tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29896427
Lý luận phê bình văn học
22.02.2019
Triệu Xuân
Ưng Bình Thúc Giạ Thị - Đời người Đời thơ chan chứa nhân tình

*Bài đã post từ ngày 06-10-2008, nay tạp chí Nhà Văn và Tác phẩm in trong số Xuân Kỷ Hợi, từ trang 165 đến 171. Xin uapdate!


Nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị sinh ngày 9-3-1877 tại Vỹ Dạ, Huế. Ưng Bình tên thật là Nguyễn Phúc Ưng Bình, con của Hiệp tá Nguyễn Phúc Hồng Thiết, cháu gọi nhà thơ Tuy Lý vương (Nguyễn Phúc Miên Trinh, tác giả Vỹ Dạ hợp tập) bằng ông nội(1). Giòng dõi Hoàng tộc, Ưng Bình Thúc Giạ Thị thông minh, học giỏi, có khiếu văn chương từ nhỏ. Ông tốt nghiệp trường Quốc học Huế, năm 1904, hai mươi bẩy tuổi, ông đỗ đầu kỳ thi Kí lục, làm Kí lục ở Huế. Năm năm sau, 1909, ba mươi hai tuổi, đỗ cử nhân Hán học. Ông được bổ làm Tri huyện, lần lượt thăng Tri phủ, Viên ngoại, Thị lang. Năm 1922, Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm Bố chánh Hà Tĩnh, Tuần vũ, Phủ doãn Thừa Thiên. Năm 1933, khi 57 tuổi, ông về hưu và được thăng Thượng thư Trí sự. Năm 1939-1940, ông là Hội trưởng Hội Truyền bá Quốc ngữ Trung kỳ. Từ năm 1940-1945, làm Viện trưởng Viện dân biểu Trung kỳ. Năm 1943, khi 67 tuổi, được thăng Hiệp tá đại học sỹ. Ông mất ngày 4-4-1961 tại Huế, thọ 84 tuổi.


Là một nhà Nho uyên bác, lại tinh thông Tây học, từng làm quan lớn trong triều Nguyễn, nhưng nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị trước sau vẫn giản dị là một con người Việt Nam, yêu dân tộc Việt Nam, yêu Tổ quốc Việt Nam, luôn thiết tha với cảnh vật, con người xứ sở mình. Ông được nhiều tầng lớp người trong xã hội quý yêu, kính nể. Chẳng thế mà năm 1951, khi ông tròn 75 tuổi, bạn bè đã tổ chức lễ điếu sống Ưng Bình Thúc Giạ Thị.


Trước năm 1975, tại miền Nam nước ta, Ưng Bình Thúc Giạ Thị là một trong những người sống, làm quan, sáng tác thơ văn dưới Triều Nguyễn được đánh giá cao, là một nhà thơ nổi tiếng. Nhưng ở miền Bắc, tôi còn nhớ, trên giảng đường của Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp Hà Nội, cái tên Ưng Bình Thúc Giạ Thị hầu như rất ít được nhắc đến. Trong những công trình nghiên cứu hoặc những bài viết về thơ Việt Nam giai đoạn 1900 – 1975 tại miền Bắc, cái tên Ưng Bình Thúc Giạ Thị lại càng hiếm hoi. Lý do ư? Phải chăng vì ông vốn là một vị quan đại thần của Triều Nguyễn? Thời đó, phàm cái gì là tàn dư của phong kiến đế quốc đều bị lên án mà!


Đọc Ưng Bình Thúc Giạ Thị, tôi cảm nhận được đây là một tài thơ lớn! Trong số những người làm thơ cùng thời với Ưng Bình Thúc Giạ Thị, có lẽ tác phẩm ông để lại là đồ sộ hơn cả. Ưng Bình Thúc Giạ Thị viết rất nhiều thể loại: thơ, ca Huế, ca trù, hò Huế, tuồng, làm cả nhạc nữa! Ở thể loại nào ông cũng có những tác phẩm được nhiều người thán phục. Tác phẩm viết bằng chữ Hán có Lộc Minh Đình Thi Thảo, được nhiều nhà thơ lớn cùng thời đánh giá cao, như là sự nối tiếp âm hưởng và nghệ thuật thơ thịnh Đường, mặc dù thời mà tác giả sống, chữ Quốc ngữ đã thay thế chữ Hán. Tác phẩm viết bằng Quốc ngữ có: Tình Thúc Giạ (1942), Bán buồn mua vui (1954), Đời Thúc Giạ, (1961), Tiếng hát sông Hương (1972). Về tuồng, có vở Tuồng Lộ Địch (1936), dựa theo vở kịch Le Cid nổi tiếng của nhà bi kịch cổ điển Pháp Pierre Corneille (1606-1684). Tuồng tào lao (1937), dựa theo một truyện cổ.


Lộc Minh Đình Thi Thảo gồm 197 bài thơ viết bằng chữ Hán - có sách nói là 227 bài - ở đó hàm chứa biết bao nỗi lòng, tâm sự của Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Ông là chắt nội của vua Minh Mạng, hoạn lộ vô cùng may mắn, sinh thời được nhiều tầng lớp người trân trọng. Thế nên, trong thơ ông ít thấy niềm đau và nỗi buồn như trong thơ của Lý Bạch, Đỗ Phủ. Thế nhưng, toát lên từ những bài thơ viết về non sông gấm vóc, những thắng cảnh của quê hương đất nước, ta vẫn thấy phảng phất đâu đó nỗi buồn của nhà thơ trên từng chặng đường đời. Đi làm quan xa nhà, ông nhớ nhà, nhớ Huế, nhớ người thân, người yêu. Đến những chốn sơn thủy hữu tình, biết bao lần ông chợt thấy tê tái cô đơn, thiếu kẻ tri âm để cùng thưởng thức vẻ đẹp mà thiên nhiên ban tặng con người. Huế là xứ sở từ trong cỏ hoa mây nước gió trăng luôn đượm vẻ trầm tư, người nghệ sĩ đôi khi chìm đắm trong nỗi buồn man mác vì một trận mưa, một làn gió lạnh, một gợn sóng lăn tăn trên dòng Hương giang. Và chính nỗi buồn ấy đã có sức thuyết phục người đọc, lay động tâm tư người đọc, bởi nó rất thật! Thơ viết bằng chữ Hán của Ưng Bình Thúc Giạ Thị không khắc họa hiện thực lầm than của tầng lớp dân nghèo. Làm sao ta có thể đòi hỏi điều đó được! Nhưng, trong thơ ông, tình người luôn hiển hiện. Những bài thơ hay nhất của ông đều chan chứa tình, đặc biệt là những bài ông giãi bày tâm sự, giãi bày nỗi buồn của một người luôn cảm thấy cô đơn... Ông là một người trọng tình nghĩa, nhà ông vốn là Thi xã2 nức tiếng một thời.


Trung thu ký hoài Trường An du hữu là một bài thơ như thế:


Phong quang sơn tịnh ngũ canh thâm


Nhàn hướng hoa thôn độc lộng cầm


Diêu ức Hương giang kim dạ nguyệt


Bồi hồi vô hạn cố viên tâm


Dịch thơ:


Trung thu nhớ bạn ở Huế 3


Gió êm núi lặng canh tàn


Ngóng trông thôn vắng gảy đàn mình ta


Đêm nay Hương ngự trăng tà


Nôn nao xao xuyến thương nhà nhớ quê.


Muôn dặm đường đời, tới đâu Ưng Bình Thúc Giạ Thị cũng có thơ. Đây là bài Đi bộ dạo chơi từ Tỉnh lỵ Bình Thuận đến bờ biển Phan Thiết (Vãn bộ tự Bình Thuận tỉnh thành chí Phan Thiết hải tấn):


Vân thu thiên ngoại điểu quy lâm


Hà đạm yên khinh nhật ảnh trầm


Tứ dã nông ca cao trạch nhuận


Trùng dương ngư vịnh thủy lưu thâm


Khí chưng viêm hải phong thường tật


Địa tiếp Hồ sơn vũ bất dâm


Xứ xứ kinh qua giai lạc thổ


Giang hồ dục lão thiếu niên tâm


Dịch thơ:


Lưng trời mây tản cánh chim qua


Ráng nhạt sương loang bóng xế tà


Đồng nội véo von cày cấy hát


Trùng khơi thăm thẳm tiếng chài ca


Gió lùa biển nóng nồng hơi tỏa


Mưa nhẹ non hồ khuất bóng xa


Bước giẫm đất lành qua mấy nẻo


Giang hồ luống mỏi mộng chưa già.


Nhà thơ tả cảnh thật tài tình! Ông coi mình như một khách giang hồ luống mỏi mệt rồi nhưng tinh thần, ý chí thì chưa già, còn sung sức!


Ở không ít bài thơ viết bằng chữ Hán, cũng như Quốc ngữ, ta bắt gặp tâm trạng cô đơn, nỗi sầu da diết của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, cô đơn ngay cả khi tiệc tùng đàn ca réo rắt, cô đơn ngay cả giữa chốn đông người. Xin dẫn bài: Giáp Tý xuân tam nguyệt nhị thập cửu dạ chiêu ẩm tác thi mệnh cầm đề thi: Mùa xuân năm Giáp Tý -1924 - đêm 29 tháng 3 cùng khách uống rượu làm thơ và nghe đàn:


Mộng Vị thi tình cửu bất ngâm


Ngã Đông Chi thị lãn minh cầm


Lưỡng tam bôi tửu sầu nan đoạn


Thiên vạn trùng sơn vọng chuyển thâm


Kịch liệt ác ma doanh đổ cục


Thanh tao mặc khách thiểu đồng tâm


Kim triêu sạ thính Hành Vân khúc


Thập lục chu huyền tế vũ xâm


Dịch nghĩa:


Đã lâu không ngâm nga vì cuộc tình thơ với nàng Mộng Vị


Ông Đông Chi của ta biếng gảy đàn


Vài ba ly rượu uống khó khuây nỗi sầu


Xa cách ngàn trùng nhớ nhung càng thêm nhiều


Quanh bàn cờ bạc có nhiều ma cờ bạc sát phạt nhau ác liệt


Nhiều bạn tao nhân mặc khách nhưng ai là bạn thân tình


Sáng nay chợt nghe điệu nhạc Hành Vân


Tiếng đàn tranh rì rào như mưa nhẹ rơi không dứt


Dịch thơ:


Đông Chi, Mộng Vị mối tình lan


Chàng bẵng ngâm thơ biếng gảy đàn


Sầu nhớ không nguôi vài chén rượu


Nỗi lòng dằng dặc vạn trùng san


Quỷ ma ác liệt đầy sòng bạc


Mặc khách thanh tao thiếu bạn vàng


Vẳng điệu Hành Vân đàn thập lục


Rì rào réo rắt hạt mưa tan


Trong đời thơ của mình, Ưng Bình Thúc Giạ Thị có nhiều dịp xướng họa cùng thi hữu thân thiết. Đây là thơ họa bài khai bút của Huỳnh Thúc Kháng:


Họa Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng


tiên sinh Tân Tỵ thí bút nguyên vận


Cửu cao tằng thính cô minh hạc


Thập tải thê trì thử đế kinh


Hữu khách kinh qua kim thế lộ


Vị thùy bất thức lão tiên sinh


Chi trì thiết thạch tâm nan chuyển


Lai vãng phong trần mấn dị canh


Kỷ tuế tân thi tân vận sự


Ngâm thành trịch địa tác kim thanh4


Họa thơ khai bút đầu năm Tân Tỵ (1941)


của Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng


Từng nghe tiếng hạc lẻ loi kêu bên bờ sông nước


Ở đất Thần kinh đã mười năm


Bao người qua lại trên đường trần thế


Ai là kẻ không quen biết đến bậc lão thành này


Lòng son sắt ý quyết khó đổi thay


Xuôi ngược phong trần tóc mai đã đổi mầu


Mừng năm mới làm vần thơ ghi sự việc mới


Ngâm xong quẳng xuống đất nghe tiếng ngân thanh thanh


Dịch thơ:


Hạc lẻ đầm sâu vọng nỗi tình


Mười năm ẩn dật đất Thần kinh


Bao người giẫm bước đường trần thế


Nào kẻ không quen bậc lão thành


Gan dạ sắt son lòng đã quyết


Phong trần xuôi ngược bạc đầu nhanh


Đón xuân việc mới vần thơ mới


Ngâm chán quăng đi tiếng vọng thanh


Ưng Bình Thúc Giạ Thị ca ngợi nhân cách của nhà cách mạng Huỳnh Thúc Kháng: Gan dạ sắt son lòng đã quyết, đồng thời cũng gửi cả tình cảm yêu kính, khâm phục cụ Huỳnh. Nhà Nho Ưng Bình Thúc Giạ Thị làm bài thơ này lúc 64 tuổi, đang làm Hội trưởng truyền bá Quốc ngữ Trung kỳ. Tiếp đó, Xuân Nhâm Ngọ (1942), Ưng Bình Thúc Giạ Thị đến thăm và cùng làm thơ khai bút với Mính Viên Huỳnh Thúc Kháng:


Thứ Minh Viên Hoàng tiên sinh Nhâm Ngọc


Nguyên đán thí bút nguyên vận


Hành niên lục thập dĩ kinh qua


Hy cổ hy nhân vị đáo hà


Ngẫu đái xương cuồng phi tửu phích


Bất kinh hồn mộng hữu thi ma


Hành môn tự hứa tâm như thủy


Lão phố tê nhàn mấn tiệm hoa


Tế thử xuân quang vô dị hảo


Chỉ Kỳ viên thụ Mính Viên hoa5


Dịch thơ:


Tuổi đời sáu chục mới vừa qua


Ít kẻ từ xưa được tuổi già


Rượu chẳng nghiện chi ngông có lúc


Thơ thì đã sẵn, sợ gì ma


Cửa cài đã hứa lòng không rộn


Trồng trọt nhàn qua tóc điểm hoa


Giữa lúc xuân sang đâu thú vị


Vườn Kỳ cây cỏ với hoa trà


Mính Viên là tên hiệu của cụ Huỳnh Thúc Kháng. Chữ Hán, mính viên nghĩa là vườn trà. Hai câu kết bài thơ này chơi chữ rất hay: Giữa lúc xuân sang hoa cỏ rực rỡ, còn gì thú vị hơn là lui tới, vui chơi với ông Huỳnh Thúc Kháng! Chỉ kỳ viên thụ mính viên hoa, Ưng Bình Thúc Giạ Thị coi cụ Huỳnh Thúc Kháng như cây tùng cây bách. Chỉ với hai bài thơ đã dẫn, chúng ta thấy tình cảm đặc biệt của Ưng Bình Thúc Giạ Thị đối với nhà cách mạng tiền bối.


Khi viết bằng Quốc ngữ, Ưng Bình Thúc Giạ Thị vẫn sáng tác theo các đề tài mà ông quen thuộc như trong thơ viết bằng chữ Hán, nhưng tự do phóng khoáng hơn, thỏa sức thể hiện tài năng quan sát, miêu tả thiên nhiên và tình người. Nhờ thế mà chất liệu đời thường, hiện thực đất nước sáu chục năm đầu thế kỷ XX tràn vào thơ ông nhiều hơn. Những bài thơ họa, thơ vịnh cảnh của Ưng Bình Thúc Giạ Thị thật hay! Những bài thơ tác giả viết cụ thể về một lớp người: Những anh hùng liệt nữ như Bà Trưng, Bà Triệu…; thơ về người vợ, thầy đồ, quan lại, cô đào, ca nữ, anh kép già, học trò, người hành khất…; Những nhà thơ danh tiếng như Nguyễn Du (Tô điểm non sông trời Cồ Việt6/ Đành treo giải nhất áng văn hay); Những người tri âm tri kỷ như Thảo Am Nguyễn Khoa Vy, Mộng Tuyết Thất tiểu muội, những khách thơ thường lui tới nhà ông, rồi những bài tự thuật, tự trào về chính mình (Thăng hàm Hiệp tá kỷ sự)… rất phong phú, như là bức chân dung bằng thơ, rất thật và luôn tinh tế, hóm hỉnh, sâu sắc, cả sự trào lộng thâm trầm.


Bài Coi hát rạp Đồng Xuân là một thí dụ:


Rạp hát Đồng Xuân tiếng thuở nay


Hoa thêu gấm dệt cảnh phô bày


Kép đào vai cũ không ai lạ,


Trung nịnh tuồng xưa lắm vở hay


Cứu Tiết Linh Sơn cho khỏi nạn


Cậy Trinh Thiên Tuế phải ra tay


Tẻ vui cười khóc trên sân khấu


Lẳng lặng ngồi xem lớp đổi thay.


Cảnh sông thu viết tháng Tám Ất Dậu, 1945, là một trong những bài thơ thể hiện tài năng tả cảnh của Ưng Bình Thúc Giạ Thị:


Xa xa bóng nhạn giữa trời thu


Nước biếc mây xanh lẫn một màu


Quốc quốc tìm sâu trên vạt cỏ


Le le nhởn sóng cạnh bờ lau


Lẹ làng nốt ruổi bơi qua đó


Êm thấm thuyền tình đậu ở đâu


Lưu thủy, hành vân thành điệu cổ


Trên sông nghe vắng đã từ lâu.


Bài Sông Hương thấm đẫm nỗi niềm riêng trước bao biến thiên cuộc đời:


Một dải trong ngần ngó dễ ưa


Sang sông chạnh nhớ cảnh ngày xưa


Trải bơi cồn Hến già khen mãi


Giá ngự thuyền Rồng trẻ thấy chưa?


Sáu nhịp vòng cung cầu đã bắc


Trăm năm bến cũ dấu còn lưa


Biết bao giọt lệ trôi dòng nước


Tan hiệp đây là chỗ đón đưa.


Bài thơ này làm năm 1959, tác giả Chú thích rất dài: gần một trang in 13 x 19 cm: cắt nghĩa về Trải bơi ở cồn Hến và Lễ trải hàng năm rước hến vào mùa hạ, nay không còn nữa; cắt nghĩa về chiếc thuyền Rồng để Vua ngự gồm nhiều thuyền trần đi trước dắt thuyền ngự như thế nào, rồi cầu sáu nhịp, tức cầu Clémenceau, dân ta quen gọi là Trường Tiền, vì trước đó có bến đò Trường Tiền. Trường đúc tiền cũng ở đó… Càng về cuối đời, nhà thơ Ưng Bình Thúc Giạ Thị càng sống gần dân hơn. Thi sĩ đa tài, rất nhạy cảm, có tấm lòng nhân ái, yêu nước thương nòi. Thời trai trẻ làm quan, ông sống thanh đạm liêm khiết. Về già, ông gần dân, nên càng đau đáu nỗi niềm của nhân dân. Ông vua trẻ Bảo Đại từ Pháp về nước, biết bao kẻ hám lợi danh bu quanh, Ưng Bình Thúc Giạ Thị nghĩ đến cảnh người ta đua chen chốn quan trường mà thẹn:


Cảm thương danh lợi cả hai thằng


Kẻ chống người chèo bộ nhí nhăng


Ghét cụm bèo trôi che bóng nước


Giận chòm mây nổi khuất vành trăng


Chim không nhát bẫy nhìn không đậu


Cá dại ham mồi thấy phải ăn


Câu hát bên sông thêm chạnh nỗi


Ông chài lơ lửng có nghe chăng!


(Buổi chiều đi dạo bờ sông tức cảnh)


Trong những tác phẩm của Ưng Bình Thúc Giạ Thị, có một mảng rất đặc sắc, đó là những câu hò, điệu hát, bài ca trù đã đi vào tâm khảm của người dân xứ Huế. Thật là thú vị khi những câu hò Huế, những bài hát ca trù ấy lại chính là sản phẩm do một nhà Nho giòng dõi Hoàng tộc, một vị quan đại thần triều Nguyễn tạo ra. Âm hưởng chủ đạo của mảng sáng tác này là tình yêu đôi lứa, tình nghĩa con người, tình yêu quê hương đất nước. Ưng Bình Thúc Giạ Thị đúng là một nghệ sĩ đa tài! Ông tỏ ra say mê rành rẽ dân ca nhạc cổ của cả ba miền Bắc Trung Nam, không hề chê bai một làn điệu nào, từ dân ca Bắc bộ đến cải lương ở Nam bộ. Ưng Bình Thúc Giạ Thị đã góp phần quan trọng trong việc phát triển lên tầm nghệ thuật các làn điệu ca Huế và hò Huế. Đến mức, có những bài ca, câu hò do Ưng Bình Thúc Giạ Thị sáng tác đã nhanh chóng đi vào đời sống nhân dân, ai cũng nghĩ là từ dân gian mà ra.


Chiều chiều trước bến Văn Lâu


Ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm


Ai thương ai cảm, ai nhớ ai trông?


Thuyền ai thấp thoáng bên sông


Đưa câu mái đẩy chạnh lòng nước non.


(Câu hò trước bến Văn Lâu)


Và:


Nước chảy xuôi, con cá bươi lội ngược


Nước chảy ngược con cá vượt lội ngang


Thuyền em xuống bến Thuận An


Thuyền anh lại trẩy lên ngàn, anh ơi!


(Nước chảy xuôi… nước chảy ngược)


Đây là hai tác phẩm trứ danh, do một người sáng tác mà đã trở thành máu thịt của nhân dân xứ Huế! Hai câu hò ấy đều bắt nguồn từ sự kiện lịch sử: Vua Duy Tân và các đồng chí của mình chuẩn bị khởi nghĩa chống Pháp, việc không thành, các đồng chí của Duy Tân bị sát hại, nhà vua bị Pháp bắt đi đày…


Ưng Bình Thúc Giạ Thị - đời người, đời thơ của cụ chan chứa ân tình! Thơ, ca Ưng Bình Thúc Giạ Thị có vị trí không thể phủ nhận trong kho tàng văn chương nước nhà. Cuộc đời và tác phẩm của Ưng Bình Thúc Giạ Thị sẽ sáng mãi trong lòng người dân xứ Huế và trong lòng những ai tha thiết với văn học dân tộc. Tôi là người của thế hệ sau, tôi có tâm nguyện: Những gì thế hệ trước đã làm được, nay ta cần phải bảo tồn, trân trọng, coi là vốn quý vô giá của dân tộc để làm nền tảng cho con cháu chúng ta phát huy: tự hào về quá khứ, vững tin ở hiện tại, lạc quan bước tiếp trong kỷ nguyên đưa nước Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu. Bởi thế, tôi nghĩ là mình may mắn khi làm bộ sách này. Để kết thúc lời giới thiệu thô sơ này, tôi xin trích dẫn mấy dòng của nhà thơ Nguyễn Vỹ - tác giả bài thơ bất hủ: Gửi Trương Tửu. Nguyễn Vỹ đã viết về cố thi sĩ Ưng Bình Thúc Giạ Thị với tất cả sự nhạy cảm và tấm lòng của một thi nhân. Khi tôi biên tập để xuất bản tác phẩm Văn Thi sĩ tiền chiến, đến bài viết về cụ Ưng Bình, tôi lấy làm tâm đắc với Nguyễn Vỹ vô cùng:


 “Chỉ đọc đôi ba bài tuyệt diệu, cũng thông cảm được hết nỗi lòng hồi hộp băn khoăn của thi sĩ, dù là một tiếng thở, một lời than, ký thác trong âm điệu của của mỗi dòng, mỗi chữ.


Thơ của cụ Ưng Bình Thúc Giạ Thị vừa nhẹ nhàng, trang nhã, vừa hàm súc bao ý nghĩa. Cụ kế tiếp được những truyền thống thi cảm Tuy Lý vương, truyền thống Nho phong mà chúng ta cảm thấy như không còn ai tiếp nối nữa.


Một bài thơ như bài sau đây của cụ Ưng Bình viết năm 1946, có thể nói là một kiệt tác:


Bẩy mươi tuổi tự thuật


Ngưỡng mong ơn Phật với ơn Trời


Tuổi thọ nay đà đến bẩy mươi


Rượu có mùi hương nên uống mãi


Thi là thuốc bổ cứ ngâm chơi


Thuở ra sân khấu không làm rộn


Khi hạ vai tuồng ít hổ ngươi


Giở tấm gương vàng soi tóc bạc


Sương pha tuyết điểm lại càng tươi


Thơ Đường luật điêu luyện đến mức nghệ thuật toàn thiện toàn mỹ như thế, xin hỏi cả một thế kỷ có được bao nhiêu bài?


Ưng Bình Thúc Giạ Thị là một thi nhân cổ điển, tóc bạc thơ vàng, khó kiếm được nữa trên mảnh đất Việt Nam ở thời đại này!”7.


Nhà văn Triệu Xuân chân thành cám ơn nhà thơ Tôn Nữ Hỷ Khương - ái nữ của Cụ Ưng Bình- cùng đại gia đình bà Hỷ Khương đã giúp tôi vô cùng nhiệt thành để làm bộ sách về Nhà thơ lớn Ưng Bình Thúc Giạ Thị!


 


Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh, mùa Thu 2007


Nhà văn Triệu Xuân


 


Nguồn: Lời tựa in trong Ưng Bình Thúc Giạ Thị - Cuộc đời và tác phẩm. Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn và giới thiệu. NXB Văn học, 2008.


www.trieuxuan.info


 


 


 





 







(1) Tuy Lý vương Nguyễn Phúc Miên Trinh là hoàng tử thứ 11 của vua Minh Mạng. Tuy Lý vương cùng anh ruột của mình là Tùng Thiện vương Miên Thẩm là hai nhà thơ nổi tiếng thế kỷ XIX. Vua Tự Đức đánh giá hai người ấy là: “Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường”!




2 Ưng Bình Thúc Giạ Thị là người thành lập Vỹ Hương Thi xã, sau là Hương Bình Thi xã.


 




3 Đã có nhiều người dịch Lộc Minh Đình Thi Thảo ra thơ Việt, như các dịch giả: Giản Chi, Thanh Vân, Thanh Tùng... Trong bộ sách này, được sự đồng ý của Dịch giả, Tiến sĩ Nguyễn Hữu Vinh, chúng tôi in tác phẩm Lộc Minh Đình Thi Thảo theo bản chữ Hán, bản dịch nghĩa và dịch thơ từ năm 1995 (đã được post lên Website từ mấy năm qua) của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Vinh, hiện đang sống ở Đài Loan.


 




4 Trước Tiến sĩ Nguyễn Hữu Vinh, Dịch giả Thanh Vân đã chép câu cuối bài này là: Ngâm thành trịch địa tại kim thanh; và dịch bài thơ này như sau: Hạc lẻ chầm sâu (có lẽ in sai, phải là đầm sâu mới đúng) vọng tiếng ca/ Đế kinh ngừng bước chục năm qua/ Bao người lai vãng đường đô hội/ Mấy kẻ tri tường bậc đại khoa/ Sắt đá một lòng bền chí cả/ Phong trần nửa mái chịu sương pha/ Năm nay thơ mới vần muôn điệu/ Ngâm chuyển tinh cầu rộn tiếng ca. (Ưng Bình Thúc Giạ Thị. Thơ Ca, tuyển. (Trang 230). NXB Thuận Hóa. 4-1992).




5 Bản của Dịch giả Thanh Vân, sách đã dẫn, chép là: Chỉ chi viên thụ mính viên hoa.


 




6 Trong các bản in trước đều in là cổ Việt. Tôi nghĩ rằng cụ Ưng Bình không viết cổ Việt mà là Cồ Việt (Đại Cồ Việt)!


 




7 Nguyễn Vỹ. Văn Thi sĩ tiền chiến. (Phần viết về Ưng Bình, trang 324). NXB Văn học, 2007.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện ngắn Hoa Kỳ: từ hiện đại đến hậu hiện đại - Lê Huy Bắc 13.10.2019
Bài rất nên đọc: Lưu Quang Vũ trong cái nhìn của các bạn trẻ/ Những bài thơ viển vông cay đắng u buồn... - Nhiều tác giả 13.10.2019
Mai Thảo - khao khát và bất lực - Vương Trí Nhàn 13.10.2019
Nhà văn Triệu Xuân và tiểu thuyết Trả Giá - Ngô Vĩnh Bình 03.10.2019
Sông cạn - Son sắt niềm tin yêu - Triệu Xuân 02.10.2019
Gặp nhà thơ Hữu Loan ở Đồng Nai - Đỗ Hoàng 01.10.2019
Nhà thơ Đỗ Hoàng - Người dịch thơ Việt ra... thơ Việt! - Trần Quang Đạo 01.10.2019
Hoài Anh - Nhà thơ một mình cuốc bộ - Vũ Từ Trang 23.09.2019
Sông Thương, tiếng chim tu hú - Vũ Từ Trang 22.09.2019
Nhà thơ Vũ Từ Trang với các "chân dung văn học" - Huy Thắng 22.09.2019
xem thêm »