình thì bà hầu như không đi lại gì nữa mà chỉ dịch chuyển chầm chậm từ chỗ này đến chỗ khác với những cơn ngạt thở và nếu có hơi gắng sức một chút hoặc xúc động vì một chuyện gì đó, bà phải vội vàng ôm chặt lấy ngực. Bà hiểu rằng mình chẳng còn sống được bao lâu nữa. Nhưng thật may mắn trong tình trạng hỗn loạn sau khi nhà nước quân chủ bị lật đổ, người anh chồng của bà, một người có tước vị trong chính phủ đã giúp cho Crixtina kiếm được chỗ làm trong trạm bưu điện. Cho dù phải sống ở một nơi hẻo lánh, tiền lương cũng chẳng được mấy đồng, nhưng dù sao cũng tạm xoay xở được, ít ra cũng có một mái nhà che đầu và một căn phòng để đi về. Tất nhiên căn phòng kể ra cũng có vẻ chật chội, nhưng sớm muộn gì lại chẳng phải chui vào áo quan, mà ở đó lại càng chật hơn nữa.


         Căn phòng lúc nào cũng thoảng mùi giấm chua, mùi ẩm ướt, mùi bệnh tật, mùi nhà thương. Cánh cửa nhỏ thông với nhà bếp không thể nào đóng kín được vì vậy căn phòng lại có thêm mùi khói bếp và mùi thức ăn. Khi vừa bước vào phòng, Crixtina phải mở ngay chiếc cửa sổ vẫn đóng im ỉm. Nghe tiếng động, mẹ nàng rên rẩm thức dậy. Bà không thể làm khác được, cứ mỗi lần cựa mình bao giờ bà cũng phải rên lên mấy tiếng. Cũng như cánh cửa tủ, chỉ vừa chạm tay vào nó đã rít lên khe khẽ, cái thân xác bị bệnh tê thấp của bà cũng vậy, trước khi nhúc nhích bao giờ nó cũng phải báo trước. Sau đó người đàn bà yếu đuối nhổm dậy hỏi: - có chuyện gì thế con?


         Ý thức mơ màng của bà đã biến mất khi bà nhận ra rằng bây giờ chưa đến giờ ăn trưa, chưa phải lúc được ngồi vào bàn. Có nghĩa là đã xảy ra một chuyện gì đó. Người con gái trao bà bức điện.


         Bằng cánh tay gầy guộc, bà chậm rãi, bởi lẽ mỗi một cử động đều gây nên sự đau đớn, lần tìm chiếc kính trên mặt cái tủ cạnh giường. Mãi một lúc lâu bà mới tìm thấy chiếc kính gọng bằng kim loại rồi đeo lên mũi. Trong khi người đàn bà già yếu đọc bức điện, tấm thân nặng nề của bà bỗng giật lên như bị một luồng điện đi qua. Bà khó nhọc lê từng bước, miệng thở dốc tiến về phía Crixtina và rơi cả tấm thân nặng nề vào lòng nàng. Bà xúc động ôm chầm lấy cô con gái đang hoảng sợ. Bà mỉm cười, định nói một câu gì đó nhưng toàn thân cứ run lên không sao mở miệng được. Cuối cùng bà mệt lả người, hai tay ôm lấy ngực ngồi vật xuống giường. Bà ngồi lặng đi trong một phút, cố thở bằng cái miệng đã rụng hết răng. Sau đó bà mấp máy đôi môi run rẩy, lắp bắp những câu rời rạc, đứt quãng, lộn xộn, và trên khuôn mặt bà xuất hiện một nụ cười mãn nguyện, nhưng vì quá xúc động bà lại càng ngắc ngứ hơn, trong lúc hai bàn tay vung lên để ra hiệu và trên đôi má nhăn nheo những giọt nước mắt lặng lẽ tuôn chảy. Cái dòng thác từ ngữ lộn xộn của mẹ làm cho Crixtina hoàn toàn bất ngờ, bối rối. Ơn chúa, mọi việc đã đâu vào đấy và giờ đây người đàn bà già yếu và vô dụng này đã có thể yên tâm nhắm mắt xuôi tay. Chính vì điều đó mà tháng sáu vừa qua bà đã làm một cuộc hành hương đến những nơi tôn kính để cầu nguyện cho Clara, người em gái của bà, hãy đến trước khi bà qua đời để bà có thể trao gửi con gái mình cho cô ấy. Bây giờ thì bà hài lòng lắm rồi. Đấy, trên bước điện đã ghi rõ cho phép Crixtina đến thăm họ tại khách sạn, họ phải tốn tiền đánh điện, còn hai tuần trước đó lại còn gửi cho bà một trăm đôla nữa. Clara quả là một tấm lòng vàng, cô ấy lúc nào cũng tốt bụng va đáng yêu như vậy. Có lẽ một trăm đôla kia không những đủ chi tiêu dọc đường mà còn có thể sắm sửa, ăn mặc như một công tước phu nhân, trước kia con gái bà xuất hiện trước mặt họ trong một nhà nghỉ sang trọng. Ở đó con gái bà sẽ được mở rộng tầm mắt, sẽ thấy được những con người học thức và giàu có sống ra sao. Ít nhất thì đây cũng là lần đầu tiên con gái bà sẽ được sống như mọi người. Quả đúng trời có mắt, nó cũng xứng đáng được hưởng những như vậy. Từ trước đến giờ nào nó đã được nhìn thấy gì trong cuộc đời, hoàn toàn không có gì hết, chỉ có công việc, công việc, cùng với mọi nỗi lo toan vất vả, cộng thêm vào đấy lại còn một người mẹ già nua, ốm yếu, chẳng làm được việc gì, đáng lý ra phải xuống lỗ từ lâu rồi mới phải. Cũng chỉ vì bà và vì cuộc chiến tranh khốn kiếp vừa qua mà toàn bộ thời thiếu nữ của Crixtina đã bị đầu độc hư hỏng. Chỉ nghĩ tới điều ấy, nghĩ tới những năm tháng đẹp nhất của con gái đã trôi qua một cách buồn thảm cũng đủ làm cho bà đau xót tâm can. Nhưng bây giờ thì nó đã tìm thấy hạnh phúc của mình. Chỉ cần nó xử sự lễ độ với dì, dượng, lúc nào cũng phải lễ phép, khiêm tốn, nhưng đừng quá rụt rè, e ngại. Clara có tấm lòng vàng, có trái tim nhân hậu, nhất định cô ấy sẽ giúp cho cháu ruột của mình thoát khỏi cái nơi khỉ ho cò gái này, thoát khỏi cái làng hôi thối này, còn bà, một mụ già còm cõi sớm muộn gì chẳng chết. Và nếu giờ đây dì nó đã mời đến chơi thì nhất định nó sẽ đi. Còn ở đây, trên đất nước đang thối rữa này còn có điều gì tốt lành nữa đâu, dân chúng thì đần độn, mà bà, một mụ già ốm yếu thì có gì đáng phải bận tâm nữa. Lúc nào mà chẳng tìm được một chỗ bên cạnh chúa và liệu bà còn sống bao lâu nữa?... Ôi, giờ thì bà đã có thể yên tâm nhắm mắt được rồi khi mà mọi việc đã đâu vào đấy.


         Trong chiếc áo cánh và chiếc váy lót lại trùm thêm chiếc khăn sạn, người đàn bà già yếu, còm cõi loạng choạng lê đôi chân sưng vù như chân voi đi đi, lại lại trong căn phòng làm cho những tấm ván sàn kêu cót két. Bà liên tục vung hai cánh tay làm điệu bộ, chốc chốc lại nức nở lấy chiếc khăn mùi soa màu đỏ to tướng lau mặt. Sau đó vì quá xúc động bà đành ngồi xuống ghế nghỉ một lát, hỉ mũi sụt sịt để lấy sức cho những cuộc đối thoại tiếp theo. Và vì trong óc bà một ý nghĩ nào đó vừa mới xuất hiện, thế là bà lại tiếp tục nói, tiếp tục thổn thức, tiếp tục rên rỉ, sung sướng vì sự may mắn bất ngờ. Đột nhiên, trong một lúc nghỉ lấy sức, bà bỗng nhận ra rằng đáng lý Crixtina cũng phải xúc động như bà thì lại đứng lặng đi với vẻ mặt tái nhợt, bối rối, cặp mắt chỉ biểu lộ nỗi ngạc nhiên, lúng túng, chẳng hề nói một câu nào. Người đan bà già yếu cảm thấy bực mình. Thu hết sức lực còn lại, bà cố đứng lên lần nữa, bước đến chỗ con gái và ôm lấy vai cô, kéo sát vào lòng, hôn cô bằng những cái hôn nồng nàn như muốn đánh thức cô dậy, kéo cô ra khỏi trạng thái đờ đẫn.


         -     Sao con cứ yên lặng thế? Việc này chẳng liên quan đến con thì liên quan đến ai, con làm sao thế, con bé ngốc nghếch của mẹ? Con cứ đứng ngay ra như phỗng mà chẳng nói gì cả. Đây là một dịp may hiếm có đấy con ạ. Con phải vui mừng mới phải. Sao con lại không mừng?


         Điều lệ nghiêm khắc cấm nhân viên bưu điện trong khi làm việc tự ý rời khỏi văn phòng trong một thời gian dài, cho dù người đó có những lý do hoàn toàn xác đáng thì điều ấy cũng chẳng có ý nghĩa gì trước pháp luật nhà nước, trước hết phải là công việc rồi sau mới đến con người, trước hết phải có những chữ cái rồi sau đó mới có ý nghĩa của những chữ cái ấy. Chính vì vậy mà sau một lát rời khỏi bưu điện, cô nhân viên trạm Kliain-Raifling lại có mặt ở phòng làm việc, bên chiếc bàn cạnh cửa sổ, tiếp tục thực hiện nghĩa vụ của mình. Trong khoảng thời gian vắng mặt, không có ai hỏi nàng. Vẫn như mười lăm phút trước đó, giấy tờ vẫn nằm yên trên bàn, sau một lúc bị đánh thức dậy chiếc máy điện báo bằng đồng thau sáng loáng lại nằm yên ngủ trong bóng tối mờ mờ. Thật là may vì trong lúc nàng vắng mặt không có ai ghé vào bưu điện, không có điều gì đáng tiếc xảy ra. Với lương tâm thanh thản, giờ đây nàng có thể bình tĩnh suy nghĩ về cái tin bất ngờ mới vừa bay đến theo những dây dẫn bằng đồng, bởi lẽ trong lúc bối rối Crixtina chưa kịp hiểu nổi cái tin ấy có đáng mừng hay không. Ý nghĩ của nàng dần dần được sắp xếp lại. Vậy là lần đầu tiên nàng phải rời mẹ để làm một chuyến đi xa trong hai tuần lễ, mà cũng có thể sẽ lâu hơn, đến với những con người xa lạ, không, không phải là xa lạ mà đến với dì Clara, em ruột của mẹ, trong một khách sạn sang trọng. Cần phải xin nghỉ phép, một kỳ nghỉ xứng đáng vì trong suốt từng ấy năm cũng cần phải nghỉ một lần cho ra hồn, để ngắm nhìn thế giới, tận mặt nhìn thấy những điều mới lạ, nhìn thấy một cuộc sống khác với cuộc sống của nàng. Crixtina nghĩ mãi, nghĩ mãi. Quả thật đó là một cái tin vui và mẹ hoàn toàn có lý để vui mừng, hoàn toàn có lý. Công bằng mà nói đây là cái tin vui nhất mà họ nhận được trong suốt những năm dài đằng đẵng. Lần đầu tiên rời bỏ những công việc tẻ ngắt, được tự do hoàn toàn và quên hết mọi chuyện, được nhìn thấy những khuôn mặt mới, thế giới mới, chẳng phải đó là món quà đặc biệt bỗng dưng từ trên trời rơi xuống? Nhưng ngay lúc ấy bên tai nàng vang lên giọng nói ngạc nhiên, sợ hãi có pha chút tức giận mẹ: “tại sao con lại không vui mừng?”.


         Mẹ nói đúng, tại sao mình lại không vui nhỉ?Tại sao lòng mình không mảy may xúc động, tại sao điều đó không làm cho mình choáng ngợp? Nàng cố lý giải những tình cảm của mình, cố lắng nghe một tiếng nói khác trong lòng, nhưng hoàn toàn không nhận được câu trả lời mong muốn. Vẫn như trước, món tặng vật bỗng dưng từ trên trời rơi xuống chỉ gây cho nàng một sự lo ngại và không sao hiểu nổi. Thật lạ, nàng nghĩ, tại sao mình lại không vui nhỉ? Đã hàng trăm lần mình lôi từ trong bao thư những tấm bưu ảnh để phân loại, mình đã ngắm mãi không chán những bờ vịnh kỳ diệu ở Na Uy, những đại lộ rộng lớn ở Paris, những cảng tàu ở Xôrientô, những toà nhà trọc trời bằng đá ở New York, chẳng phải những lần ấy mình vẫn thở dài khao khát hay sao? Biết đến bao giờ, đến bao giờ mình mới được nhìn thấy một điều gì đó khả dĩ thú vị. Trong những phút giây rảnh rỗi lúc sáng sớm mình đã từng mong ước cái gì ngoài nỗi khát khao đến một lúc nào đó sẽ thoát ra khỏi cái lồng khốn khổ này để quên hết những công việc vô vị hàng ngày. Đó quả là một cuộc đọ sức tuyệt vọng với thời gian. Mình mong ước giá có lúc nào đó được nghỉ ngơi một chút, hoàn toàn sử dụng thời gian của mình theo ý muốn chứ không phải chỉ tranh thủ mỗi lúc một tí. Giá đến một lúc nào đó mình không phải nghe cái tiếng chuông đồng hồ sáng nào cũng réo bên tai. Cái đồng hồ ấy đúng là một con quái vật, luôn luôn vượt theo mình, bắt mình phải bật dậy, vội vã mặc quần áo, nhóm lò, mua sữa, mua bánh mì, hâm lại thức ăn, sau đó lại lôi mình đến chỗ làm việc, còn mình, cứ như một chiếc máy đa lên giây cót, liên tục đóng những con dấu lên phong bì rồi viết, rồi gọi điện thoại sau đó lại quay về nhà, luẩn quẩn bên tấm ván là quần áo, bên cái bếp, rồi lại giặt giũ, nấu nướng, may vá, chăm sóc người bệnh, và cuối cùng sau khi đã mệt rã người, mình lăn ra ngủ như chết. Chính trong chiếc lồng này, sau chiếc bàn này mình đã hàng ngàn lần mong ước đến điều đó và bây giờ thì mong ước ấy đang trở thành hiện thực, mình sẽ được đi du lịch, được tự do, thế mà mình lại không vui mừng. Quả thật, mẹ đã nói đúng. Tại sao lại như thế nhỉ? Tại sao mình lại không sẵn sàng đón nhận điều mong ước ấy?


         Crixtina bất lực buông người xuống, đăm đăm nhìn lên bức tường trơ trọi của văn phòng bằng cặp mắt đờ đẫn. Nàng chờ đợi, chờ đợi không,không hiểu cái niềm sung sướng muộn màng ấy có đến với nàng không. Bất chợt nàng nín thở, như một người bụng mang dạ chửa cố gắng lắng nghe những biến động trong cơ thể của mình.


         Nhưng chẳng có một tiếng động nào vọng lại, tất cả vẫn trống rỗng, tĩnh lặng như một khu rừng vắng tiếng chim. Và Crixtina, nay nàng đã hai mươi tám tuổi rồi, cố nhớ lại xem thế nào một nỗi vui, nỗi vui mừng và nàng bỗng hoảng sợ nhận ra mình không thể nào nhớ nổi cái cảm giác ấy ra sao. Giống như một thứ ngoại ngữ đã học tư lâu nhưng giờ đây đã quên hết chỉ mang máng nhớ rằng mình đã từng biết ngoại ngữ ấy. Lần cuối cùng mình đã thật sự vui mừng vào lúc nào nhỉ? – Crixtina lại đăm chiêu suy nghĩ, đầu cúi xuống trên vầng trán hiện rõ những nếp nhăn nhỏ. Dần dần giống như một chiếc gương mờ, từ nơi sâu thẳm trong ký ức hiện ra một cô bé tóc xoăn, chân tay gầy guộc, mặc chiếc váy hoa ngắn cũn cỡn, sung sướng huơ huơ chiếc cặp sách trên tay... Còn đây là công viên ở ngoại ô thành phố: hàng chục đứa trẻ đang chơi trò chơi đuổi bắt chạy vùn vụt quanh nàng, mỗi lần quả bóng được nem đi, những tiếng cười lại rộ lên cùng với những tiếng la hét, và nàng nhớ rằng, dạo ấy tiếng cười sao mà thoải mái vô tư đến thế. Dường như những tiếng cười ấy luôn luôn nằm sẵn ở cổ, luôn luôn cựa quậy ở một nơi nào đó dưới lớp da, chạy qua chạy lại va chạm vào nhau trong từng mạch máu. Chỉ cần chạm khẽ vào chúng, thế là tiếng cười không thể nào kìm giữ nổi liền bật ngay ra khỏi miệng. Dạo còn đi học, vào những giờ tiếng Pháp nhiều lần nàng phải bám chặt vào mặt bàn và cắn môi lại để khỏi bật cười mỗi khi nghe thay một từ ngộ nghĩnh hoặc một câu pha trò ngốc nghếch nào đó. Bất cứ một chuyện vớ vẩn nào, dù đó là vẻ mặt lúng túng của thầy giáo, một nét nhăn nhó trên khuôn mặt mình khi đứng trước gương, một con mèo cong đuôi ngộ nghĩnh, chàng sĩ quan săm soi bộ quân phục của mình trên đường phố, bất cứ chuyện nhảm nhí nào cũng làm bùng lên tia lửa để phát ra tiếng cười. Sự vô tư tinh nghịch ấy lúc nào cũng làm bạn cùng ta, ngay cả trong giấc ngủ, nụ cười cũng để lại dấu ấn trẻ trung trên những cặp môi thơ trẻ.


         Thế mà bỗng nhiên, tất cả trở nên u ám tàn lụi, giống như chiếc ngòi nổ bị dập tắt đột ngột. Chuyện ấy xảy ra vào ngày mùng một tháng tám năm 1914 (Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ). Trưa hôm ấy nàng còn đi tắm. Như một ánh chớp bỗng loé lên, nàng nhớ lại thân hình trắng mịn, cân đối của một cơ thể trẻ trung mười sáu tuổi với những đường cong uyển chuyển và một sức sống dồi dào lúc nàng thay quần áo trong phòng. Nàng thích thú đắm mình trong làn nước mát lạnh, vùng vẫy, xoãi người bơi lội rồi sau đó chạy giỡn với đám bạn gái trên những tấm ván cầu ọp ẹp. Ngay đến bây giờ nàng còn nghe thấy những tiếng cười đùa la hét của đám bạn gái. Sau đó nàng vội vã chạy về nhà, nàng đã hứa với mẹ sẽ về đúng giờ để giúp mẹ sắp xếp đồ đạc vì hai ngày nữa họ sẽ lên đường đến nha nghỉ ở Kampơtan, nhưng nàng lại về muộn một lần nữa. Nhảy qua hai bậc thang một, Crixtina lao lên gác và mở toang cánh cửa. Nhưng thật lạ... khi vừa bước chân vào phòng và còn chưa kịp thở lấy hơi, nàng nhận thấy bố mẹ ngưng ngay cuộc nói chuyện và làm như không nhận ra sự có mặt của con gái. Người bố, mà trước đó nàng còn nghe thấy giọng nói oang oang kỳ lạ của ông, giờ đang tỏ ra chăm chú vào tờ báo. Còn mẹ, rõ ràng mẹ vừa khóc xong đang xúc động vò vò chiếc khăn mùi soa và bước vội về phía cửa sổ. Có chuyện gì đã xảy ra ở đây? Bố mẹ vừa cãi nhau chăng? Không, sự việc chẳng giống như vậy. Nàng thấy bố quay về phía mẹ và đặt tay lên bờ vai đang run lên của mẹ. Chưa bao giờ Crixtina lại thấy bố tỏ ra âu yếm như thế. Nhưng mẹ vẫn không quay lại và đôi vai của mẹ càng run hơn khi tay bố vừa chạm vào. Có chuyện gì đã xảy ra? Bố mẹ hầu như quên hẳn sự có mặt của nang, không người nào nhìn về phía nàng. Giờ đây, dẫu đã mười hai năm trôi qua, Crixtina vẫn còn nhớ lúc ấy nàng đã hoảng sợ đến thế nào. Có thể bố mẹ tức giận nàng chăng? Biết đâu nàng đã chẳng vi phạm một lỗi lầm nào đó. Quá hoảng sợ, ở cái tuổi ấy, bất cứ một đứa trẻ nào cũng đều có cảm giác lo sợ vì phạm lỗi, nàng lặng lẽ vào bếp. Tại đây bà giúp việc Bôzena cho nàng hay rằng, người lính cần vụ Geza ở nhà bên cạnh có nói là nhà nước vừa ra một mệnh lệnh phải bằng mọi cách phải đánh tan bọn Secbi. Như vậy có nghĩa là anh trai Ốttô, vốn là trung uý dự bị cùng với anh rể sẽ bị gọi vào quân đội. Đó chính là nguyên nhân làm cho bố mẹ nàng xúc động. sự thật đúng là như thế, sáng hôm sau anh Ốttô bất ngờ xuất hiện trong bộ quân phục màu xanh xám với chiếc khăn quàng cổ của sĩ quan và thanh kiếm đeo trên cái thắt lưng màu vàng. Vốn là một giáo viên thể dục ngoài biên chế, thường ngày anh chỉ mặc chiếc áo màu đen ít được chải là cẩn thận. Với khuôn mặt nhợt nhạt, vóc dáng gầy gò, cao ngồng, mái tóc cắt theo kiểu đờmicarê và lớp lông măng màu hung nhạt hai bên má, trong anh lúc nào cũng ngộ nghĩnh đến tức cười trong bộ y phục màu đen nghiêm chỉnh. Nhưng giờ đây cặp môi mím lại vẻ cương quyết, trong bộ quân phục bó sát lấy người, anh hầu như biến thành một người khác hẳn. Crixtina nhìn anh với một sự thán phục thơ ngây pha chút giễu cợt, nàng vỗ hai tay vào nhau: “Ôi, lạ thật, trông anh bảnh quá!” Nhưng mẹ nàng từ trước đến giờ chưa bao giờ đánh nàng một roi, liền đẩy nàng một cái làm khuỷu tay đập vào cạnh tủ đau điếng. “Mày không thấy xấu hổ à, cái đồ trơ tráo!” Nhưng cơn giận ấy không thể làm dịu nỗi đau âm ỉ trong lòng, người mẹ bật lên khóc, ôm chầm lấy đứa con trai với những tiếng rên rỉ đau đớn. Chàng thanh niên cố tỏ ra cứng rắn liền ngoảnh đầu đi và lẩm bẩm một câu gì đó về tổ quốc, về nghĩa vụ. Và cả bố cũng quai mặt đi, ông không thể chịu nổi cảnh ấy. Anh Ốttô bực mình, hai hàm răng nghiến chặt và hình như phải cố lắm  mới thoát khỏi vòng tay của mẹ. Sau đó anh vội vã hôn lên má mẹ rồi vừa bước ra bắt tay bố. Khi đi ngang qua Crixtina anh chỉ nói: “Anh đi nhé!” Và thế là từ cầu thang chỉ còn vọng lại tiếng lách cách của thanh kiếm. Vào lúc xế trưa người anh rể cũng đến chia tay. Anh rể là một quan chức làm việc tại toà thị chính, giờ đây sẽ là thượng uý phục vụ trong một quân đoàn đóng ở hậu phương. Biết rằng mình sẽ không gặp nguy hiểm, anh ta thao thao bất tuyệt về chiến tranh như một chuyện vặt vãnh nào vậy. Sau đó để an ủi bố mẹ vợ, anh ta còn kể mấy câu chuyện vui nữa rồi mới chia tay. Nhưng khi ra đi, hai thanh niên ấy đã để lại cho gia đình nàng một phần cuộc đời mình: đó là người vợ của anh trai lúc đó đang mang thai tháng thứ tư và người chị gái với một đứa con nhỏ. Giờ đây cả hai người đàn bà ấy chiều nào cũng ngồi với gia đình quanh chiếc bàn và lần nào cũng vậy, Crixtina có cảm giác như ngọn điện mỗi ngày một trở nên tối hơn, nhợt nhạt hơn. Có một lần Crixtina vô ý kể một câu chuyện vui vẻ gì đó thế là bao nhiêu cặp mắt nghiêm khắc chiếu thẳng vào nàng, đến nỗi sau đó khi đã nằm trên giường nàng còn tự nguyền rủa mình mãi về tội tại sao mình lại là một con bé tồi tệ, ngốc nghếch đến thế, y như một đứa con nít. Dần dần, dù không cố ý, nàng trở nên ít nói hẳn. Những tiếng cười trong nhà hầu như đã chet còn giấc ngu cứ chập chờn, chập chờn, thảng hoặc, vào lúc nửa đêm, nếu có tình cờ thức giấc, Crixtina lại nghe thấy những tiếng động nhẹ sau bức vách như tiếng những giọt nước mơ hồ đang rơi tí tách: đó là lúc người mẹ bị mất ngủ, quỳ hàng giờ liền trước bức tranh thánh và cầu nguyện cho con trai.


(Còn tiếp)


Nguồn: Khát vọng đổi đời. Đào Minh Hiệp dịch. NXB Văn học, 2005.


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.Lời Giới thiệu
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
xem thêm »