tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27669416
Truyện ngắn
13.08.2009
Stefan Zweig
Hai mươi tư giờ trong đời một người đàn bà (1)

Hồi ấy (trước chiến tranh([1]) quãng mười năm) tại nhà trọ nhỏ bé ở Riviơra([2]) nơi tôi đang ở đã nổ ra quanh bàn ăn của chúng tôi một cuộc tranh cãi quyết liệt, thậm chí kèm theo những lời hằn học chửi thề, suýt biến thành một cuộc ẩu đả dữ dội. Trí tưởng tượng của nhiều người rất có hạn: cái gì không trực tiếp đụng đến họ, cắm sâu vào đầu óc họ như một cái chốt nhọn thì không sao khiến họ xúc động được. Nhưng nếu có chuyện gì bày ra trước mắt vừa tầm cảm nhận, thì dẫu chẳng có gì quan trọng cũng làm họ hăng tiết quá mức. Đôi khi sự ít nhạy cảm với những câu chuyện xung quanh của họ được bù lại bằng một nhiệt tình không đúng chỗ và thái quá.


Lần này, câu chuyện đại loại như vậy xảy ra trong những người cùng ngồi ăn một bàn với chúng tôi, hầu hết là dân thượng lưu hay đưa ra những ý kiến thoải mái trong những câu chuyện vặt([3]) và những chuyện bông đùa nhỏ không sâu sắc và thường giải tán ngay sau bữa ăn: cặp vợ chồng người Đức thì đi dạo chơi và chụp ảnh, một ông Đan Mạch béo mập thực hành môn nghệ thuật thả câu đơn điệu, bà người Anh quý phái quay về đọc sách, vợ chồng người Ý bỏ đi chơi Môngtơ Caclô, còn tôi thì nằm ườn trên ghế ngoài vườn hoặc hí hoáy viết. Nhưng lần này tất cả chúng tôi xúm lại tranh cãi nảy lửa, nếu có ai trong bọn họ bỗng nhiên đứng dậy thì không phải để cáo từ lịch sự như mọi khi mà là để thoát những cử chỉ gần như dữ dội giận sôi lên sùng sục như tôi đã nói.


Quả là cái sự kiện đã kích động tiểu hội nghị bàn tròn của chúng tôi đến mức ấy cũng khá đặc biệt. Ngôi nhà có bảy người chúng tôi đang trọ, nhìn bên ngoài có dáng dấp một biệt thự riêng, (A! Từ cửa sổ nhìn ra bờ biển như kết hoa bằng đá thật là kỳ diệu), nhưng thực ra đó chỉ là một căn nhà phụ của khách sạn lớn Palaxơ, tiền trọ rẻ hơn và thông được sang khách sạn qua một khu vườn, khiến chúng tôi ở hàng xóm vẫn thường xuyên có quan hệ với khách trọ bên Palaxơ. Thế mà đêm hôm trước, khách sạn này đã phải chứng kiến từ đầu đến cuối một câu chuyện tai tiếng.


Số là, vào chuyến tàu trưa, đúng mười hai giờ hai mươi phút (tôi phải nói rõ giờ chính xác bởi vì điều này chẳng những quan trọng đối với câu chuyện kể mà còn quan trọng đối với đề tài tranh cãi náo nhiệt của chúng tôi) một thanh niên người Pháp tới khách sạn và thuê một căn phòng nhìn ra biển: chỉ riêng điều đó cũng đã chứng tỏ phần nào anh ta dư dật tiền nong. Anh được thiện cảm của mọi người không chỉ vì vẻ thanh lịch kín đáo, mà nhất là vì vẻ đẹp hoàn hảo và thật đáng yêu của anh ta: giữa khuôn mặt thon thon như mặt thiếu nữ là một hàng ria màu hung mượt mơn man làn môi gợi dục; phía trên vầng trán trắng muốt là những lọn tóc nâu và mềm; mỗi tia nhìn từ cặp mắt hiền hậu như một cái vuốt ve; cả thân hình toát lên vẻ mềm mại, ân cần, đáng yêu, tuy nhiên không có gì là giả tạo và lập dị cả. Nói cho đúng, nhìn từ xa, thoạt tiên anh chàng làm ta nghĩ tới đôi chút dáng dấp của những khuôn mặt bằng sáp đỏ hồng, bộ điệu kiểu cách, chiếc can thanh nhãn trên tay, hiện thân vẻ đẹp lý tưởng của giới mày râu thường thấy trong các tủ kính cửa hiệu thời trang lớn. Nhưng đến khi nhìn gần, mọi ấn tượng là anh ta hợm mình đều biến hết, bởi vì ở anh (chuyện thật hiếm hoi!) tính nết con người bẩm sinh vốn dễ ưa cùng với dáng vẻ bên ngoài hòa làm một. Gặp ai anh cũng nhã nhặn và thân mật chào. Quả là dễ chịu được thấy cái duyên dáng lúc nào cũng sẵn sàng biểu lộ một cách thực thoải mái ở anh ta.


Nếu có một phu nhân ra phòng y trang, anh vội vàng giúp bà ta tìm áo khoác. Với mỗi đứa trẻ, anh đều có một cái nhìn thân tình hoặc một câu nói bông đùa. Anh vừa lịch thiệp vừa kín đáo, tóm lại, anh ta có một vẻ là một nhân vật trong giới được ưu tiên ưu đãi. Ở những con người này, cái cảm giác được mọi người ưa thích vì gương mặt tươi tỉnh và sự duyên dáng trẻ trung như ban thêm cho họ vẻ duyên dáng mới. Sự có mặt của anh đem đến cho khách trọ ở Palaxơ phần đông đã đứng tuổi và sức khỏe bất an một luồng sinh khí mới. Nhờ có dáng đi mạnh dạn của tuổi trẻ, nhờ vẻ linh hoạt, nhanh nhẹn và sự tươi tắn của một bản tính dễ thương tự nhiên đó, anh ta đã khiến mọi người không thể không có thiện cảm với mình. Đến nơi mới được hai tiếng đồng hồ, anh đã chơi tennit với hai cô con gái của nhà kỹ nghệ to lớn và béo bự ở Liông, cô Annet mười hai tuổi và cô Blăngxơ mười sáu tuổi. Mẹ các cô, bà Hăngriét người nhỏ nhắn, mảnh dẻ, vẻ đăm chiêu, vừa mỉm cười dịu dàng vừa ngắm nhìn cảnh cô con gái rất đỗi hồn nhiên đang liếc nhìn người khách lạ trẻ tuổi với vẻ tự nhiên đỏm dáng làm sao. Buổi tối anh đánh cờ giải trí với chúng tôi một tiếng, vừa chơi vừa dè dặt kể cho chúng tôi nghe vài mẩu chuyện dí dỏm, đi dạo nhiều vòng khá lâu với bà Hăngriét trên sân, trong khi đó chồng bà vẫn chơi đômino như thường lệ với một người bạn thuộc giới kinh doanh. Mãi khuya tôi còn thấy anh ta trò chuyện thân mật một cách đáng ngờ với cô thư ký khách sạn trong bóng tối phòng giấy.


Ngày hôm sau, anh ta theo ông bạn Đan Mạch của tôi đi câu tỏ ra có những hiểu biết đáng ngạc nhiên về lĩnh vực này. Sau đó anh trao đổi lâu về chính trị với nhà kỹ nghệ Liông, trong chuyện này anh cũng tỏ ra ăn nói có duyên vì mọi người nghe thấy tiếng cười cởi mở át cả tiếng sóng biển của ông béo. Sau bữa lót dạ (muốn hiểu rõ câu chuyện tôi cần phải kể lại thật chính xác mọi thời điểm trong thời gian biểu của anh ta) anh còn để một giờ dùng cà phê với bà Hăngriét, chỉ riêng có hai người ở trong vườn. Anh lại chơi tennit với lũ con gái của bà và trò chuyện trong hành lang với vợ chồng người Đức. Lúc sáu giờ khi đi gửi bức thư, tôi thấy anh ngoài ga. Anh hối hả đến trước tôi và nói với tôi rằng buộc lòng anh phải xin thứ lỗi vì bỗng dưng người ta gọi anh về, nhưng sau hai ngày anh sẽ trở lại. Quả nhiên buổi tối không thấy anh ta ở phòng ăn, nhưng đơn giản chỉ là vắng mặt thôi, vì ở bàn nào người ta cũng chỉ nói về anh và họ ca ngợi tính tình dễ chịu vui vẻ của anh.


Đang đêm, có lẽ đã mười một giờ, tôi đang ngồi trong phòng đọc nốt cuốn sách thì bỗng nhiên nghe thấy, qua cửa sổ mở, những tiếng kêu và tiếng gọi lo âu phát ra từ phía vườn bên khách sạn. Rõ ràng là có chuyện gì không bình thường. Lo ngại hơn là tò mò, lập tức tôi bước dăm chục bậc thang xuống nhà, ở đó đã thấy các vị khách trọ và các nhân viên khách sạn đang bối rối cuống cuồng. Bà Hăngriét đi dạo mát trên bờ biển như mọi ngày, không thấy về và người ta sợ xảy ra tai nạn, trong khi chồng bà vẫn chơi đômino với ông bạn Namua đúng giờ như thường lệ. Như một con bò mộng, dáng nặng nề và phục phịch của người dân Liông, ông ta đang lao về phía bờ biển và xúc động gào thét trong đêm đến lạc giọng: “Hăngriét! Hăngriét!”, tiếng thét đó gây một cảm giác khủng khiếp như con thú khổng lồ thời nguyên thủy có thể gây ra khi cảm thấy bị đánh tử thương. Bọn hầu bàn và bồi nhốn nháo điên cuồng chạy lên chạy xuống các thang lầu. Người ta đánh thức toàn thể khách trọ và gọi dây nói cho cảnh sát. Giữa tất cả cảnh tíu tít đó, người đàn bông to béo mặc chiếc gilê tuột khuy, vẫn đi đi lại lại, lúc đi cà nhắc, lúc co cẳng chạy và nức nở kêu lên trong đêm tối như người hoàn toàn mất trí, một cái tên duy nhất: “Hăngriét! Hăngriét!”. Giữa lúc đó, bọn trẻ trên phòng đã thức dậy và mặc nguyên áo ngủ, chúng gọi mẹ qua cửa sổ. Thế là ông bố vội chạy lên để trấn tĩnh bọn chúng. Thế rồi xảy ra một việc gì đó kinh khủng đến nỗi không sao thuật lại được, bởi vì tính chất căng thẳng dữ dội trong những cơn khủng hoảng tinh thần đặc biệt thường đưa đến cho dáng điệu con người một vẻ bi thảm đến nỗi chẳng có hình ảnh và lời nói nào có thể dựng lại và tả lại nổi cái sức mạnh sấm sét của nó. Bỗng nhiên con người to lớn và nặng nề ấy bước xuống những bậc thang cót két, vẻ mặt hoàn toàn đổi khác, đầy mệt mỏi nhưng dữ tợn, tay cầm một lá thư: “Xin cho gọi mọi người quay lại!”. Ông ta nói chỉ vừa đủ nghe với ông chủ khách sạn: “Hãy gọi mọi người lại, đi tìm cũng vô ích mà thôi, vợ tôi đã bỏ đi rồi!”.


Trong con người bị tử thương này đang ghìm giữ cái tình trạng căng thẳng quá sức chịu đựng trước đám đông đang xúm lại quanh ông, tò mò vây lại để nhìn ông, rồi tản đi trong chốc lát đầy vẻ bối rối, sượng sùng và kinh ngạc. Ông ta vẫn còn đủ sức bước đi lảo đảo trước mặt chúng tôi, mắt không nhìn ai, về tắt đèn trong phòng đọc sách. Rồi người ta nghe thấy tấm thân nặng nề đổ sụp xuống ghế bành và thấy tiếng nức nở man dại thú vật mà chỉ có kẻ nào chưa khóc bao giờ mới có được. Cái đau đớn bản năng đó gây ra cho mỗi người chúng ta, ngay cả với những người ít cảm xúc nhất, một cảm giác sững sờ. Không có người hầu bàn nào của khách sạn, không một vị khách trọ nào, vì tò mò mà đến đó, lại dám mỉm cười. Mặt khác, cũng không ai dám tỏ lời thương hại. Kẻ trước người sau, câm lặng như thể ngượng ngùng trước sự bùng nổ chớp nhoáng dữ dội đó của tình cảm, chúng tôi nhẹ nhàng trở về phòng mình. Còn lại ông ta một mình trong phòng tối - cái mẩu của nhân loại bị đè nát đó thoi thóp và thổn thức, cô đơn đến cực độ trong căn phòng nơi ánh sáng tắt dần, ở đó chỉ còn những tiếng thầm thì, xào xạc, những tiếng động yếu ớt và tắt lịm.


Người ta sẽ hiểu rằng cái biến cố sét đánh đến mức ấy diễn ra trọn vẹn dưới mắt chúng tôi, đương nhiên gây xúc động mạnh cho những người đã quen với sự buồn chán và những cuộc giải trí vô tư. Nhưng sau đó, cuộc tranh cãi giữa bọn chúng tôi nổ ra ở hội nghị bàn tròn thật náo nhiệt và chỉ thiếu chút nữa biến thành ẩu đả, mặc dầu châm ngòi từ biến cố ngẫu nhiên kinh ngạc đó, bản thân câu chuyện ấy đã là vấn đề đối chọi nhau về nguyên tắc và là sự chống đối dữ dội về những quan niệm khác nhau trong cuộc sống. Quả vậy, do tính bép xép của một chị hầu phòng đã được đọc bức thư đó (ông chồng thất vọng, trong cơn giận dữ bất lực đã vò bức thư và ném xuống sàn nhà), người ta nhanh chóng biết rằng bà Hăngriét không đi một mình, mà cùng đi với cậu thanh niên người Pháp (đối với anh này, mỗi thiện cảm của mọi người từ đó bắt đầu mất đi một cách mau lẹ). Rốt cuộc, một thoáng người ta hiểu ngay rằng cái bà Bôvari nhỏ nhắn này đánh đổi ông chồng tròn trịa, tỉnh lẻ lấy một chàng trẻ tuổi tao nhã và điển trai. Nhưng điều làm cả nhà ngạc nhiên là cả ông kỹ nghệ gia, cả lũ con gái và ngay cả bà Hăngriét nữa, trước đây chưa bao giờ gặp anh chàng sở khanh đó, thế mà, một cuộc trò chuyện hai tiếng đồng hồ ban đêm trên sân và một giờ cùng uống cà phê trong vườn đã đủ để quyến rũ một thiếu phụ xấp xỉ ba mươi ba tuổi, đang đêm bỏ chồng và hai đứa con, liều thân chạy theo một anh chàng trẻ tuổi hào hoa hoàn toàn xa lạ với mình.


Hội nghị bàn tròn của chúng tôi chỉ xét những hiện tượng bề ngoài cũng đồng tình cho đây chỉ là một sự lừa đảo và một mưu mô xảo quyệt của cặp tình nhân: Rõ ràng là bà Hăngriét đã có quan hệ bí mật từ lâu với người đàn ông trẻ tuổi và cái anh chàng “chim chuột” này đến đây chỉ là để dứt điểm những chi tiết cuối cùng của cuộc bỏ trốn - người ta lý lẽ như vậy - chứ tuyệt nhiên không thể có một người đàn bà đứng đắn nào chỉ vẻn vẹn mới quen nhau hai tiếng đồng hồ đã chuồn đi như vậy theo tiếng huýt gọi đầu tiên. Đến đây, tôi thú vị thấy mình có ý kiến khác, và tôi kiên quyết xác nhận có khả năng xảy ra và thậm chí rất có thể xảy ra một sự việc tương tự đối với một người đàn bà mà cuộc hôn nhân chỉ đem lại những năm dài đằng đẵng thất vọng và buồn chán, từ trong thâm tâm đã sẵn sàng biến họ thành mồi cho bất kỳ người đàn ông táo bạo nào. Tiếp theo sự phản đối bất ngờ của tôi, cuộc tranh luận nhanh chóng lan rộng và điều làm cho nó trở nên sôi nổi là hai cặp vợ chồng người Đức cũng như người Ý làm bộ như bị xúc phạm, không chấp nhận là có tiếng sét ái tình, trong chuyện đó họ chỉ thấy một cơn rồ dại, một sự lường gạt vớ vẩn, viển vông, khiến cuộc tranh cãi thêm căng thẳng.


Tóm lại, kể tất cả những chi tiết của cơn bão cãi vã xảy ra giữa món súp và món putđinh chẳng có lợi gì ở đây, vì chỉ những người chuyên nghiệp về các bữa ăn dọn đúng giờ và giá nhất định là sành sỏi. Hơn nữa, những lý lẽ người ta viện ra trong lúc hăng hái tranh cãi ngẫu nhiên xảy ra giữa người cùng ngồi ăn một bàn thường chẳng có gì đặc sắc vì những lý lẽ đó khác gì các thực khách vơ vội được bằng “bàn tay trái” mà thôi. Cũng khó giải thích vì sao cuộc tranh cãi của chúng tôi lại nhanh chóng chuyển thành gay gắt đến thế. Tôi cho rằng cơn giận dữ xảy ra là do hai ông chồng đã phải miễn cưỡng quả quyết rằng vợ họ đã thoát khỏi khả năng của những sự liều lĩnh và sa ngã như vậy. Khốn nỗi họ không tìm thấy gì hay hơn là bắt bẻ tôi rằng chỉ có kẻ nào phán xử tâm hồn phụ nữ qua những cuộc chinh phục bất ngờ và quá dễ dàng của những anh chàng độc thân mới có thể nói như vậy. Điều đó bắt đầu chọc tức tôi và tiếp đến lúc bà người Đức làm cho bài học đó thêm ý vị bằng một câu châm ngôn ngụ ý rằng: một mặt có những người đàn bà chân chính, mặt khác có những loại “đàn bà mất nết”, và theo bà ta, bà Hăngriét thuộc loại này, thì tôi không sao trấn tĩnh nổi nữa. Đến lượt tôi, tôi liền khiêu khích và tuyên bố rằng cái phần sâu kín của sự việc xảy ra chứng tỏ rằng một người đàn bà, đã nhiều giờ trong đời họ, có thể bị cuốn trôi theo những sức mạnh bí ẩn còn mạnh hơn cả ý chí của họ nữa, và khi đó trí khôn của họ chỉ còn có tác dụng là giấu giếm nỗi sợ bản năng, nỗi sợ ma quái thuộc về bản tính con người. Thế mà lắm kẻ dường như hí hửng cho rằng mình cứng rắn hơn, đạo đức hơn và trong sạch hơn họ - những người “dễ bị quyến rũ”.


Về phần tôi, tôi cho rằng người đàn bà sống tự do và say đắm theo bản năng lại lương thiện hơn lúc họ lim dim mắt, lừa dối chồng ngay trong vòng tay mình như ta vẫn thường thấy. Hẳn là tôi đã diễn đạt gần như vậy và mọi người càng phê phán bà Hăngriét tội nghiệp thì tôi càng bảo vệ bà ta một cách hăng say (thực tình tôi thấy mình đã đi quá xa!). Sự hung hăng đó có cái gì như khiêu khích hai cặp vợ chồng nọ và bản hợp xướng bốn người không lấy gì làm êm tai. Họ đã nổi xung chồm lên tôi đến nỗi ông già Đan Mạch như một trọng tài bóng đá, vẻ mặt tươi tỉnh, cầm chiếc đồng hồ bấm giờ, đã thỉnh thoảng buộc phải ngửa bàn tay xương xẩu gõ lên bàn thay cho hiệu còi và nói: “Gentlemen please!”([4]).


Nhưng điều đó chỉ có hiệu quả trong chốc lát. Một đối thủ của tôi đã ba lần bật dậy và bà vợ phải cố sức lắm để can ông ta. Tóm lại, chỉ khoảng hai mươi phút nữa là cuộc tranh cãi có thể kết thúc bằng cuộc ẩu đả nếu như bỗng nhiên bà C... không dẹp yên làn sóng sôi sục của cuộc tranh luận bằng lời nói nhẹ nhàng, chẳng khác gì tra dầu nhờn vào ổ máy.


Bà C... một phu nhân già người Anh mái tóc bạc và rất thanh nhã, chẳng cần ai đề cử, bà vẫn là chủ tọa danh dự của bàn ăn. Ngồi thẳng người trên ghế, bà nói ít nhưng thú vị và dễ nghe, biểu lộ với từng người một thiện cảm đều nhau. Chỉ riêng dáng mạo bà nom cũng đã dịu mắt: một vẻ niềm nở và điềm đạm đáng kính toát ra từ con người kín đáo một cách quý phái của bà. Bà giữ khoảng cách nhất định với tất cả mọi người và nhờ sự nhạy cảm tinh tế bà có một nhỡn quan riêng với từng người một. Bà hay ngồi đọc sách trong vườn, thỉnh thoảng chơi dương cầm và rất ít khi gặp bà ở chỗ đông người hoặc thấy bà tham dự vào một cuộc chuyện trò huyên náo. Bà ít được mọi người chú ý thế mà bà có một quyền lực kỳ lạ với họ. Bởi vì lần đầu tiên bà vừa xen vào câu chuyện, chúng tôi đều cảm thấy áy náy vì đã to tiếng và mất tự chủ.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi tư giờ trong đời một người đàn bà. Phùng Đệ và Lệ Thi dịch. Rút từ tập truyện Bức thư của người đàn bà không quen. Tác giả: Stefan Zweig. Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học sắp xuất bản.







([1]) Chiến tranh Thế giới thứ nhất.




([2]) Vùng bờ biển đẹp của Pháp ở bờ Địa Trung Hải gồm những thành phố nghỉ mát nổi tiếng: Can, Nixơ, Montơ Carlô.




([3]) Small talks trong nguyên bản.




([4]) Thôi, xin Ngài! (tiếng Anh trong nguyên bản).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
Cô gái làm ren Nachia/ Pautopsky ở Trà My - Konstantin Georgiyevich Paustovsky 01.06.2019
Kẻ ở nhờ - Phạm Thanh Khương 01.06.2019
Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều 16.05.2019
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
xem thêm »