tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29914583
Truyện ngắn
09.07.2009
Stefan Zweig
Cặp mắt người anh vĩnh cửu (5)

Ánh mắt của những người con đầy vẻ giận dữ và khó khăn lắm họ mới kìm nổi sự bất bình. Người con cả liền thốt lên:


- Cha đã nói là cha không muốn cưỡng ép ai phải theo ý cha. Cha không muốn ra lệnh cho bọn nô lệ để tránh lầm lỗi; nhưng đối với chúng con, cha áp đặt và làm thiệt hại đến đời sống của chúng con. Con hỏi cha, có phải đó là cách xử sự đúng đắn trước Thượng đế và trước con người hay không?


Virata im lặng một lúc lâu. Khi ngước mắt lên, ông trông thấy ngọn lửa của lòng tham trong cái nhìn của các con, và một cơn rùng mình khủng khiếp lan khắp tâm hồn ông. Rồi ông dịu dàng nói:


- Các con đã dạy cho ta điều ta phải làm. Ta sẽ không ép buộc các con. Các con hãy nhận lấy nhà cửa và chia nhau thế nào thì chia. Còn về ta, từ nay sẽ không dự phần sở hữu cũng như không dự phần lỗi lầm. Con đã nói đúng: kẻ nào ra lệnh thì kẻ đó biến người khác thành nô lệ và trước hết là làm cho tâm hồn mình bị nô lệ. Kẻ muốn sống không tội lỗi không nên dính líu đến đời sống gia đình, cũng không tham dự vào số phận người khác; kẻ đó không được sống bằng công sức của người khác; không được bòn rút mồ hôi của người khác, cũng không tự buộc mình vào khoái lạc của đàn bà và thói lười biếng do quá no đủ: phải sống đơn độc nếu muốn sống vì Thượng đế của mình, phải lao động để cảm nghiệm thấy Người và phải nghèo khó để có được Người trọn vẹn. Bởi chúng ta muốn gần đấng vô hình hơn gần gũi mảnh đất của riêng ta, ta muốn sống không tội lỗi. Hãy lấy nhà cửa và chia phần cho nhau một cách thuận hòa.


Virata quay mặt và bỏ đi. Các con trai ông đứng ngây ra tại chỗ, hết sức kinh ngạc; lòng tham được thỏa mãn bừng lên thành ngọn lửa khoái trá trong thể xác họ, nhưng trong tâm hồn, họ thấy hổ thẹn.


Virata giam mình trong phòng, không nghe mọi lời mời gọi, cũng chẳng nghe những lời khuyến dụ. Nhưng đến lúc mọi hình bóng đã chìm trong đêm tối, ông sửa soạn ra đi; ông mang một cây gậy, chiếc vỏ sò của kẻ hành hương, một chiếc rìu để lao động, một nhúm quả để ăn và những lá cọ có ghi những kinh sách của các đấng hiền minh để cầu nguyện. Ông xắn quần tới đầu gối và lặng lẽ rời khỏi nhà, không ngoái lại một lần cuối cùng nhìn vợ con và toàn bộ tài sản. Ông đi cả đêm, tới con sông mà ngày xưa, vào giờ phút cay đắng, lúc con người mới bừng tỉnh trong ông, ông đã buông rơi thanh gươm. Ông lội qua đoạn sông cạn và đi ngược ven theo bờ bên kia, nơi chưa có người ở và đất đai chưa biết đến đường cày.


Đến rạng đông, ông tới một nơi mà sét đã đánh xuống một cây xoài rất già gây ra một đám cháy và đã tạo nên một khoảng rừng thưa trong vùng rậm rạp. Dòng sông chảy qua đó uốn thành một khúc quanh mềm mại, và một bầy chim lượn trên vũng nước sà xuống uống nước một cách bình thản. Phía trước mặt là ánh sáng của dòng sông thoáng đạt và sau lưng là bóng rợp cây cối. Xung quanh còn sót lại những mảnh gỗ văng vãi vì trận sét đánh và những cành cây nhỏ bị gãy. Virata ngắm nhìn hồi lâu khoảng không gian hiu quạnh và trần trụi ở giữa rừng. Ông quyết định dựng một chiếc lán và sống tại đây, dồn hết tâm trí vào việc tham thiền nhập định, xa mọi người và xa mọi tội lỗi.


Phải mất năm ngày ông mới dựng xong lán, bởi vì bàn tay ông chưa quen làm lụng, và những ngày tiếp đó không phải là không vất vả, bởi vì ông phải kiếm quả để ăn, phải phát quang quanh lán đám cây rừng mọc lại rất nhanh, khai phá xung quanh một khoảng trống và rào lại bằng cọc nhọn để cho lũ hổ đói gầm thét trong bóng tối ban đêm không bén mảng lại gần. Nhưng không có sự huyên náo nào của thế nhân xâm phạm vào cuộc sống của ông và quấy đảo tâm hồn ông, thế rồi ngày tháng đời ông trôi đi êm ả như dòng nước sông nhẹ nhàng đổi mới nhờ một suối nguồn vô tận.


Chỉ có chim chóc thường xuyên lui tới, con người hiền hậu này không làm cho chúng sợ và chẳng bao lâu, chúng làm tổ trên căn lều của ông. Ông ném cho chúng hạt của những bông hoa lớn và quả của những cây có hạt. Không sợ hãi, chúng sà xuống với ông và không lẩn tránh bàn tay ông; chúng bay từ những cây cọ xuống khi Virata gọi và ông chơi đùa với chúng; chúng để ông vuốt ve một cách thân tình. Một lần, ông thấy ở trong rừng một con khỉ non bị gãy một chân nằm trên mặt đất kêu la như đứa trẻ. Ông đem nó về, nuôi nó cho đến khi nó trở nên tinh khôn và bắt chước mọi cử chỉ của ông một cách rất ngộ nghĩnh, hầu hạ ông như một gia nhân. Như vậy ông sống yên vui giữa đám loài vật xúm quanh ông. Nhưng ông vẫn biết rằng tính hung bạo cũng như điều xấu ác vẫn ẩn kín trong loài vật cũng như trong con người. Ông nhìn thấy những con cá sấu cắn lẫn nhau và đuổi nhau rất hung hăng, ông nhìn thấy những con chim dùng mỏ nhọn quắp cá dưới sông lên, rồi rắn lại bất chợt cuộn tròn lấy chim thắt cho chết ngạt: Ông thấy rằng sợi dây xích kinh khủng của sự hủy hoại mà vị nữ thần lòng đầy hằn thù quấn quanh khắp cõi trần là điều hiển nhiên như một đạo luật mà không ai có thể không thừa nhận. Nhưng thật là hạnh phúc nếu ta chỉ là người chứng kiến những cuộc đấu tranh đó mà bản thân ta không tham dự một cách tội lỗi vào chu kỳ ngày càng lan rộng của sự hủy hoại và sự giải thoát.


Một năm và nhiều tháng đã trôi qua mà ông không hề thấy một bóng người. Nhưng, một hôm, có một người đi săn dò theo dấu chân một con voi đi uống nước và thấy một cảnh tượng kỳ lạ hiện ra trước mắt anh ta ở phía bên kia sông. Ánh chiều tà vàng rượi chiếu xuống thân hình một ông lão râu tóc bạc phơ ngồi trước một căn lều tồi tàn; trên đầu ông già, lũ chim đậu một cách cực kỳ yên ổn; dưới chân ông, một con khỉ đang đập hạt dẻ vang vang; còn ông lão, mắt nhìn lên ngọn cây có những con vẹt lông xanh và nhiều màu sặc sỡ đang đu đưa, và khi thấy ông đột nhiên giơ tay lên, chúng liền sà xuống như những đám mây nạm vàng, vỗ cánh và đầu trên bàn tay ông. Người đi săn tưởng đâu trước mắt mình là vị thánh mà dân gian đã có lời báo trước về sự giáng trần của Ngài như sau: “Súc vật sẽ nói với Ngài bằng tiếng nói của loài người và hoa sẽ mọc dưới bước chân Ngài. Ngài sẽ có thể hái những vì sao bằng cặp môi và một hơi thở của Ngài sẽ có thể khiến mặt trăng đi chệch đường”. Anh chàng bỏ cuộc săn, vội vàng quay về nhà kể lại những điều đã nhìn thấy.


Thế là ngày hôm sau, từ bờ bên kia, những kẻ hiếu kỳ lũ lượt kéo tới xem cái việc lạ đời; số người đến xem và ngạc nhiên sửng sốt mỗi ngày một tăng, cho đến lúc một trong số bọn họ nhận ra Virata là người đã từ bỏ nhà cửa và cảnh giàu sang, vì lòng yêu công lý lớn lao và lâu nay đã bị xứ sở quên lãng.


Tin tức bay xa và truyền đến tai nhà vua đang vô cùng đau đớn vì sự thiếu vắng của Virata trung tín. Ngài cho đóng một chiếc thuyền với bốn lần bảy tay chèo rẽ sóng đi ngược dòng sông, cho tới lúc con thuyền cập bến nơi có căn lều của nhà ẩn dật. Lúc đó, thảm trải dưới chân vua, ngài bước tới trước mặt bậc hiền minh. Nhưng đã một năm và sáu tháng không có tiếng nói con người lọt vào tai Virata; ông đứng sững trước các vị khách, lưỡng lự và rụt rè, ông quên cả việc thi lễ mà người nô bộc phải thực hiện trước chủ mình và trước đấng quân vương, ông chỉ nói:


- Tạ ơn ngài đã tới, tâu đức vua của thần!


Nhà vua ôm lấy ông:


- Đã nhiều năm qua, trẫm biết con đường khanh đã chọn sẽ dẫn khanh tới sự chí thiện và trẫm đến đây chiêm ngưỡng cảnh tượng hiếm hoi, cảnh sống của bậc chính nhân, để từ đó rút ra một điều giáo huấn.


Virata nghiêng mình:


- Cái thuật của thần tựu chung lại chỉ ở chỗ thần đã làm mát thói quen chung sống với người đời, để rũ sạch mọi tội lỗi. Con người sống đơn chiếc chỉ có thể giáo huấn chính bản thân mình. Thần không biết rằng việc thần làm có phải là hiền minh hay không, điều thần cảm nhận được có phải là hạnh phúc hay không. Thần không thể dạy dỗ hay khuyên bảo ai cả. Sự hiền minh của kẻ sống đơn chiếc khác hẳn cái khôn ngoan của người đời, quy luật của trầm tư mặc tưởng không phải là quy luật của hành động.


- Nhưng được thấy một bậc chính nhân sống như thế nào chẳng phải là đã học được điều hay đó sao? - Đức vua đáp - Từ khi mắt trẫm nhìn thấy cặp mắt của khanh, trẫm cảm thấy một niềm vui hồn nhiên. Trẫm không đòi hỏi gì hơn nữa.


Virata lại nghiêng mình, nhà vua lại siết chặt ông trong vòng tay:


- Khanh có muốn trẫm ban cho khanh điều gì trong vương quốc của trẫm chăng, hoặc là có muốn nhắn gì cho thân nhân không?


- Chẳng còn gì là của thần nữa, muôn tâu bệ hạ, hay đúng hơn, tất cả trên thế gian này đều là của thần. Thần đã quên rằng xưa kia thần có một ngôi nhà trong số những ngôi nhà khác, và những đứa con trong số những đứa con khác. Người không có tổ quốc là có cả vũ trụ; người đã dứt bỏ tất cả của cải trên thế gian lại có cả cuộc sống trọn vẹn, người sống không tội lỗi thì được bình an. Thần chỉ có một ước muốn: sống không tội lỗi trên mặt đất.


- Vậy thì vĩnh biệt khanh và hãy nghĩ đến trẫm khi cầu nguyện.


- Thần nghĩ đến Thượng đế, như vậy là thần cũng nghĩ đến bệ hạ và đến tất cả mọi người sống trên trái đất này, vì mọi người đều là một phần của Thượng đế và mang trong mình hơi thở của Thượng đế.


Virata nghiêng mình. Thuyền nhà vua lướt xuôi dòng sông và trải qua nhiều kỳ trăng không hề có tiếng nói của con người vọng đến tai nhà ẩn sĩ.


*


*           *


Danh tiếng của Virata lại sải cánh bay trên đất nước như một con chim ưng trắng. Tin tức về con người đã rời bỏ nhà cửa và của cải để sống một cuộc đời hoàn toàn đắm chìm trong suy tưởng lan tới các làng xóm xa xôi nhất và truyền đến tận những túp lều ven bờ biển; và mọi người gọi con người sống trong niềm kính sợ Thượng đế ấy là “Ngôi sao của sự cô đơn”, để tôn vinh ông bằng cái danh hiệu thứ tư của đức hạnh. Những thầy tăng trong các đền thờ và nhà vua đứng trước thần hạ của mình thường ca tụng sự thoát tục của ông. Khi một vị pháp quan trong nước tuyên đọc một bản án, ông ta không quên thêm: “Cầu mong phán quyết của tôi cũng công minh như phán quyết của Virata hiện đang sống nơi Thượng đế và thấu triệt mọi điều uẩn khúc”.


Thế đó, một sự việc xảy ra nhiều lần, và mỗi năm một nhiều hơn: hễ người nào nhận thấy mình đã có những hành động bất công và ý thức được sự lầm lạc của đời mình, người đó liền rời bỏ nhà cửa và xứ sở, đi vào rừng để dựng một căn lều và sống với Thượng đế như Virata.


Bởi vì tấm gương là sợi dây ràng buộc mạnh mẽ nhất người với người trên trái đất; hành động của một cá nhân thức tỉnh ở người bên cạnh ý muốn hành động tương tự, đến mức người đó bừng tỉnh cơn mê và bắt đầu dùng ngày giờ của mình cho có ích. Những người được tấm gương của Virata làm cho tỉnh ngộ, nhận ra cái trống rỗng của đời mình; họ nhìn thấy máu ở tay và tội lỗi trong tâm hồn; vậy là họ thoát khỏi trạng thái mê muội và cũng như ông, họ bỏ vào rừng, dựng một căn lều biệt lập, không có mục đích gì khác ngoài việc giải quyết những nhu cầu đơn giản nhất của cơ thể và hiến mình cho cõi vô cùng của sự cầu nguyện. Khi đi hái quả họ gặp nhau, họ không nói với nhau một lời, để tránh tạo nên những quan hệ mới, nhưng mắt họ mỉm cười thân thiện và tâm hồn họ đem đến cho nhau sự bằng an. Dân chúng gọi khu rừng này là nơi ẩn dật của lòng sùng đạo. Và không một kẻ đi săn nào vào khu rừng rậm đó, để tránh làm hoen ố tính thánh thiện của nơi này bởi sự sát sinh.


Thế rồi, một buổi sáng đi ra rừng, Virata chợt thấy một trong số những nhà ẩn dật nằm dài bất động trên mặt đất. Khi cúi xuống để nâng người đó lên, ông nhận thấy đó là một cái xác không hồn. Virata vuốt mắt cho người chết, đọc một bài kinh cầu nguyện và thử gắng sức vác cái di hài của một tâm hồn này ra khỏi khu rừng rậm, để dựng lên cho người đó một dàn thiêu, giúp cho thi thể người anh em này trong sạch bước sang kiếp khác. Nhưng cánh tay không mang nổi vì ông ăn uống kham khổ, chỉ bằng hoa quả, nên đã không còn hơi sức. Ông đành lội qua khúc sông cạn sang làng bên, cầu xin giúp đỡ.


Khi trông thấy ông già cao quý được mệnh danh là “Ngôi sao của sự cô đơn” đi trên đường làng, những người dân cung kính đón ông để nhận lệnh ông truyền, rồi lập tức họ đi hạ cây cối và hỏa táng người chết.


Nơi nào Virata đi qua, phụ nữ cúi chào, trẻ em dừng lại nhìn theo bằng con mắt ngạc nhiên; ông lặng lẽ đi và nhiều người đàn ông ra khỏi nhà để hôn lên áo quần của vị khách danh tiếng và nhận sự ban phước của bậc thánh nhân... Virata mỉm cười đi qua đám người nhân hậu đó và cảm thấy bây giờ ông lại có thể yêu mến mọi người bằng một tình yêu sâu xa và trong sạch biết bao, kể từ khi ông không còn gắn bó với họ nữa.


Nhưng khi đi qua trước căn nhà cuối cùng trong làng, cũng là ngôi nhà thấp nhất, giữa lúc nơi nào ông cũng hoan hỉ đáp lại lời chào đáng yêu của những người lạ gần ông, ông thấy đôi mắt một người phụ nữ đầy vẻ căm thù hướng về ông. Ông kinh hãi lùi lại vì hình như ông thấy lại cặp mắt sững sờ của người anh đã bị ông giết, cặp mắt đã bị quên lãng từ nhiều năm. Ông đột ngột lùi lại, tâm hồn ông đã quá xa lạ với mọi sự oán thù từ khi ông sống biệt tịch. Ông tự nhủ có lẽ mắt ông đã trông lầm. Nhưng cái nhìn trừng trừng u uất đó vẫn không rời khỏi ông. Khi bình tâm, ông định bước lại ngôi nhà đó thì người đàn bà đã hằn học quay vào hành lang; mặc dầu trong hành lang sâu và tối mà ông vẫn còn cảm thấy tia nóng bỏng của cái nhìn đó đè nặng lên ông, hệt như con mắt hổ trong cái yên lặng ảm đạm của khu rừng già.


Virata quyết định dứt khoát: “Làm sao ta có thể phạm tội đối với một người đàn bà mà ta không quen, mà vẻ hằn thù lại nhắm vào ta? - Ông nghĩ bụng - Hẳn đây là sự nhầm lẫn. Ta muốn làm cho rõ điều này, ông lặng lẽ đi tới căn nhà và gõ cửa bằng những ngón tay xương xẩu. Chỉ có tiếng gỗ vang vang đáp lại, tuy nhiên, ông vẫn cảm thấy sự thù địch của người đàn bà xa lạ ở ngay đâu đó. Ông kiên nhẫn tiếp tục gõ, chờ một lát rồi gõ tiếp, như một kẻ hành khất. Cuối cùng, sau một hồi do dự, người đàn bà xuất hiện, cái nhìn tăm tối và đầy hận thù xoáy vào ông:


- Ông cần gì ở tôi? - Bà ta nói một cách đanh đá.


Và ông nhận thấy bà ta phải dựa vào khung cửa vì cơn giận đang lồng lộn trong người.


Nhưng Virata không đáp: ông chỉ nhìn tận mặt bà ta và lòng ông nhẹ hẳn đi, bởi vì ông chắc chắn là trước đây chưa hề gặp người đàn bà này bao giờ. Bà ta còn trẻ, và ông đã từ bỏ con đường của người đời từ nhiều năm nay, chưa bao giờ ông có thể gặp được người đàn bà này trong cuộc đời mình, và ông cũng không thể làm điều gì có hại cho bà ta.


- Tôi muốn đem lại cho bà sự cứu chuộc và bằng an, hỡi người đàn bà xa lạ! - Cuối cùng Virata nói - Và xin hỏi, vì sao bà nhìn tôi một cách giận dữ như vậy. Liệu có phải là ngẫu nhiên tôi làm cho bà thù ghét, tôi đã làm điều gì có hại cho bà?


- Ông đã làm gì cho tôi ư? - Và một nụ cười độc ác khiến cho miệng bà ta nhệch đi - Ông đã làm gì cho tôi ư? Hầu như chẳng làm gì hết, một điều chẳng đáng là bao: Nhà tôi đang đông đúc và ông đã làm cho nó thành hoang tàn; ông đã cướp đi cái thân thiết nhất của tôi trên cõi đời này và ông đã làm cho tôi sống cũng như là chết. Ông hãy cút đi để tôi khỏi nhìn thấy mặt ông nữa, nếu không tôi sẽ không thể nén được cơn giận của tôi lâu hơn.


(còn tiếp)


Nguồn: Bức thư của người đàn bà không quen. Tập truyện của Stefan Zweig. Dương Tường dịch. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Vũ nữ Ba Lê - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người đàn bà xấu nhất hành tinh - Olga Tokarczuk 15.10.2019
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
xem thêm »