tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829957
Truyện ngắn
05.08.2009
Stefan Zweig
Sự lẫn lộn các tình cảm (6)

Đây là lần đầu tiên trong đời tôi gặp một khuôn mặt đau khổ thực sự. Con trai những người thấp kém, được nuôi dưỡng đầy đủ tiện nghi trong sự sung túc tư sản, tôi chỉ biết nỗi lo lắng dưới những gương mặt nực cười của đời thường: dưới hình thức của sự phiền lòng, mang chiếc áo vàng của sự ham muốn hoặc làm rung lên những ti tiện của tiền bạc. Nhưng cái bối rối trong khuôn mặt này, tôi cảm nhận ngay, đến từ một yếu tố thiêng liêng hơn. Vẻ u buồn đó đến từ những chiều sâu u tối, chính từ bên trong một dao khắc tàn nhẫn đã trổ, ở đây, những nếp nhăn và những đường nứt nẻ trên đôi má già trước tuổi. Đôi khi, lúc tôi đi vào trong phòng làm việc của thầy (luôn với sự sợ hãi của một đứa trẻ đến gần một ngôi nhà các quỷ dữ ở) và thầy bị thu hút vào các ý tưởng không nghe tôi gõ cửa, thành thử tôi đột ngột đứng ở trước thầy, xấu hổ và bối rối trước con người tự quên mình ấy. Tôi nghĩ rằng dường như chỉ có ở đó gương mặt thể chất của thầy - Uacnơ([1]) mặc y phục Faoxt([2]) - trong khi trí tuệ ông bay lượn trong những thung bí ẩn, giữa những đêm dữ dội của Ualpuêgis([3]).


Trong những giây lát đó, các giác quan của thầy đều hoàn toàn khép kín, thầy không nghe bước đi lại gần lẫn lời chào rụt rè. Sau đó khi đột ngột thầy trấn tĩnh lại, thầy bỗng nhiên đứng dậy, lời nói dập dồn của thầy cố che giấu sự bối rối của thầy: thầy đi đi lại lại và cố gắng, bằng những câu hỏi, làm cho cái nhìn tra hỏi thôi hướng về thầy, nhưng trong một lúc lâu nữa trán thầy vẫn u tối và chỉ khi cuộc đàm thoại linh hoạt lên, những đám mây chồng chất trong tâm hồn thầy mới được xua tan.


Đôi khi chắc thầy cảm thấy dáng vẻ của thầy làm tôi xiết bao xúc động, thầy cảm nhận điều đó có lẽ chắc qua những bàn tay của tôi, những bàn tay lo âu, thầy có thể đoán. Chẳng hạn, trên môi tôi phảng phất không trông thấy một lời cầu xin sự tin cậy của thầy hoặc thầy có thể nhận ra trong thái độ mò mẫm của tôi ý muốn thành khẩn và kín đáo nắm lấy cho tôi và trong tôi nỗi đau khổ của thầy. Chắc hẳn thầy thoáng thấy điều đó vì thầy bất ngờ ngừng cuộc đàm thoại sôi nổi lại và nhìn tôi một cách cảm động; ngay cái nhìn của thầy, đặc biệt nồng nàn, bị sự đày đọa của nhân lực làm cho trở nên tăm tối, bao trùm lấy tôi trọn vẹn. Lúc đó thầy thường nắm tay tôi và cầm nó rất lâu một cách bồn chồn; và tôi luôn chờ đợi: “Lúc này, lúc này, lúc này đây thầy sắp nói”.


Nhưng thay vì nói ra, thường thường đó là một cử chỉ thô bạo hoặc đôi khi thậm chí một lời nói lạnh lùng, làm thất vọng và cố tình châm biếm. Thầy là hiện thân của sự hứng khởi, là người đã thức dậy và nuôi dưỡng trong tôi trạng thái đó, bây giờ lại xua đuổi nó khỏi tôi, như một lỗi mà người ta xóa đi trong một bài làm sai. Và thầy càng thấy tâm hồn tôi cởi mở, khao khát sự tin cậy của thầy, thầy càng nói ra chua chát những lời băng giá, như: “Anh không hiểu điều đó!” hoặc: “Hãy bỏ những sự cường điệu ấy đi nào” - những lời ấy kích thích tôi quá đỗi và đẩy tôi vào thất vọng. Tôi đau khổ biết bao nhiêu vì con người hay thay đổi như nhiệt độ đó, chuyển đột ngột từ nóng sang lạnh, bất giác làm tôi nóng bỏng để rồi làm tôi băng giá ngay, kích động cả con người tôi bằng sức hăng của thầy để rồi sau đó nắm lấy cây roi của một nhận xét châm biếm! Đúng, tôi có cảm giác tàn nhẫn là tôi càng xích lại gần thầy, tôi lại bị thầy đẩy ra một cách tàn nhẫn, thậm chí một cách ngại ngùng.


Bởi vì (tôi mỗi lúc một ý thức sâu sắc hơn) một điều bí mật, một bí mật kỳ lạ và đáng ghê sợ nằm trong chiều sâu có sức hấp dẫn thần bí của tâm hồn thầy. Tôi đoán nơi thầy có gì được giấu kín, ở cách thức kỳ lạ cái nhìn của thầy lẩn tránh; thầy, sau khi đã tiến lên hăng hái, sợ sệt rút lui khi người ta buông mình cho thầy với lòng biết ơn. Tôi đoán ra điều đó ở cặp môi mím lại chua chát của bà vợ thầy, ở sự giữ gìn ý tứ lạnh lùng và kỳ lạ của người thành phố - thường nhìn anh gần như phẫn nộ khi người ta nói tốt cho người đó, ở trăm điều kỳ quặc, ở trăm sự lúng túng đột ngột. Và nỗi đau khổ nào phải chịu khi tưởng tượng mình đã đi vào trong vòng thân tình cuộc đời như vậy mà, tuy nhiên, quay trong đó như trong một mê đồ, không biết con đường dẫn đến gốc rễ và trung tâm của cuộc đời ấy! Những điều không giải thích nổi nhất, đáng kinh ngạc nhất đối với tôi là những cuộc lẩn trốn của thầy. Một ngày nọ, khi đến phòng giáo trình, tôi thấy có một cái biển ghi rằng lớp học ngắt quãng trong hai ngày. Các sinh viên hình như không ngạc nhiên, nhưng tôi, mới hôm qua còn ở nhà thầy, tôi chạy đến đó ngay, lo lắng thầy bị ốm. Bà vợ thầy chỉ mỉm cười khô khan trước cảm xúc lộ rõ trong sự xuất hiện vội vã của tôi. “Điều đó xảy ra khá thường xuyên - Bà nói với một sự lạnh lùng kỳ lạ - nhưng anh chưa quen với điều đó”. Và quả thực các bạn tôi cho tôi biết: khá thường xuyên đang đêm thầy biến đi như vậy, đôi khi chỉ đánh một cái điện xin lỗi. Một sinh viên gặp thầy lúc bốn giờ sáng trên một đường phố Beclin, một sinh viên khác, trong một quán rượu của một thành phố lạ. Ông ra đi đột ngột như một nút chai nhảy khỏi cái chai, và trở về không ai biết thầy đã đi đâu. Sự biến đi bất thình lình đó gây nỗi buồn cho tôi bằng một trận ốm của thầy: trong hai ngày đó tôi chỉ lang thang đây đó, trống rỗng, lo âu và không biết làm gì. Bỗng chốc việc học tập, thiếu sự có mặt quen thuộc của thầy là vô vị và không có mục tiêu. Tôi tự làm suy mòn mình trong những giả thiết không đâu nhưng không phải là không có chút ghen tuông; và thậm chí một chút căm hờn và giận dỗi nổi lên trong tôi đối với sự thầm lặng của thầy đã đặt tôi như một hành khất dưới cái lạnh buốt thấu xương ra ngoài cuộc đời thực của thầy mà tôi nóng lòng muốn tham gia vào cuộc đời đó. Tôi hoài công tự nói với mình rằng, tôi chỉ là một đứa trẻ, một học sinh, tôi không có chút xíu quyền nào đòi thầy giải thích và thanh minh bởi vì lòng tốt của thầy đã trăm lần dành cho tôi nhiều tin cậy hơn so với một giáo sư ở khoa buộc phải làm vì bổn phận. Nhưng lý trí không có tác dụng gì đến niềm say mê nồng nhiệt của tôi: mười lần trong ngày, tôi ngây ngô đến hỏi thầy đã về chưa, cho đến khi tôi cảm thấy ở bà vợ thầy sự căm phẫn qua cách trả lời “không” mỗi lần một thô bạo hơn.


Tôi vẫn thức cho đến nửa đêm, tai vểnh lên để nhận ra tiếng bước đi của thầy lúc thầy về, sáng sớm hôm sau tôi lo ngại rình quanh cửa, lúc này không còn dám đưa ra câu hỏi nữa. Và khi cuối cùng ngày thứ ba thầy bất ngờ đi vào phòng tôi, tôi không còn thở nổi: sự kinh hãi của tôi chắc là kỳ quái lắm, ít nhất đó là điều chỉ rõ cho tôi sự phản chiếu của sự kinh ngạc bối rối mà thầy cố che giấu bằng cách vội vã đặt ra cho tôi những câu hỏi bâng quơ. Đồng thời cái nhìn của thầy lẩn tránh tôi. Lần đầu tiên cuộc đàm thoại của chúng tôi bị lệch, những lời nói chệnh choạng vấp vào nhau và trong khi cả hai chúng tôi nỗ lực để tránh xa mọi sự ám chỉ đến sự vắng mặt của thầy thì chính là những gì chúng tôi không nói tới đã chặn đường của mọi cuộc đàm thoại có đầu có đuôi. Khi thầy từ giã tôi, sự tò mò nóng bỏng ngùn ngụt trong tôi như một bó đuốc: dần dà nó nuốt chửng giấc ngủ của tôi và những đêm thức của tôi.


*


*           *


Cuộc đấu tranh để biết nhiều hơn và hiểu nhiều hơn câu chuyện đó kéo dài nhiều tuần; có thể nói là tôi bướng bỉnh bám chắc vào hạt nhân lửa mà tôi tưởng cảm thấy như một núi lửa dưới tảng đá của sự im lặng của thầy. Cuối cùng vào một giờ may mắn, tôi đạt kết quả lần đầu tiên đặt chân vào thế giới bên trong của thầy. Một ngày nọ, như thường lệ, tôi ngồi lại trong phòng thầy cho đến lúc chạng vạng tối. Lúc bấy giờ thầy lấy từ ngăn kéo khóa kéo ra mấy xonê([4]) của Sêchxpia, trước tiên thầy đọc trong bản dịch của thầy những phác thảo ngắn dường như được đúc bằng đồng thanh, và thầy soi sáng một cách thần bí thứ văn tự bằng số ấy, bề ngoài không thâm nhập nổi, đến mức giữa niềm hạnh phúc cảm nhận được, tôi tiếc rằng những gì đối với tôi như vậy bằng lời nói thoáng qua của con người có đôi môi tuôn trào này bị mất đi đối với mọi người. Và thế là (không biết từ đâu đến) tôi đột ngột có can đảm hỏi thầy tại sao thầy không hoàn thành tác phẩm lớn của thầy về lịch sử sân khấu thế giới; nhưng vừa mới dám nói lời đó là tôi khủng khiếp nhận ra rằng tôi vừa mới, tuy không muộn, vụng về đụng chạm đến một vết thương giấu kín và rõ ràng là đau đớn. Thầy đứng dậy, quay lưng và giữ im lặng một lúc lâu. Cuối cùng thầy đến cạnh tôi, nhìn tôi rất lâu và môi thầy rung lên nhiều lần trước khi hé mở khẽ khàng. Đoạn thầy thốt lên lời thú nhận mạnh bạo: “Ta không thể làm những công việc lớn. Tôi đã trở thành (tại sao giấu điều đó) người có hơi ngắn. Ngày trước tôi có sức mạnh hơn; bây giờ không có nữa. Tôi chỉ có thể nói: lúc đó đôi khi tôi được lời nói nâng đỡ, một cái gì đó nâng tôi lên bên trên bản thân mình; còn làm việc trong sự im lặng của phòng giấy, luôn cô đơn, tôi không thể làm được nữa”.


Thái độ cam chịu của thầy làm tôi xúc động mạnh và trong một sự hồn nhiên sâu sắc, tôi cầu xin thầy nghĩ đến việc cuối cùng giữ lại bằng một nắm tay vững chắc cái mà hằng ngày thầy rải lên chúng tôi với một bàn tay lười biếng và không chỉ cho mà giữ lại dưới hình thức tác phẩm những tài sản riêng của thầy.


“Tôi không viết được nữa, - Thầy nhắc lại với giọng mệt mỏi - tôi không đủ tập trung”.


“Trong trường hợp đó, thầy chỉ việc đọc”. Và được ý tưởng đó thúc đẩy, tôi năn nỉ, hầu như van xin: “Thầy chỉ việc đọc cho em. Hãy thử. Có lẽ lúc đầu... sau thầy không thể quay lui nữa. Hãy thử đọc, em van thầy, vì tình thương đối với em”.


Thầy nhìn lên, lúc đầu ngạc nhiên, sau đó, vẻ nghĩ ngợi. Có thể ý tưởng đó làm thầy chú ý.


“Vì tình thương đối với anh? - Thầy lặp lại - Anh có thực sự nghĩ rằng ai đó còn có thể vui mừng thấy ông già là thầy đây tiến hành một cái gì?”.


Tôi cảm thấy qua cách nói chần chừ của thầy là thầy bắt đầu nhượng bộ; tôi cảm thấy điều đó qua ánh mắt chìm sâu của thầy, một lát trước đầy mây và lúc này, được một niềm hy vọng nhiệt thành làm dịu đi, mở rộng ra dần dần và tìm thấy trong niềm hy vọng đó sức mạnh để chiếu sáng.


“Anh thực sự nghĩ như vậy à?”, thầy lặp lại. Tôi cảm thấy rằng ý muốn của thầy đã sẵn sàng để đón nhận từ bên trong sự gợi ý ấy; và bỗng chốc thầy la lên: “Nào nhé! Chúng ta hãy thử. Tuổi trẻ luôn có lý, ai nghe theo nó là khôn ngoan”.


Sự nổ bùng man dại của niềm vui trong tôi, sự chiến thắng mà tôi biểu lộ như vậy dường như trả lại cho thầy sự hăng say cuộc đời, thầy đi đi lại lại bằng những bước lớn, hầu như với sự náo nhiệt của một người trẻ tuổi, và chúng tôi thống nhất là tất cả các buổi tối, lúc chín giờ, ngay sau bữa ăn tối, chúng tôi thử làm việc, trước tiên mỗi ngày một tiếng đồng hồ. Và buổi tối hôm sau chúng tôi bắt đầu cuộc đọc chép.


Ôi! Những giây phút ấy, tôi mô tả thế nào đây! Tôi đợi chúng suốt cả ngày. Ngay buổi quá trưa, một lo lắng bồn chồn và căng thẳng làm các giác quan nôn nóng của tôi như bị điện giật; tôi cơ hồ không chịu nổi những giờ cho tới lúc buổi tối đến. Ngay sau bữa ăn, chúng tôi đi vào phòng làm việc của thầy. Tôi ngồi vào bàn, quay lưng lại thầy, trong khi thầy đi trong phòng với một bước chân náo nức, cho đến khi nhịp điệu như được xác lập trong thầy và việc lên cao giọng báo hiệu cho sự đều đặn của lời đọc. Vì con người kỳ lạ ấy rút tất cả những ý nghĩ của mình từ nhạc tính của tình cảm: thầy luôn cần có một cái mồi để khởi động các ý nghĩa của mình. Thông thường nhất là một hình ảnh, một ẩn dụ táo bạo, một tình huống tạo hình mà, bất giác sôi nổi lên trong sự mau lẹ của cách diễn đạt, thầy mở rộng thành một cảnh của sân khấu. Thường lúc đó là những ánh chớp dồn dập của những ứng khẩu ấy, một cái gì của những tia lóe lớn lao của bản tính sáng tạo: tôi nhớ những dòng sông giống những khổ của một bài thơ iambơ([5]), và những dòng khác trải ra như một cái thác, thành nhiều nhánh hùng mạnh và phong phú, như danh mục các tàu thuyền ở Hôme([6]) hoặc như những tụng ca man dại ở Walt Whitman([7]).


Lần đầu tiên người trai trẻ đang trên đường hình thành là tôi lúc đó được phép thâm nhập vào sự bí ẩn của việc sản xuất sáng tạo: tôi thấy ý tưởng không còn màu sắc, chỉ mới là một sức nóng thuần khiết và lỏng, như đồng thanh nóng chảy của một cái chuông, sinh ra từ lò luyện của sự hứng khởi đầy xung động, rồi nguội đi dần dần và tìm thấy hình thù của nó. Sau đó, tôi thấy hình thù đó được làm cho tròn trĩnh và tự hoàn thiện trong toàn bộ sức mạnh của nó, cho tận lúc cuối cùng lời nói từ đó đi ra, rõ ràng và như quả đấm chuông làm cái chuông kêu vang lên, cung cấp cho tình cảm nên thơ ngôn ngữ của người. Và giống như một bản nhạc xuất phát từ nhịp điệu và mỗi biểu diễn nghệ thuật từ một bức tranh được xây dựng thành cảnh. Toàn bộ tác phẩm có dàn ý rộng, một cách tuyệt đối phi ngữ văn học, xuất phát từ một tụng ca, từ một tụng ca về biển cả. Hình thức thấy được và cảm giác được ở mặt đất của vô tận, trải những làn sóng của nó từ chân trời đến chân trời, nhìn về các đỉnh cao và che giấu trong lòng mình những vực thẳm, giữa lúc đó nô đùa một cách vừa đầy ý nghĩa vừa vô nghĩa với số mệnh trần tục, với những chiếc thuyền con mảnh khảnh của những con người. Từ bức tranh ấy của biển cả nảy sinh, qua một sự đối chiếu lớn lao, một sự miêu tả cái bi như một sức mạnh cơ bản, gầm gào và tàn phá làm rung động máu huyết của chúng ta.


Rồi làn sóng sáng tạo đó lăn về một xứ sở: Nước Anh nổi lên, hòn đảo vĩnh viễn được bao bọc bởi sự vỗ ào ạt của yếu tố không chắc chắn (nước) trùm lấy một cách đe dọa tất cả cát bờ của trái đất, tất cả các vĩ độ và các khu vực của trái đất. Chính cái yếu tố đó ở nước này, ở Anh đã tạo nên Nhà nước: cái nhìn ngay thẳng và trong sáng của nó thâm nhập vào tận cái nhà bằng gương của mắt, con mắt xám và xanh; mỗi cá nhân vừa là người của biển vừa là đảo, như xứ sở của anh ta, và những dục vọng mạnh đầy sóng gió sục sôi một cách sảng khoái trong chủng tộc ấy đã thử thách những sức mạnh của mình qua thế kỷ trong đó những Viking bơi thuyền không có chủ định. Bây giờ hòa bình đặt sương mù lên trên xứ sở, mà những làn sóng gầm gào quanh đó. Nhưng dân cư quen với bão táp, còn muốn ở trên biển, muốn biết sự tấn công da diết của những biến cố với các nguy hiểm thường ngày và như vậy tự tạo cho mình những cảm xúc mới đầy kích thích và dữ dội, nhờ những trò chơi đẫm máu. Trước tiên người ta đặt những cái mễ để săn thú dữ và để sử dụng vào những trận đấu một chọi một. Những con gấu làm đẫm máu đấu trường; những cuộc chọi gà kích thích một cách thú vật khoái lạc của sự kinh hoàng; nhưng chẳng bao lâu, một giác quan tinh tế hơn tìm kiếm những cảm xúc trong sáng hơn trong những xung đột anh hùng mang tính người. Và chính lúc đó những biểu diễn sùng đạo, những kịch tôn giáo được diễn ở các nhà thờ làm nảy sinh một trò chơi lớn khác của các ham muốn nhân tính, sự lặp lại của tất cả những cuộc phiêu lưu - những cuộc vượt biển đầy bão táp, nhưng bây giờ được tiến hành trên những biển bên trong của trái tim: cái vô tận mới, đại dương ở đó ngự trị những thủy triều của dục vọng, những chuyển động nổi sóng lừng của trí tuệ đại dương, mà trên làn sóng của nó, bị đu đưa và bị lay động một cách nguy hiểm tạo thành một niềm vui mới cho chủng tộc Anglô - Xăcxông luôn cường tráng, mặc dầu đến chậm. Chính như vậy mà kịch của quốc gia Anh, kịch những Elizabet ra đời.


(còn tiếp)


Nguồn: Bức thư của người đàn bà không quen. Tập truyện của Stefan Zweig. Dương Tường dịch. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 







([1]) Richard Wagner (1813-1883): nhà soạn nhạc Đức.




([2]) Faust: nhân vật vở kịch nổi tiếng của Gớt trong các vở kịch.




([3]) Walpurgis (740-779): nữ tu sĩ Anh, nữ tu viện trưởng tu viện Heidilhêim, mộ bà thành nơi hành hương. Lễ của bà vào ngày 1 tháng năm kết hợp với văn hóa dân gian trở thành ngày hội mùa xuân.




([4]) Sonnit, một thể thơ trữ tình có hình thức cố định: bốn khổ thơ, hai khổ đầu bốn dòng, hai khổ sau ba dòng mỗi khổ, thịnh hành ở Pháp, Anh.




([5]) Ambique (iambe) - bài thơ châm biếm gồm những câu thơ 12 âm tiết xen kẽ với những câu thơ 8 âm tiết.




([6]) Hôme - nhà thơ Hy Lạp, được xem là tác giả của hai tập sử thi nổi tiếng, vô song: Iliát (Iliade) và Odixe (Odyssée) sự tồn tại của ông luôn là điều tranh cãi; nó mang tính chất truyền thuyết và dấy lên tận thế kỷ VI trước Công nguyên.




([7]) Walt Whitman (1819-1892) - nhà thơ Hoa Kỳ, tác giả tập thơ nổi tiếng Lá cỏ, dùng thuật ngữ trực tiếp của ngôn ngữ bình dân, ca ngợi tình dục và tự do.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
Cái bẫy - Đỗ Trường Leipzig 11.08.2019
Ngoại tình tuổi 50 - Vũ Ngọc Tiến 30.07.2019
xem thêm »