tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829557
Truyện ngắn
10.07.2009
Stefan Zweig
Cặp mắt người anh vĩnh cửu (6)

Virata nhìn bà ta. Người đàn bà lạ mặt có cặp mắt ngơ ngác đến nỗi ông cho rằng bà ta bị điên. Và quay lại để ra đi, ông chỉ nói với bà ta:


- Tôi không phải là người như bà nghĩ. Tôi sống xa lánh mọi người và tôi không chịu trách nhiệm về vận mệnh của bất cứ ai. Bà đã nhầm tôi với một người khác.


Nhưng cơn giận của người đàn bà bùng nổ sau lưng ông:


- Tôi biết ông lắm chứ, thiên hạ ai cũng biết. Ông là Virata, người được mệnh danh là “Ngôi sao của sự cô đơn”, người ta tặng ông cả bốn cái tên đức hạnh để ca ngợi. Nhưng tôi, tôi không khen ông, bởi vì miệng tôi sẽ tố cáo ông cho tới khi thấu được đến tai vị pháp quan tối cao của những người đang sống.


Vậy ông hãy lại đây, nếu ông muốn biết, đến mà xem những gì ông đã gây ra cho tôi.


Đoạn bà ta nắm chặt lấy Virata đang kinh ngạc, lôi ông vào trong nhà và mở tung cửa một gian buồng thấp và tối; bà ta kéo ông vào một góc nhà, ngay sát mặt đất, trên một tấm chiếu, có cái gì nằm dài bất động. Virata cúi xuống, nhưng lập tức ông lùi lại, toàn thân run lên bần bật: xác của một đứa bé nằm dưới chân ông, và đôi mắt của xác chết nhìn sững vào ông như đôi mắt của người anh xưa kia, ném cho ông lời buộc tội đời đời. Và bên cạnh ông, người đàn bà run rẩy vì đau đớn, hét lên:


- Đấy là đứa thứ ba, đứa cuối cùng tôi mang trong bụng, thế mà ông, người được mệnh danh là thánh và là công bộc của các thần linh, ông cũng đã giết nó.


Virata muốn ngắt lời để hỏi bà ta và tự bào chữa, song bà ta lại kéo ông đi xa hơn nữa:


- Ông hãy nhìn kia kìa, chiếc khung cửi bỏ trống. Trước kia, hàng ngày Paratika chồng tôi đứng dệt vải trắng; cả nước không có thợ dệt nào giỏi hơn anh ấy. Từ xa, người ta đem việc đến cho anh ấy làm và công việc nuôi sống mẹ con tôi. Chúng tôi đã sống những ngày trong sáng, vì Paratika là người tốt và anh làm việc không ngừng. Anh ấy tránh xa những kẻ phóng đãng, cũng không lui tới phố phường; nhờ anh ấy, tôi đã có ba mụn con, những mong nuôi nấng cho chúng nên người theo gương anh ấy, hiền lành và đức độ như bố chúng. Nhưng, một hôm, anh ấy được một người săn cho biết - nếu trời đừng run rủi cho con người xa lạ đó đến có phải may mắn bao nhiêu không! - rằng một người ở trong nước đã bỏ nhà bỏ cửa, bỏ của cải, tự hoại thân thể được gần Thượng đế, ông ta đã tự tay dựng lấy lán để trú thân. Từ lúc đó đầu óc Paratika trở nên u mê và ngày càng u mê hơn; buổi tối, anh ấy suy nghĩ nhiều và ít khi nói một lời. Một đêm tôi thức giấc: anh ấy đã bỏ chỗ nằm cạnh tôi và đi vào khu rừng mà người ta gọi là khu rừng sùng đạo, nơi ông ở, để dâng hết tâm trí của anh ấy cho Thượng đế. Nhưng khi tâm niệm về Thượng đế thì anh ấy đã quên mẹ con tôi, và anh ấy quên rằng mẹ con chúng tôi sống được là nhờ công sức của anh ấy. Nhà cửa chúng tôi lâm vào cảnh nghèo đói: bọn trẻ thiếu ăn, đứa nọ chết sau đứa kia và hôm nay đứa này là đứa thứ ba, đứa cuối cùng, đã chết vì ông. Bởi vì ông đã quyến rũ chồng tôi. Để cho bản thân ông được gần gũi bản thể chân thực của Thượng đế hơn nữa, ba đứa con tôi rứt ruột đẻ ra đã phải nằm dưới đất lạnh lẽo. Ngày mà tôi gọi ông ra trước pháp quan của những người đang sống và những người đã chết, ông sẽ biện bạch thế nào về tội này, hỡi con người kiêu ngạo; trong lúc tấm thân nhỏ bé của các con tôi quằn quại giữa hàng ngàn cơn đau đớn trước khi chết, thì lúc đó ông vứt những mảnh bánh vụn cho chim, tránh xa mọi sự đau khổ. Ông sẽ biện bạch thế nào về tội này, khi đã lôi kéo một con người công minh chính trực bỏ công ăn việc làm vẫn nuôi sống bản thân và những đứa con vô tội của mình, với ý tưởng hão huyền rồ dại là sẽ được gần Thượng đế nếu sống xa lánh mọi người, hơn là sống cuộc đời của những người trần tục. Virata xám ngắt, đôi môi ông run lên:


- Tôi không biết rằng tôi đã thúc đẩy người khác làm theo tôi. Tôi nghĩ là tôi hành động đơn độc.


- Vậy thì cái hiền minh của ông để đâu, hỡi con người hiền minh, nếu ông biết mỗi điều mà đứa trẻ nào cũng biết, là mọi hành động đều từ Thượng đế mà ra, không ai tự ý thoát khỏi được, cũng như không ai thoát khỏi vòng tội lỗi? Ông chỉ là một kẻ kiêu ngạo, tưởng mình làm chủ được hành động của mình và có thể dạy dỗ được người khác. Điều mang lại sự dịu ngọt cho ông, bây giờ trở thành nguyên nhân nỗi cay đắng của tôi và sự sống của ông là cái chết của đứa trẻ này.


Virata suy nghĩ một lát rồi nghiêng mình nói:


- Bà nói đúng, tôi thấy rằng sự đau khổ bao giờ cũng làm ta hiểu biết về chân lý nhiều hơn là thái độ thản nhiên của những nhà hiền triết. Những điều tôi biết là do những người bất hạnh dạy cho tôi; những điều tôi thấy, là do cái nhìn của sự đau khổ chỉ dẫn cho tôi - cái nhìn của người anh vĩnh cửu. Tôi đã không tự hạ mình trước Thượng đế như tôi đã tưởng; trái lại, tôi là một kẻ kiêu ngạo. Giờ đây, tôi hiểu được điều đó, nhờ sự đau khổ của bà mà lúc này tôi chia sẻ. Bà hãy tha thứ cho tôi, vì tôi thú nhận với bà điều này: Tôi thấy tôi có tội với bà và cũng có tội với nhiều người khác mà tôi không biết, những người mà số phận của họ đã chịu ảnh hưởng của tôi. Bởi vì ngay cả kẻ vô vị cũng nêu một tấm gương mà y phải chịu trách nhiệm trên trái đất này, và ngay cả kẻ sống đơn độc cũng truyền bá kiểu sống của y đến tất cả những người anh em. Bà hãy tha thứ cho tôi. Tôi muốn rời bỏ khu rừng và trở lại giữa loài người để Paratika cùng trở về và làm cho những mầm sống mới lại thức tỉnh trong lòng bà thay thế cho những mạng sống không còn nữa. Ông nghiêng mình lần nữa và môi ông chạm vào viền áo dài của bà ta. Tức thì cơn giận dữ của người đàn bà tan biến và bà ta nhìn ông ra đi bằng cặp mắt kinh ngạc.


*


*           *


Virata còn qua một đêm nữa trong căn lều của mình nhìn những vì sao trắng mọc trong chốn sâu thăm thẳm của bầu trời rồi tắt đi vào buổi sáng. Một lần cuối cùng ông gọi chim chóc đến cho ăn và âu yếm vuốt ve chúng. Rồi ông cầm lấy gậy và chiếc vỏ sò, và cũng giống như lúc đến đây từ bao nhiêu năm trước, ông trở về kinh thành.


Cái tin bậc thánh nhân đã rời bỏ nơi ẩn dật và trở về trong những bức tường của đô thành vừa lan ra là mọi người từ các phố phường lũ lượt kéo đến, sung sướng nghĩ rằng họ sắp được ngắm nhìn tận mắt con người hiếm thấy này. Dù sao, một mối lo sợ ngấm ngầm cũng đã đến với một số người: họ nghĩ rằng sự quay về của Virata, người vừa mới sống tiếp cận với Thượng đế, rất có thể là điềm báo trước một nỗi bất hạnh.


Virata đi thong thả như xuyên qua một thành lũy sống làm bằng những dấu hiệu tôn kính, ông rất muốn đáp lại lời chào mừng của mọi người bằng cách vui vẻ mỉm cười với họ, nhưng lần đầu tiên ông không thể lấy lại được nụ cười hiền dịu trước kia luôn luôn xuất hiện trên môi ông: cái nhìn của ông nghiêm nghị và miệng ông khép kín.


Cứ như vậy ông đến trước cung đình. Buổi chầu đã qua, nhà vua còn lại một mình. Virata tiến lại gần vua, ngài đứng dậy ôm lấy ông. Nhưng Virata quỳ xuống đất và sờ vào viền áo nhà vua tỏ ý cầu xin.


Nhà vua phán:


- Lời cầu xin của khanh được chấp thuận ngay từ trước khi môi khanh nói ra. Vinh hạnh cho trẫm được phục vụ một bậc danh nhân và giúp đỡ một bậc hiền minh.


- Xin bệ hạ đừng gọi thần là bậc hiền minh, - Virata đáp - bởi vì con đường thần theo đuổi không phải là con đường tốt. Thần đã loay hoay trong cái vòng luẩn quẩn và thần lại về đây cầu xin trên ngưỡng cửa bệ hạ, cũng là nơi mà đã có ngày thần cầu xin bệ hạ giải thoát cho thần khỏi mọi nhiệm vụ. Thần những muốn thoát khỏi mọi lỗi lầm và tránh mọi hành động; nhưng, thần cũng vậy, thần đã lọt vào tấm lưới mà các thánh thần đã giăng ra cho người trần.


- Cầu trời cho trẫm đừng tin những điều khanh vừa nói, - Nhà vua đáp - có thể nào khanh lại làm hại những người khác khi khanh sống xa cách họ; có thể nào khanh rơi vào vòng tội lỗi khi khanh sống nơi Thượng đế.


- Thần làm điều ác ngoài ý muốn của thần; thần trốn tránh tội lỗi trong khi chân con người bị xiềng vào mặt đất và hành động của con người tuân theo luật của các thần. Không hành động vẫn còn là hành động; thần không thể tránh khỏi cặp mắt của người anh của thần; đối với anh ấy vĩnh viễn chúng ta làm điều thiện và điều ác, trái với ý muốn của chính chúng ta. Tuy nhiên, thần phạm tội gấp bảy lần, bởi vì thần xa lánh Thượng đế và không chịu phụng sự những người đang sống, thần là kẻ vô tích sự, bởi vì thần lấy làm mãn nguyện với việc nuôi sống bản thân mình và không giúp đỡ ai. Đến bây giờ, thần muốn xin được làm việc lại.


- Lời khanh nói trẫm không hiểu nổi, Virata, trẫm không hiểu được hết ý khanh, hãy nói rõ khanh muốn gì để trẫm chiều khanh.


- Thần không muốn sử dụng ý chí của thần nữa. Bởi vì con người không bị ràng buộc vào một cái gì thì không có tự do, cũng như kẻ nào không hành động không phải là không còn tội lỗi. Chỉ có kẻ nào giúp đỡ người khác, từ bỏ ý chí của mình vì người khác, dốc hết sức mình vào công việc và làm việc không tra vấn gì mới là người tự do. Chỉ có một nửa hành vi mà chúng ta thực hiện là công trình thực sự của chúng ta - còn khởi đầu và kết thúc, nguyên nhân và kết quả đều tùy thuộc ở thần linh, xin bệ hạ giải thoát cho thần khỏi ý chí của thần - bởi vì ý muốn nào cũng là mơ hồ, sự trói buộc nào cũng là khôn ngoan - hãy cho thần cảm tạ ân huệ của bệ hạ, thưa đấng quân vương của thần!


- Trẫm không hiểu nổi khanh. Khanh bảo trẫm phải giải phóng cho khanh và đồng thời khanh lại xin được phục vụ. Như vậy kẻ tự do chỉ là kẻ vui lòng ở dưới quyền người khác, chứ không phải là kẻ ra lệnh? Trẫm không hiểu nổi khanh.


- Ồ, muôn tâu bệ hạ, trái tim của bệ hạ không hiểu nổi ngôn ngữ của kẻ hạ thần là điều hợp lẽ, bởi vì nếu bệ hạ hiểu thì làm sao mà bệ hạ vẫn làm vua và vẫn ra lệnh được?


Mặt đức vua sa sầm lại vì tức giận:


- Như vậy khanh cho rằng trước mặt Thượng đế, đấng chúa tể hèn kém hơn kẻ thần hạ ư?


- Muôn tâu bệ hạ, không có gì là sang hèn trước mặt Thượng đế cả. Kẻ nào chỉ biết giúp đỡ người và từ bỏ ý chí của mình không tra vấn điều gì, là kẻ đó trút bỏ được mọi tội lỗi và trả nó về với Thượng đế. Nhưng kẻ nào mong mỏi và tin rằng với sự tinh khôn, hắn sẽ có thể tránh được điều ác là kẻ đó rơi vào sự cám dỗ và tội lỗi.


Mặt đức vua vẫn sa sầm:


- Cứ theo cách lập luận đó thì trách nhiệm nào cũng như nhau và không có gì sang, cũng chẳng có gì hèn trước Thượng đế, cũng như trước loài người?


- Muôn tâu bệ hạ, rất có thể là chức vụ nào đó có vẻ cao quý hơn trước con mắt người đời, nhưng trước Thượng đế thì tất cả đều bình đẳng. Nhà vua nhìn Virata hồi lâu với vẻ buồn bực. Lòng kiêu hãnh lồng lộn dữ dội trong tâm hồn ngài. Nhưng đến khi nhận thấy khuôn mặt già nua của ông lão và mái tóc bạc phơ trên vầng trán nhăn nheo, ý nghĩ chợt đến với nhà vua là ông già đã lẫn cẫn trước tuổi, và để thử thách điều đó, nhà vua nói, vẻ tinh quái:


- Khanh có ưng thuận làm người giữ cũi chó trong cung điện của trẫm không?


Virata cúi mình và hôn bậc thềm tỏ lòng biết ơn.


*


*           *


Từ ngày hôm đó, ông già mà trước kia cả nước tôn kính gọi bằng bốn cái tên đức hạnh, làm cái công việc trông nom cũi chó nằm đối diện với cung đình và sống ở tầng hầm với bọn tôi tớ. Mấy người con trai của lão lấy làm xấu hổ vì lão, chúng hèn nhát đi vòng quanh nơi ở của lão để khỏi gặp lão và khỏi phải nhận quan hệ thân thích với lão trước mặt mọi người; các thầy tăng quay mặt đi không nhìn đến con người hèn hạ đó. Riêng có dân chúng, trong mấy ngày vẫn còn dừng lại và ngạc nhiên thấy người dẫn dắt bầy chó là con người trước kia đứng hàng đầu quốc gia, mà bây giờ làm tên đầy tớ. Nhưng vì ông lão không chú ý đến họ, họ nhanh chóng tản đi và cuối cùng, không còn nghĩ đến lão nữa.


Virata hết lòng làm tròn nhiệm vụ của mình từ lúc hửng sáng cho đến chiều tà. Lão rửa miệng cho lũ vật, kì cọ ghẻ lở cho chúng; cho chúng ăn, sửa soạn ổ nằm và dọn phân của chúng. Chẳng bao lâu đàn chó yêu quý lão hơn bất kỳ kẻ nào trong cung đình và lão lấy thế làm sung sướng. Cái miệng già nua nhăn nhúm của lão ít khi mở ra để nói với mọi người, lại luôn luôn nở nụ cười trước nỗi vui mừng của đàn chó. Lão sống rất êm đềm như thế trong nhiều năm dài không xảy ra chuyện gì lớn. Nhà vua băng hà trước lão, vua mới lên thay, không hề để ý đến lão và thậm chí, có hôm còn cầm gậy đánh lão vì một con chó đã gầm gừ khi vua đi qua. Và mọi người khác dần dà cũng quên khuấy là có lão trên đời.


Khi tuổi thọ của lão đã hết và lão chết, Virata bị vùi lấp trong chiếc hố bẩn thỉu, nơi người ta quẳng xác những kẻ đầy tớ; lúc ấy, trong dân chúng không còn ai tưởng nhớ tới con người mà xưa kia cả nước đã tôn vinh tặng cho danh hiệu của bốn cái tên đức hạnh. Lũ con trai lão lẩn tránh và không một thầy tăng nào hát khúc cầu hồn trước thi hài lão. Chỉ có đàn chó sủa gào lên hai ngày hai đêm, rồi cả chúng cũng quên Virata - ông lão Virata mà tên tuổi không hề được ghi trong biên niên sử của các vua chúa, cũng không hề được nhắc đến trong sách của các nhà hiền triết.


 


Nguồn: Bức thư của người đàn bà không quen. Tập truyện của Stefan Zweig. Dương Tường dịch. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học sắp xuất bản.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
Cái bẫy - Đỗ Trường Leipzig 11.08.2019
Ngoại tình tuổi 50 - Vũ Ngọc Tiến 30.07.2019
xem thêm »