tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30223986
04.10.2008
Triệu Xuân
Xuân 1975 - Đất Quảng

I.                     TỪ TRONG MÁU LỬA VÙNG LÊN


 


Buổi sáng.


Mưa xuân.


Tôi đi trong những cơn mưa cuối cùng còn vương lại trên đồng lúa. Gió từ mặt sông Thu Bồn tràn lên, lan tỏa khắp xóm làng đồng ruộng vùng giải phóng. Không biết có nơi nào trên trái đất này sức sống lại mãnh liệt đến thế. Mới qua chưa đầy một mùa xuân, mà mảnh đất tôi đang đứng đây đã thay đổi quá nhiều. Một màu xanh kỳ lạ, màu xanh của sự sống chứ không phải màu xanh hoang dại của những bãi cỏ tranh ngút ngàn năm xưa đang ôm tỏa vùng giải phóng. Những gì đã qua đi đều thuộc về dĩ vãng. Nhưng không một dĩ vãng nào không còn lưu dấu vết trong hiện tại. Trên mảnh đất mà mùa xuân cùng hương sắc của nó đang lung linh, xao động lòng người như ở đây, mọi cảnh vật đều gợi nhớ những năm tháng không thể nào quên của cuộc chiến đấu.


Nếu tôi là một họa sĩ, tôi sẽ minh họa cho những năm tháng đã qua bằng hai mảng màu thể hiện máu và lửa. Dường như cả hai mảng màu đó đều hòa hợp gắn bó với nhau. Bởi cả hai mảng màu đó đều là một lời tố cáo đanh thép lũ quỉ sát nhân thời đại. Những ngày qua là những ngày của máu và lửa. Máu lửa của tội ác kẻ thù và máu lửa của lòng căm thù thiêu đốt quân xâm lược.


Một thửa ruộng xanh rờn nhưng có quá nhiều vết lõm. Đó là những hố bom của quân thù đã khoét vào lòng đất. Con người đã hàn gắn cho cả những vết thương của đất. Công cụ của lũ giết người là những phương tiện hiện đại, còn công cụ của những người xây đời lại bắt đầu từ những cái thô sơ nhất của thời tiền sử. Hãy trông các nam nữ thanh niên đang san lấp hố bom trên thung lũng Quế Sơn. Họ làm việc bằng tất cả sức lực và tình cảm của mình với hai bàn tay và lưỡi cuốc đã cùn, sứt mẻ vì trải qua bao năm chiến tranh. Quân thù đến hủy diệt con người. Nhưng nó còn nham hiểm hơn: Hủy diệt tất cả những gì giúp con người làm lại sự sống, để nếu ai còn sống sót cũng đành bó tay chịu chết. Cái lô gích của kẻ thù là như vậy. Ở những làng trong thung lũng có cái tên rất đẹp mà tôi đã đi qua: thung lũng Quế Sơn, hồi mới giải phóng có nơi không còn một lưỡi cày lưỡi cuốc hay một con dao. Ở những làng ven sông Thu Bồn, có nơi không còn một cái chén lành, một cái nồi nào để nấu ăn.


Kể làm sao cho hết được sự tàn bạo dã man của kẻ thù trong những năm qua. Nhất là khi từng giờ từng phút, màu xanh đang trùm lên tất cả. Màu xanh sự sống xóa đi dấu vết của tang tóc đổ vỡ. Trước căn nhà tranh nhỏ bé của gia đình ông An ở ngay chân đèo Răm, có sáu nấm mồ xếp lớp trong vườn. Quanh sáu nầm mồ đó là hơn chục cây mít to bự, cháy xém đều cụt ngọn. Cây bị cháy một nửa, nửa còn lại vẫn đâm cành nảy lá sum suê, vẫn kết quả ngọt, quả thơm cho người. Chỉ còn hai bố con ông già sống trong căn nhà đó. Ông An năm nay năm mươi bốn tuổi và đứa con gái lên bảy tuổi tên Bình, đang học lớp hai. An - Bình, tên của hai bố con chính là nguyện vọng tha thiết của đời sống con người. Vợ ông và năm người con đã bị kẻ thù giết chết trong vòng sáu tháng trời. Tang tóc đến với gia đình đều đặn như mỗi tháng trăng tròn một lần, để lại những tuần tang, những ngày chụp mả, những ngày giỗ nối nhau tưởng như không bao giờ ngớt. Kẻ thù muốn như vậy, chúng buộc ông phải rời đất mẹ, chui vào sống trong khu dồn1, dưới ách kìm kẹp của chúng. Ông An vẫn kiên gan bám trụ cùng với mảnh đất đó. Trong thửa vườn có sáu nấm mộ vợ và con, ông đã trồng lên nào mía, thơm, chuối, đu đủ và cả một luống hoa nữa. Ông đã nuôi cái chồi non còn sót lại nên người. Bé Bình, đứa con út ra đời được hai ngày thì mẹ em bị một tên Mỹ cắt cổ. Nay Bình đã lớn khôn, hàng ngày khăn đỏ tung tăng cắp sách tới trường. Từ góc sân nhỏ trước nhà, Bình cùng các bạn hò hát vui chơi sau những giờ học tập. Những trò chơi và tiếng nói ríu rít như chim của con trẻ đã làm dịu phần nào vết thương lòng của ông An. Hãy nhìn các em tập múa, tập diễn kịch. Bình còn tập làm cô giáo nữa. Em gái nhỏ có ánh mắt lấp lánh thông minh ấy, cùng các bạn em đang kế thừa thành quả mà cha ông đem lại. Ông An sống với con mà không hề cô độc. Bởi quanh ông có đàn chim non ríu rít, có cả xóm làng, bà con tắt lửa tối đèn có nhau. Những người đã khuất chắc cũng yên lòng dưới suối vàng, vì ở trên đời, người thân của họ vẫn sống vững vàng và yêu đời tha thiết.


Trên doi đất nhô ra sông Thu Bồn, cách cụm cứ điểm Nông Sơn không đầy hai giờ đi thuyền, cách đây năm mùa xuân, bọn đánh thuê Nam Triều Tiên đã bắt hàng chục người toàn phụ nữ, cụ già và con nít trong làng xếp thành một hàng, rồi dùng tiểu liên bắn chết. Cùng ngày đó, đài phát thanh Sài Gòn, một thứ tiếng nói của loài thú, đưa tin: "Quân đội đồng minh trong một trận đọ súng ở cách Tây nam Đà Nẵng 65 kilômét đã bắn hạ một đại đội Việt cộng". Xác hàng chục người đã ngã xuống sông Thu, trôi trên dòng sông Thu... Nước sông Thu Bồn vốn rất xanh đã biến thành màu đỏ trong những ngày kẻ thù "bình định". Mảnh đất quê hương dường như cũng đổi màu. "Đất Quảng Nam chưa mưa đã thấm" đã thấm nhiều máu đỏ của người dân đất Quảng. Máu con người đã nhuộm đỏ dòng sông, mảnh đất quê mình. Rồi kẻ thù sẽ phải trả nợ máu!


Chơi với lửa sẽ chết vì lửa. Giặc muốn ta tàn lụi, nhưng chính giặc đã phải tàn lụi. Những năm đã qua, bầu trời luôn luôn mất đi màu xanh tươi đẹp của nó. Khói lửa cuồn cuộn từ mặt đất bốc lên che kín trời xanh. Giặc đốt nhà, đốt cháy màu xanh cuộc sống. Lửa khói từ những căn nhà, lửa khói của những cánh rừng đại ngàn bị bom xăng, bom napan thiêu hủy. Lửa khói của những trái bom đủ loại rơi thường xuyên, ngày càng dữ dội. Liệu con người có còn tồn tại được không? Sức mạnh của sắt thép hay sức mạnh của lòng người sẽ thắng? Lại còn phương pháp hủy diệt không gây tiếng nổ, không gây lửa khói. Hãy nhìn những cánh rừng bị chất độc hóa học hủy diệt. Một thứ bột trắng như sữa đã hủy diệt năm mươi phần trăm diện tích rừng miền Trung. Nơi bị bom đạn hủy diệt, chỉ sau mấy tháng, có khi chỉ vài tuần, chồi non lại bật lên. Còn ở những nơi bị chất độc khai quang, phải hàng chục năm màu xanh mới trở lại được. Có đi trên những cánh rừng hàng ngày trời không thấy một cái gì khác ngoài đất và nắng chói chang, hàng ngày trời không nghe một tiếng chim - vì còn cây đâu mà chim đậu, mới thấy hết được sự tàn bạo của kẻ thù.


Trên miền đất vô cùng giàu có của các huyện Điện Bàn, Hòa Vang, Đại Lộc, Duy Xuyên, trên miền đất mỡ của các huyện Quế Sơn, Thăng Bình... những dải đất của miền Trung đẹp và thơ ấy đã phải hứng chịu hàng chục vạn tấn bom đạn của quân thù. Khúc ruột miền Trung, chiếc đòn gánh, gánh hai đầu Nam Bắc, cái xương sống mãnh liệt và vĩ đại của dải Trường Sơn đó vẫn sừng sững hiên ngang cùng với con người.


Kẻ thù không thực hiện được âm mưu của nó. Trong các trận đánh gần đây, nhiều tên ác ôn từ thời Ngô Đình Diệm đã phải đền tội. Những con vật người đã từng ăn gan hàng trăm người, từng cắt cổ hàng trăm phụ nữ sau khi hủy hoại trinh tiết của họ - đã bị trừng trị. Hàng vạn quân xâm lược Mỹ cùng lũ đánh thuê đã vùi xác trên đất này. Ở Việt Nam ai mà không biết tên anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Võ Như Hưng và biết bao anh hùng vô danh khác đã nêu tấm gương sáng chói cho phẩm giá con người. Em Tám ở Thăng Bình thà để giặc mổ bụng, cắt tai, chứ quyết không khai nơi cán bộ ở. Chị Tư ở Quế Sơn bị giặc chặt đầu cả hai đứa con, vẫn không "ly khai" cách mạng. Má Năm ở Điện Bàn bị giặc tra tấn đến chết vẫn tìm cách cứu bộ đội giải phóng, rồi tung lựu đạn giết hàng chục tên giặc. Hơn một lẽ sống còn là nhân phẩm bị chà đạp. Hàng ngàn, hàng vạn người đã hy sinh trong bao năm quyết giữ lấy nhân phẩm của mình.


Từ trong máu lửa, con người được tôi luyện và trở nên vô địch. Giống như trong câu chuyện cổ xa xưa, con phượng hoàng bị đốt cháy lại hóa thân con chim đẹp gấp trăm lần. Từ mối thù Chợ Được, Vĩnh Trinh, từ trong máu lửa vùng lên, người dân xứ Quảng đã hóa anh hùng. Con người đã hóa thân cho dáng hình xứ sở, giữ lấy đất nước muôn đời rạng rỡ. Vì cuộc sống độc lập, tự do, vì một lẽ sống cao cả, người dân xứ Quảng đã quyết sống mái với kẻ thù năm này qua năm khác, hết đời cha đến đời con, đời cháu:


Lớp cha trước, lớp con sau,


Đã thành đồng chí chung câu quân hành.


Ơi những người con gái anh hùng, trung thành mà hiền dịu. Còn gì đáng ca ngợi hơn các mẹ, các chị, các em của chúng ta. Trong cuộc chiến đấu này, họ là những người chịu đựng nhiều hy sinh nhất. Người phụ nữ gánh chịu tất cả để chúng ta được rảnh rang giết giặc. Họ còn là những người lính dũng cảm. Nhiều em gái tuổi đời mười tám, đôi mươi mà đã dám đánh hàng trăm trận. Nhiều bà mẹ đã hy sinh tất cả những gì cao quí nhất để bảo vệ cách mạng. Cùng với dân tộc và thời đại, người phụ nữ đã sánh bước đi tới đỉnh cao của anh hùng với vẻ đẹp tuyệt vời.


Năm tháng sẽ qua đi. Bằng sức mạnh của ý chí và tình yêu cuộc sống, con người đã chiến thắng các thế lực bạo tàn. Từ trong máu lửa vùng lên, con người đã đem lại màu xanh yên bình, thơ mộng cho cuộc đời. Dòng sông Thu mải miết chảy về xuôi, sẽ còn thủ thỉ muôn đời, kể với thời gian những ngày chiến đấu cực kỳ gian khổ. Nước sông Thu xanh biếc một màu đã cùng với con người tưới cho màu xanh trỗi dậy.


Sức mạnh từ lòng người. Sức mạnh từ lòng đất. Tất cả đã chắp cánh cho màu xanh, cho cuộc sống. Đi trên đất giải phóng hôm nay, trong hương sắc mùa xuân, ta thấy màu xanh đang giăng trải mênh mông, màu xanh của sự sống, màu xanh trỗi lên từ trong máu lửa bạo tàn.


II. DÒNG SÔNG VÀ CON NGƯỜI


Trong ánh nắng đầu xuân, cả vùng giải phóng miền Trung bừng lên sức sống mới. Hãy lắng nghe những âm thanh sôi động ở khắp nơi, nghe rừng núi đang chuyển mình, đồng bằng đang vươn lên trong màu xanh lúa khoai dậy thì mơn mởn. Biển ở Hội An hôm nay đẹp lắm. Còn gì sung sướng tự hào hơn được đi lại tự do trên đất quê hương. Câu hò xứ Quảng vô cùng quen thuộc vang lên trên những xóm làng bình yên đang bừng bừng khởi sắc:


Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm,


Rượu hồng đào chưa ngấm đà say...


Khó mà nói hết được không khí sôi nổi trong ngày đầu xuân này. Hương xuân, hương đời hay men hồng đào mà làm say người đến thế? Ở đây dường như không có sự nghỉ ngơi. Có một cái gì đầy náo nức lắm, thôi thúc mọi người. Có biết bao nhiêu công việc cần làm, biết bao công việc cho mai sau cần dự tính, chuẩn bị trong hôm nay. Trời của ta, sông nước của ta tất cả. Phải gắng sức làm lại từ đầu để gây dựng nên non sông gấm vóc. Vừa là quyết tâm, vừa là nguyện vọng, tình cảm của mỗi người.


Sông Thu Bồn mang trong mình nó bao phù sa bồi đắp cho đất quê hương. Dòng sông và con người, tuy hai mà một. Bởi chính con người đã chinh phục sông nước, làm nên của cải cho đời. Bắt đầu từ một dòng sông mà đất đai bờ cõi hình thành. Trải qua bốn ngàn năm đấu tranh bảo vệ bờ cõi, sông nước vẫn kiên trung cùng người chia sẻ buồn vui, ấm no, ác liệt. Tôi nhớ đến câu thơ của một anh bạn, hết lời ca ngợi dòng sông yêu dấu của quê hương mình:


Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu,


Mà khi về đất nước mình thì bắt lên câu hát.


Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác


Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi...


Dòng sông chứng kiến những cảnh đau thương năm xưa, bây giờ hối hả đón chào những ngày thay đổi lớn. Trên sông nước Thu Bồn hôm nay, từng đoàn thuyền máy, xuồng ghe chở hàng, đánh cá rộn ràng. Mặt sông không lúc nào yên, bởi lòng người và cuộc sống đang náo nức khẩn trương. Thuyền đang trôi đến ngã ba sông, ngước lên Hòn Kẽm, Đá Dừng, lòng ta bỗng lâng lâng: Ôi núi sông đất nước sao mà hùng vĩ thế. Ngày xưa trong cảnh buồn thương tiếng hát cất lên nghe mà xót xa:


Ngó lên Hòn Kẽm, Đá Dừng,


Thương cha nhớ mẹ quá chừng bậu ơi...


Câu hát năm xưa đã đi về dĩ vãng. Hôm nay trên dòng sông ấy chỉ có tiếng hát yêu đời, tha thiết với cuộc sống, hăng say lao động dựng xây. Một đoàn thuyền chở lúa giống vừa qua đây, từng tốp nam nữ thanh niên cười nói, hát vang cả khúc sông. Lớp trẻ rất tự tin, họ biết sức mình sẽ làm nên tất cả. Giống lúa của cách mạng đang được nhân lên trên khắp ruộng đồng, gò bãi.


Theo các dòng sông, những lo toan của cách mạng đã đến muôn nhà, đến từng ngõ nhỏ vườn hoang. Những ngày dân mới bung về làng cũ, công việc đầu tiên là ổn định nơi ăn chốn ở cho mọi người. Chính quyền cách mạng đã tổ chức cho hàng vạn người bước vào cuộc sống mới. Mặc dù còn nhiều gian khổ thiếu thốn, đất nước vẫn còn kẻ thù, song vùng giải phóng vẫn đi lên với khí thế vững vàng của bao năm trường chiến đấu hy sinh. Hãy nhìn những đoàn quân tiến về phía cánh đồng cỏ cao lút đầu người. Trở về làng cũ là niềm hạnh phúc lớn nhất. Hơn ai hết, người dân xứ Quảng thiết tha với ruộng đồng của mình. Hôm trước phá banh ấp chiến lược trở về, ngày hôm sau ra đồng phát cỏ. Cách mạng lo từ lưỡi cuốc, lưỡi rựa cho dân tiến quân vào đồng hoang đẩy lùi cỏ dại. Đứng trên đỉnh đèo Le, tôi nhìn thấy khói từ thung lũng Quế Sơn cuồn cuộn bốc lên. Cũng là lửa khói, nhưng đây là khói lửa của hòa bình, khói lửa của vun trồng sự sống. Phát cỏ tranh, đốt cỏ tranh để máy cày cách mạng về lật đất lên. Có phải chính tình yêu cuộc sống, tình yêu quê hương đã khiến người ta say mê lao động đến thế.


Không một thế lực nào có thể ngăn nổi bàn tay xây dựng cuộc đời. Sức người quả là vô hạn. Chỉ trong một thời gian ngắn, toàn bộ vùng giải phóng đã đi vào sản xuất. Cỏ tranh trở nên khan hiếm bởi ruộng đồng nương rẫy cứ vươn rộng ra. Trong các xã giải phóng, cho đến nay, mỗi nhân khẩu đã làm được ba sào trồng cấy. Màu xanh của lúa, của bắp, của khoai mơn mởn khắp nơi, từ đèo Răm đến đèo Le, từ bờ sông Thu Bồn đến bờ sông Vu Gia. Những thửa ruộng được cày bừa kỹ, lúa lên xanh trông như những bức tranh đầy sức lôi cuốn lòng người. Người ta phá đi những bãi cỏ tranh, như bóc đi từng mảnh da thịt lở loét trên mình. Mới ngày nào dây thép gai còn vây kín từng thôn, dây thép gai nhiều hơn đồng lúa, giăng đầy thôn xóm như ken vào lòng ta nhức nhối. Bây giờ xã nọ nối xã kia bằng những con đường lớn. Bà con nông dân đi trên con đường lớn đó để làm ăn. Ơi bác nông dân đang vất vả trên đồng ruộng, chắc bác suy nghĩ nhiều lắm trên luống đất của mình. Bởi thế cho nên từ bao năm nay bác đã dũng cảm bám lấy mảnh đất ấy: "Một tấc không đi, một ly không rời". Bác đã động viên con cháu lên đường cầm súng giết giặc. Bác vô cùng sung sướng khi được hòa cùng xóm làng làm ăn tập thể. Sức một người có hạn, nhưng sức muôn người thì không khó khăn nào ngăn cản được.


Tôi đang bước đi trên con đường có nhiều ô tô chạy qua. Đây là đoàn xe của cách mạng chở hàng hóa cho bà con vùng giải phóng. Tiếng còi xe lanh lảnh như tiếng reo vui trong lòng người. Ở một chợ gần vùng ngụy quyền kiểm soát, khách mua hàng có thể mua bất cứ thứ gì mình cần. Hàng hóa ở vùng giải phóng phong phú lắm. Từ các hàng tiêu dùng như vải, lụa, len dạ, đến các loại văn hóa phẩm. Từ các mặt hàng lương thực như gạo, khoai sắn, bắp đậu đến rau tươi, cá thịt các loại và cả những đặc sản miền núi như mật ong, măng, nấm, mộc nhĩ... Phiên chợ Xuyên Trà sáng ngày 25 tháng 12 năm 1974 đông tới cả ngàn người. Thật là thú vị, khi địch âm mưu bao vây phong tỏa kinh tế vùng giải phóng thì ngay sát vùng chúng kiểm soát, chợ giải phóng vẫn họp đông vui, có đủ các mặt hàng. Mặc dù địch kìm kẹp dã man, bà con trong vùng địch vẫn đi chợ giải phóng.


Niềm vui và tính ưu việt của vùng giải phóng đã từ phiên chợ đó theo về các khu dồn, các trại tập trung, thôi thúc bà con vùng lên tháo cũi, sổ lồng.


Ở những bệnh viện trong vùng giải phóng, mọi người đều được chữa bệnh không mất tiền. Riêng điều đó thôi cũng đủ nói lên tính ưu việt của cách mạng. Các bệnh xá được mở rộng đến tận các thôn xã. Hình ảnh các nữ y tá, bác sĩ đi phục vụ bà con từng xóm từng nhà, nói lên nhiều điều lắm.


Cũng là tiếng học bài của trẻ thơ, nhưng tiếng trẻ học bài trong vùng giải phóng nghe mới cảm động làm sao. Ngày nào các em còn phải chịu đói khổ, đau thương, bây giờ đã tung tăng cắp sách đến trường. Buổi sáng, cùng với tiếng chim hót là tiếng các em ríu rít học bài. Con chim nào đang nhảy nhót trong lòng ta? Đàn chim nào đang ca hát trong vùng giải phóng? Trẻ thơ là những búp măng non. Những búp măng non trỗi lên từ những lũy tre bị bom cháy xém bao giờ cũng mọc thẳng và nhọn như chông. Tiếng hát các em thơ còn hòa với nhịp điệu sôi nổi của vùng giải phóng. Trong tiếng hát ấy, tôi nghe thấy sự vang xa của bao dự cảm ngày mai và cái lắng đọng của những năm tháng đã qua. Công việc đào tạo thế hệ mai sau vô cùng cần thiết. Cùng với việc xây dựng làng xóm, bà con ta luôn luôn chú ý xây dựng lớp người mới cho non sông.


Ơi những cánh đồng màu xanh đang khởi sắc. Đang nghĩ gì, ơi em gái trên đồng xanh? Có phải bao năm tháng gian lao đã tôi luyện cho em dáng đứng thẳng trụ bám xóm làng! Những niềm vui của em đã phải đổi bằng bao máu xương thân thuộc. Cùng với thời gian, những mất mát đau thương sẽ được hàn gắn. Cuộc sống mới sẽ làm dịu đi bao vết thương lòng. Con người mãi mãi được sống bên dòng sông thân yêu.


Dọc theo các triền sông là xóm làng trù phú của ta. "Đất lành chim đậu". Đất quê ta mênh mông và dịu lành nên chim bay về đây ca hót, reo vui trên ruộng đồng giải phóng bát ngát. Ở ven sông Thu Bồn, nơi có những vườn cam, mít, cau, dừa um tùm gần Nông Sơn, Trung Phước, giọng bài chòi nào đó vang lên lanh lảnh trên cánh đồng. Người dân xứ Quảng biết bao tự hào về quê hương mình. Trong gian khổ ác liệt của cuộc chiến tranh vệ quốc, con người ngày càng đanh lại, bám chắc mảnh đất như giữ con ngươi của mình. Hố bom được san lấp; khu dồn, bãi mìn được phá banh; các đồn bót, chốt điểm được quét sạch. Và ngay trên mảnh đất đó, sức sống đã bật dậy.


Sức sống kỳ lạ đang trỗi dậy mãnh liệt trên mảnh đất này. Trên con đường lớn đi tới ngày mai, còn biết bao khó khăn gian khổ. Đất nước vẫn còn giặc. Nhưng có hề chi: Đạp lên gian khó mà đi. "Thế ta là thế đứng trên đầu thù". Hương sắc mùa xuân đang dậy lên trên đất giải phóng. Nhịp điệu lao động sôi nổi, khẩn trương làm lòng tôi vô cùng xúc động. Càng yêu đất nước quê hương bao nhiêu, ta càng trân trọng những thay đổi dù nhỏ nhất. Những ngày đầu năm này, mạng lưới truyền thanh của huyện Đại Lộc đã được kéo dài hàng chục cây số. Các trường phổ thông được xây dựng thêm ở huyện Quế Sơn. Một bệnh viện qui mô lớn đang được xây dựng ở Quảng Đà. Mỗi đổi thay dù nhỏ nhất đều nói lên những đổi mới trong lòng người.


Tiếng hát thiết tha, duyên dáng của các cô gái trẻ chèo thuyền trên sông Thu Bồn đang ngân xa, vang xa... Tiếng hát ấy chính là sức sống mãnh liệt của quê hương.


III. NHỮNG GƯƠNG MẶT, NHỮNG NỤ CƯỜI


Bắt đầu từ những nụ cười, người ta đã làm nên tất cả. Người dân đất Quảng cũng đi từ những nụ cười khi trở về vùng giải phóng. Cho dù trên gương mặt còn hằn sâu những nỗi đắng cay, đau xót do tội ác của quân thù, nhưng nụ cười đã rạng rỡ trên môi. Tôi đã chứng kiến nhiều lần cảnh bà con phá khu dồn trở về làng cũ ở một xã vùng cát huyện Điện Bàn. Bà con đã phá banh khu dồn trong một đêm, dỡ nhà, chuyển tài sản về đất cũ bất chấp sự khủng bố của kẻ thù. Nhiều gia đình đang dỡ nhà thì giặc đến nổ súng, bà con đã không ngần ngại đốt nhà để trở về quê cũ. Trong ánh lửa thiêu cháy căn nhà của bà con, tôi nhìn thấy những nụ cười rạng rỡ trên gương mặt quá nhiều khổ đau, tang tóc. Nụ cười của người được giải phóng.


Trên nền đất cũ, từ hai bàn tay trắng, tất cả được gây dựng lại. Bắt đầu từ những nụ cười, chỉ trong một thời gian ngắn, hàng trăm gia đình ở Nông Sơn, Trung Phước mới bung về đã có nhà ở, có gạo ăn, có ruộng vườn trồng cấy. Nụ cười ngày càng rạng rỡ trên gương mặt mọi người. Nụ cười ấy là sức mạnh. Nụ cười ấy là chiến thắng. Tôi biết có nhiều nhà văn nước ngoài đã ca ngợi nụ cười của người Việt Nam chúng ta. Họ nhìn thấy trong nụ cười ấy ẩn tàng một sức mạnh khôn cùng.


Đứng trên mảnh đất Sơn Phước hôm nay, ta không khỏi ngỡ ngàng vì mới chỉ cách đây có bốn tháng, nơi đây còn là một vùng đất hoang cỏ mọc um tùm. Đêm đêm chỉ nghe tiếng rên rỉ rả rích của côn trùng. Hàng ngàn người dân sống trên dải đất màu mỡ ven dòng sông này đã bị dồn xúc vào các trại tập trung. Khi cứ điểm Nông Sơn, Trung Phước bị san bằng, tất cả trỗi dậy phá tan ách kìm kẹp của giặc, trở về quê hương. Ngôi nhà tranh cao ráo được dựng lại ngay trên nền cũ. Đồng hoang bị lấn dần, ruộng lúa cứ trải rộng mãi ra. Đất phù sa dường như đã chờ người từ lâu lắm.


Bây giờ dưới bàn tay cần cù làm lụng của bà con, lúa màu lên nhanh như thổi. Ở những gia đình trong thôn Phú Gia, mỗi người làm được ba sào ruộng. Chỉ trong hai vụ nữa, mọi người sẽ có của ăn, của để. Bao tiên cảm lớn lao đã hiện lên trên cánh đồng này. Nhìn ruộng lúa xanh gọn gàng, bờ xén sạch sẽ, ta thấy niềm vui cứ rộn lên. Từ chỗ cỏ hoang bao trùm tất cả, sức người đã làm cho lúa màu làm chủ đất đai. Ngày xưa bà con ta đã đổ máu để giữ lấy đất quê hương, bây giờ lại đổ mồ hôi để vun trồng mảnh đất đó. Đất đã không phụ công người và lòng người càng thêm thiết tha với đất.


Nói sao cho hết những niềm vui đang rộn rã nơi đây. Niềm vui lớn của một vùng giải phóng toát lên từ cái vẻ ồn ào của một phiên chợ, cái ríu rít của một trường học hay sự yên tĩnh của một bệnh viện. Tôi đã sống với anh em công nhân trong một trạm lái máy kéo của huyện. Đa số các anh là người địa phương vừa tốt nghiệp trường kỹ thuật của Khu V. Còn gì sung sướng hơn được lái máy cày ngay trên đồng ruộng quê mình. Đã bao đời nay người nông dân miền Trung lam lũ trong cảnh đói nghèo, bây giờ được cách mạng đổi đời. Lớp trẻ có tri thức khoa học kỹ thuật đang là nòng cốt trong đội quân xây dựng vùng giải phóng. Nhìn luống đất được máy cày lật lên ngồn ngộn, người dân đất Quảng cảm động đến rơi nước mắt. Giọt nước mắt sung sướng chảy trên những gương mặt đã từng dày dạn qua bao năm tháng cơ hàn. Đã qua rồi cái thời không còn một tấc đất cắm dùi, đã qua rồi cái thời ở thuê làm mướn, quanh năm chẳng được bữa no. Công ơn cách mạng, ánh sáng cách mạng làm rạng lên, tươi lại những gương mặt ấy.


Tôi về xã Xuyên Hòa, vùng tranh chấp ác liệt nhất, được dự một buổi sinh hoạt của chi đoàn thanh niên. Sức mạnh của tuổi trẻ hiện trên gương mặt, ánh mắt, nụ cười. Tôi gặp những du kích gan dạ, từng diệt hàng trăm tên giặc, giữ đất, giữ làng. Tôi gặp lại các cô giao liên từng gùi hàng tiếp đạn cho quân giải phóng diệt thù. Bây giờ họ là mũi nhọn xung kích trên mặt trận kinh tế. "Nơi nào cần thanh niên có, nơi nào khó có thanh niên". Đoàn viên thanh niên luôn dẫn đầu trong việc san lấp các hố bom, tháo gỡ mìn do địch gài lại, trong việc mở đường đón ô tô, máy kéo về làng, hay phát cỏ khai hoang phục hóa. Họ ngồi họp và hát những bài ca cách mạng, những bài hát thể hiện nhiệt tình và khát vọng của tuổi hai mươi. Trong tiếng hát ấy, tôi thấy vang lên niềm tự hào và nghị lực của những người đang làm chủ cuộc đời. Họ thảo luận với nhau về các biện pháp thâm canh, đưa năng suất lúa lên sáu, bảy tấn trên một hécta, về kế hoạch chống địch càn quét. Cứ nhìn vào lớp trẻ đó cũng đủ vững tin rằng tương lai tươi sáng đang thuộc về họ.


Cảm động biết bao khi ta được nghe kể về cuộc đời những người dũng cảm trẻ tuổi. Nguyễn Thị Chí ở Đại Lộc làm ta liên tưởng đến một nữ diễn viên xuất sắc. Vậy mà Chí lại là nữ chiến sĩ thi đua của ngành y tế. Đó là một cô gái trẻ, đẹp, giàu nghị lực và tình thương yêu. Trên đôi môi đỏ thắm của Chí luôn luôn chúm chím một nụ cười. Ngay cả trong khó khăn ác liệt nhất Chí vẫn tươi cười. Có thể nghĩ rằng nhờ nụ cười ấy mà Chí đã vượt qua tất cả bom đạn hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ của mình. Trong tầm pháo dội, Chí đã cùng mọi người ở trạm quân y tiền phương bám sát bộ đội, băng bó cứu chữa cho hàng trăm chiến sĩ. Đêm đêm, Chí thức thâu canh, ngồi cho thương binh tựa lưng vào cho dịu cơn đau. Tiếng hát trong trẻo, cuốn hút của Chí giúp cho vết thương mau lành, chiến sĩ sớm trở về đơn vị. Tiếng hát vang lên trong đêm ở mặt trận xua đi cái nhức nhối của thương tích, át hẳn tiếng bom đạn tàn bạo của kẻ thù. Người chiến sĩ ngủ ngon trong tiếng ru đồng đội. Tiếng hát say người của Chí và bàn tay dịu hiền của Chí đã mang lại sức sống cho bao nhiêu vết thương khó lành. Chí làm việc quên mình vì tập thể, lúc nào cũng chỉ mong đóng góp thật nhiều cho cách mạng.


Có rất nhiều tấm gương như thế hàng ngày, hàng giờ xuất hiện trên quê hương giải phóng. Đó là cô giáo Thắm ở trường cấp I Lê Độ. Cô giáo Thìn, thầy giáo Dân ở trường cấp II nội trú. Đó là chị Lợi ở cửa hàng mậu dịch Thạnh Mỹ được bà con gọi bằng cái tên trìu mến: Cô mậu dịch của chúng tôi... Tất cả làm sáng lên gương mặt của thế hệ trẻ cách mạng.


Ở những xã giải phóng ven Quốc lộ số 1, những người đang đổ mồ hôi công sức xây dựng quê hương, còn phải đổ máu ra mà giữ lấy. Những cuộc càn quét bình định lấn chiếm của quân ngụy Sài Gòn vẫn tái diễn. Các đội du kích đã cùng nhân dân trừng trị đích đáng những vụ lấn chiếm, pháo kích vùng giải phóng. Nhiều chuyện đánh giặc, bắt sống tù binh xảy ra rất thú vị. Có bà mẹ ở Đại Lộc bắt sống năm tên lính trong một đêm. Hai em nhỏ ở Điện Bàn cũng san bằng một chốt điểm đóng trái phép của địch.


Ánh mắt, nụ cười ở vùng giải phóng nói lên khí thế mới của cuộc sống nơi đây. Tất cả như được tiếp thêm sinh khí, vươn dậy mãnh liệt trong mùa xuân. Chính cách mạng đã mang lại niềm vui, cuộc sống cho nhân dân. Nhờ ơn cách mạng nụ cười mới tươi lại trên môi. Nhờ ơn cách mạng người dân đất Quảng mới được ngẩng cao đầu tiến tới cuộc sống ấm no. Người ta nói lên lòng biết ơn đó bằng những việc làm cụ thể nhất.


Đến công trường mở đường mang tên Thắng Lợi, ta lại được tắm mình trong tiếng cười của các cô gái trẻ. Vì tương lai tươi sáng của quê hương, hàng ngàn thanh niên đã xung kích đi mở đường thắng lợi. Những con đường mang tên Thắng Lơi sẽ theo bước các cô mà vươn khắp núi rừng, đồng bằng. Ánh sáng lóe lên từ lưỡi cuốc, lưỡi choòng vung trong nắng, chính là sức mạnh của chúng ta. Độ dài những con đường do các cô làm ra gấp nhiều lần độ dài những con đường trong lịch sử. Theo bước chân họ nhiều con đường lớn đang vươn dài ra.


Thi đua với thời gian, con người đang kết thành một khối để tiến lên. Dù cho còn nhiều khó khăn thiếu thốn, nhưng đời sống của nhân dân đã dần dần được nâng cao. Các loại rau màu như đậu, sắn, bắp ngày một nhiều. Năng suất lúa có nơi đã đạt sáu tấn trên một hécta, đàn heo gà tăng nhanh chóng, đáp ứng ngày một đủ nhu cầu của nhân dân.


Trên những nẻo đường giải phóng, đâu đâu ta cũng gặp những ánh mắt long lanh và nụ cười chứa chan tin tưởng. Mùa xuân về trên đất giải phóng đã trùm lên đất cũ màu xanh rực rỡ. Trong hương sắc mùa xuân, nụ cười càng tươi thắm trên gương mặt náo nức niềm vui. Bắt đầu từ nụ cười, con người sẽ làm ra tất cả.


IV. CHÂN LÝ VÀ LẼ SỐNG


Ở một ngã ba, vào đầu làng có băng khẩu hiệu nét chữ tươi sáng, cứng cáp: "Không có gì quí hơn độc lập tự do". Khắp nơi trong vùng giải phóng tôi đi qua đâu đâu cũng thấy dòng chữ đó. Nơi thì viết trên băng vải đỏ tươi, nơi thì vẽ trên bảng tin mới xây to hơn cả gian nhà. Trong các gia đình, kể cả những gia đình mới ở vùng địch về chưa dựng được nhà lớn, nơi trang trọng nhất là bàn thờ dành để viết dòng chữ đó. "Không có gì quí hơn độc lập tự do". Đó là chân lý đúc rút từ suốt mấy ngàn năm nay. Trên dải đất Việt Nam này, chưa bao giờ dân tộc ta chịu cúi đầu khuất phục bọn xâm lược. Bởi vì chân lý đó thôi thúc chúng ta. Mất độc lập tự do thì mất tất cả. Cho nên suy nghĩ của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi: "Còn thằng Mỹ thì không ai có hạnh phúc nổi cả", cũng chính là suy nghĩ của chúng ta. Chân lý của thời đại được viết khắp nơi trong vùng giải phóng. Tôi nghĩ rằng nó không chỉ được viết thành khẩu hiệu, mà nó thấm sâu vào tâm can con người Việt Nam trong các làng xã giải phóng, dường như mỗi ngọn cỏ lá cây, mỗi dòng sông bến nước đều nói lên chân lý đó. Mới ngày nào cái giếng nước ở đầu làng chứa đầy xác bà con ta. Quân thù tàn bạo đã giết những người muốn có độc lập tự do rồi đẩy xuống giếng. Giếng nước rất sâu, vậy mà nước trong giếng tràn ra ngoài đỏ màu máu. Không làm sao moi hết xác lên được, người ta đành lấp giếng. Thế là cái giếng nước nuôi sống cả làng biến thành ngôi mồ tập thể. Đến nay, khi quê hương đã giải phóng, một tấm bia mang dòng chữ "Thà chết chứ không chịu mất độc lập tự do" được dựng trên nấm mồ đó. Hơn một lẽ sống còn là vấn đề lớn hơn: độc lập cho Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho muôn đời con cháu mai sau.


Trên đỉnh một dốc lớn thuộc dãy núi Tàu có một cây to cụt ngọn nhưng cành lá vẫn sum suê. Không hiểu cây đó mọc từ thời nào mà ngày nay người ta gọi nó là cây Độc lập.


Năm xưa, trong một trận càn từ khi tên phát xít họ Ngô còn sống, bọn ác ôn đã bắt chị Hạnh và tra tấn chị vô cùng dã man. Chúng bắt chị ký giấy ly khai Cộng sản, ly dị người chồng tập kết. Hai vợ chồng chị cưới nhau được năm tháng rồi xa nhau. Tình yêu chung thủy đã tiếp thêm sức mạnh cho chị. Sau khi dùng mọi cực hình không khuất phục được người con gái hai mươi tuổi đó, kẻ thù trói chị vào gốc cây rồi dùng dao cắt cổ. Trước khi chết, Hạnh đã nói lên tiếng nói của lòng mình với đất nước quê hương:


- Chúng mày có thể tàn sát hàng vạn người nhưng không bao giờ chúng mày có thể tiêu diệt được ý chí đấu tranh cho độc lập, tự do của nhân dân Việt Nam. Việt Nam độc lập thống nhất muôn năm!


Khí phách dũng cảm của cô gái đã làm bọn ác ôn khiếp vía kinh hoàng. Sau đó mấy năm, giặc Mỹ tràn vào đất Quảng, chúng lại trói vào gốc cây hai em nhỏ. Những tên sát nhân từ bên kia bờ đại dương tới không moi được một lời khai của hai em mà chỉ nhận được ánh mắt căm thù thiêu đốt chúng. Tên đại úy Mỹ lồng lên, rút dao khoét hết bốn con mắt của trẻ thơ vô cùng dũng cảm. Cả hai em đều chết trong tiếng hô: "Bác Hồ muôn năm!" át hẳn những loạt đạn ghê rợn của kẻ thù.


Cũng chính ở gốc cây đó, hàng trăm người đã bị giặc Mỹ sát hại, xác người chồng chất trên đỉnh dốc rồi rơi xuống đáy khe. Đó là những người không chịu rời làng về sống trong ấp chiến lược. Họ thà chết chứ không chịu kiếp cá chậu chim lồng. Một bà mẹ ở mặt trận làm thơ tặng con (chị đã gởi đứa con nhỏ của mình cho làng xóm để cầm súng giết giặc). Suy nghĩ của chị sao mà giản dị thế: "Bởi không muốn con làm nô lệ. Nên bây giờ mẹ ra đi...". Ngày nay trên đỉnh dốc đó, cây Độc lập vẫn sống, cành lá sum suê che bóng mát cho những người vượt dốc. Đứng trên đỉnh dốc nhìn xuống thung lũng rộng ta thấy được sức mạnh kỳ diệu của quê hương. Phải đổ bao nhiêu xương máu mới giành được cuộc sống yên lành cho những căn nhà dưới thung lũng kia. Trong ánh nắng chói chang, tôi nhìn thấy cả thung lũng đang vươn mình lên trong nhịp điệu của cuộc đời mới.


Hãy đến đây! Hỡi những người nào trên trái đất này còn tin vào thứ hòa bình kiểu Mỹ. Hãy nhìn những thôn làng đồng ruộng, đồi núi miền Trung. Trên dải đất dài mà hẹp này, con người đã phải chiến đấu như thế nào mới được tồn tại. Ý chí bất khuất của người dân miền Trung rộng lớn như biển Đông trước mặt, hùng vĩ như dãy Trường Sơn là bức thành chắn sau lưng. Người dân miền Trung không biết cúi đầu. Biết bao ông già như ông già sông Thu quyết chết trên mảnh đất của cha ông để lại chứ không chịu hàng quân giặc.


Ngày đó, sau trận đánh ác liệt của du kích xã, một tiểu đoàn biệt động ngụy có một đại đội Mỹ đi kèm bị tiêu diệt. Tên tiểu đoàn trưởng ngụy và hai sĩ quan Mỹ ập vào một gia đình bên sông, bắt ông già chèo thuyền đưa chúng qua sông chạy trốn. Vốn là người dân nặng tình với sông nước, với quê hương, đời nào ông chịu đem sức lực mình ra hầu hạ quân thù, để cho quân thù trốn thoát. Ông già đã dùng bơi chèo phang bể sọ tên tiểu đoàn trưởng ngụy và đánh gãy chân tên sĩ quan Mỹ. Thằng thiếu úy Mỹ còn sống đã bắn chết ông. Xác ông chìm xuống bến nước quê mình, nhưng tiếng súng tên Mỹ đã gọi du kích đến. Kẻ thù bị đền tội, ông già chở đò mang tên ông già sông Thu từ đó.


Không biết sau những ngày này, những người chép sử, những người viết văn có ghi lại hết những gương mặt anh hùng đó không? Cũng khó mà ghi cho hết được, bởi vì mỗi người dân là một chiến sĩ. Đến em thơ cũng hóa những anh hùng là như vậy đó.


Có người nói rằng muốn có một tác phẩm điêu khắc phản ánh toàn bộ con người Việt Nam trong chiến tranh thì nên tạc bà mẹ Việt Nam cầm súng. Người mẹ cầm súng. Đó là một hiện thực trên mảnh đất này. Công lao lớn nhất thuộc về người mẹ, người mẹ sinh hạ những anh hùng, người mẹ là nguồn suối yêu thương. Người mẹ cũng chính là chiến sĩ, vì tương lai đất nước, người mẹ đã cầm súng lên đường.


Ở những đơn vị quân giải phóng, sức sống của tuổi trẻ cứ phơi phới tràn trề. Sức mạnh nào đã thôi thúc những thanh niên mười sáu, mười bảy tuổi cầm súng lên đường? Trong tất cả những sự hy sinh, thì sự hy sinh của tuổi trẻ là vô giá. Đất nước đang cần những hy sinh cho dáng hình Tổ quốc. "Không có gì quí hơn độc lập tự do". Chân lý đó ngấm vào thịt máu của bao đời. Chân lý đó đã biến thành lẽ sống. Cho nên ra trận là lẽ sống duy nhất của những người Việt Nam khao khát hòa bình, độc lập tự do. Có thể kể rất nhiều những cuộc chia ly. Trên một bến sông quê hương đã diễn ra nhiều cuộc chia ly hết thế hệ này đến thế hệ khác. Những "cuộc chia ly màu đỏ", chia ly không hề rơi nước mắt, nước mắt chỉ dành cho ngày gặp mặt. Trong một dân tộc mà nền tảng gia đình và ý thức về tổ ấm gia đình bao giờ cũng là cái lõi của cuộc sống như ở Việt Nam, thì thêm một tội ác lớn của kẻ thù là đã làm ly tán tất cả. Người dân Việt Nam không chần chừ khi rời bỏ tổ ấm lên đường cầm súng. Sức mạnh duy nhất bắt nguồn từ chân lý lớn của cuộc đời. Bắt đầu từ chân lý đó, lẽ sống đó, dân tộc ta đã trở thành vô địch.


Mỗi chiến sĩ quân đội nhân dân là một anh hùng. Gương mặt anh hùng của sư đoàn chính là gương mặt của từng chiến sĩ. Nguyễn Văn Thao, một mình chiến đấu từ sáng đến tối trên cánh đồng Thạnh Mỹ, bắn rơi bảy máy bay trực thăng, bắt hàng trăm tên Mỹ phải phơi xác trên cánh đồng. Phan Hành Sơn tung hoành trên núi Ngũ Hành, khiến hàng tiểu đoàn giặc tan xác. Tiểu đội trưởng Huỳnh Dạn truy kích địch suốt hai mươi ngày không hề mệt mỏi, cùng đơn vị diệt hàng trăm tên Mỹ ngay từ những ngày quân Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng thân yêu. Có cô gái hoạt động trong nội thành, đánh sập tòa khách sạn lớn, diệt gọn bọn đầu sỏ ác ôn. Nhiều sự tích anh hùng diễn ra trên đất này, trên những cánh rừng, đồng ruộng, phố phường... Nhiều người ra đi và đã ngã xuống. Cái chết của họ đã làm bật dậy sức sống. Họ ngã xuống cho quê hương mãi mãi yên lành. Họ hy sinh để cho con cháu mai sau được sung sướng đời đời.


Từ chân lý đến lẽ sống - một con đường. Từ tổ ấm gia đình đến chiến trường cũng chỉ một con đường. Cái đích cuối cùng là độc lập, tự do. Hôm trước khu dồn bị phá banh, dân trở về làng cũ. Ngay ngày hôm sau hàng trăm thanh niên đã tình nguyện lên đường nhập ngũ. Trong đội ngũ những người ra đi hôm nay, tôi bắt gặp hình ảnh của những chuyến ra đi từ nhiều năm trước. Có một cái gì đó kỳ lạ lắm, xao xuyến lắm, thôi thúc lên đường.


Đà Nẵng rung chuyển bởi những cuộc xuống đường không bao giờ dứt. Tiếng thét trong thành hòa cùng tiếng súng ngoài kia. Thành thị hòa với nông thôn trong trận hiệp đồng quyết đánh cho đổ nhào chế độ tay sai Mỹ. Mặt đường đầy khát vọng lại chuyển rung. Bước chân tuổi trẻ học đường, bước chân thợ thuyền và người lao động đang rầm rập trên đường.


Trên những nẻo đường ra trận hôm nay, mùa xuân đang nâng bước quân đi. Sông nước đồng ruộng, núi rừng đang trùng trùng chuyển động. Trong trận đánh cuối cùng này, nhất định chúng ta sẽ thắng. Chân lý của thời đại đang căng ra trong cân não mỗi người. Trong từng chữ của chân lý đó, chúng ta thấy thấp thoáng bóng dáng của chính mình. Từ chân lý mà Bác Hồ đã vạch ra, các thế hệ hôm nay và mai sau sẽ sát cánh chiến đấu đến cùng để cho mùa xuân về êm đềm trên sóng nước làng quê, để cho cuộc đời nở hoa và cây đời đơm trái.


Những trận đánh vì lẽ sống của con người đang diễn ra trên đất Quảng…


VÌ MỘT MÙA XUÂN VĨNH VIỄN


Biết hy sinh tất cả để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc, lẽ sống đó trở thành hành động hàng ngày của người dân đất Quảng. Đi trong hương sắc mùa xuân hôm nay, lòng ta không khỏi xao xuyến khi nghĩ về những mùa xuân sắp tới. Phải qua bao nhiêu mùa xuân ra trận mới có được phần đất yên bình. Hãy nhìn vào ánh mắt các em thơ, chúng ta sẽ gặp những câu hỏi giản đơn mà vô cùng day dứt. Ở một trường phổ thông nội trú của tỉnh Quảng Đà, có hai trăm năm mươi em nhỏ mới đưa từ các khu dồn của địch lên. Các em thoát khỏi ách kìm kẹp của kẻ thù, về sống trong lòng chúng ta. Tuổi thơ của các em đã trôi đi trong tăm tối, dốt nát và cực khổ. Làm thế nào để mang lại chất thơ cho tuổi măng non của các em? Làm thế nào để uốn nắn những mầm non này, nuôi dưỡng thành những công dân có ích cho đời? Câu hỏi đó đã trở thành điều tâm niệm cho các thầy cô giáo nhà trường. Tôi đã gặp những chiến sĩ vừa từ các nhà tù của giặc chiến thắng trở về. Hiện nay họ đang mang phần sức lực còn lại của mình chăm sóc các em nhỏ đó. Đa số các em mồ côi cha mẹ. Mọi người đã dành trọn tình cảm của mình cho các em. Mỗi thầy cô giáo, mỗi nhân viên phục vụ đã thực sự trở thành cha mẹ, anh chị của các em. Cho đến nay, đến thăm trường phổ thông nội trú Quảng Đà, nhìn các em thơ đang say mê học tập, vui chơi, ai mà không vui sướng. Mới qua một năm học, chín mươi lăm phần trăm các em được lên lớp, số học sinh giỏi chiếm tới hai mươi phần trăm. Đa số các em đều có sức học khá, thương yêu nhau và chăm lao động. Tôi cứ nghĩ mãi về một câu trả lời của đồng chí Đỗ Huy Dân, hiệu trưởng nhà trường, khi cắt nghĩa về những cố gắng của giáo viên và cán bộ nhà trường, anh nói: "Chính là ánh mắt các em thơ đã thôi thúc chúng tôi". Khi chúng ta soi mình vào tấm gương thơ bé đó, chúng ta sẽ thấy được nhiệm vụ cấp thiết của mình.


Trên khúc ruột miền Trung thân yêu này đang còn diễn ra cuộc đấu tranh cho tương lai, hạnh phúc và mùa xuân. Kẻ thù còn ngoan cố. Trong năm qua, Mỹ ngụy đã dội hàng trăm tấn bom đạn xuống đất này, tập trung hàng chục trung đoàn liên tục càn quét hòng "tràn ngập lãnh thổ". Chúng muốn xóa đi thành quả mà biết bao máu xương đổ ra mới giành được. Trên đất Điện Bàn, Duy Xuyên, Đại Lộc, Hòa Vang,... giặc càn đi, quét lại. Chúng thanh lọc, tố Cộng, tra tấn dã man dân ta. Chúng cho xe cày ủi, phát hoang. Bao nhiêu ruộng đồng, nhà cửa, vườn tược bị xới lộn, biến thành vùng trắng. Giặc muốn đưa đồng bào ta trở lại cái thời man rợ của luật 10/59. Dòng sông quê hương lại trào sôi căm giận. Nhân dân trong các khu dồn đã nhất loạt vùng lên tháo cũi sổ lồng, phá banh khu dồn, trừng trị bọn ác ôn, tề điệp, trở về làng cũ. Trong mấy tháng trời, hệ thống khu dồn dân từ Bắc Hòa Vang đến sông Thu Bồn bị xóa sạch. Trên các điểm cao của rừng núi quê hương, pháo binh ta dội bão lửa xuống sân bay Đà Nẵng, diệt hàng trăm máy bay đang chuẩn bị đi gây tội ác. Ơi anh chiến sĩ trẻ măng đang vuốt ve nòng pháo, quê hương đang vô cùng sung sướng đón chiến công anh. Hãy diệt quân thù ngay tận hang ổ của chúng!


Từ Hải Vân đến Thu Bồn, cuộc chiến đấu tiếp diễn ngày càng sôi sục. Các cụm cứ điểm, chi khu quân sự bị tiêu diệt trong năm qua làm cho vùng giải phóng ngày càng mở rộng. Sau khi các cứ điểm Nông Sơn, Trung Phước, Thượng Đức bị san bằng, quân ta đang áp sát địch vào thành phố để tiêu diệt. Tính đến ngày 20-12-1974, tức là những ngày cuối mùa mưa, Mỹ, Thiệu đã tập trung ở xung quanh Đà Nẵng ba mươi ba tiểu đoàn quân cùng hàng trăm máy bay, súng lớn và tàu chiến. Đó là chưa kể mạng lưới quân cảnh, cảnh sát và tề điệp ác ôn dày đặc. Giữa thành phố Đà Nẵng có hơn năm chục vạn dân mà kẻ thù đã tàng trữ ở đây hàng triệu tấn bom. Những ngày cuối năm vừa qua, bốn trong sáu kho bom lớn ở phi trường Đà Nẵng bị nổ tung. Bầu trời thành phố đen sạm, tối sầm lại vì lửa khói suốt mấy ngày liền. Người dân Đà Nẵng không căm giận sao được khi kẻ thù biến thành phố quê hương thành những kho bom đạn khổng lồ, thành nơi xuất phát của những tội ác ghê tởm. Hàng không mẫu hạm Inheporit chở năm mươi máy bay phản lực đêm ngày tuần tiễu trên biển Đà Nẵng. Kẻ thù còn nhiều âm mưu thâm độc, càng điên cuồng chuẩn bị lực lượng thì càng bị trừng trị đích đáng.


Tháng Mười. Trong các đô thị miền Trung, nhất là Đà Nẵng, Hội An, những cuộc xuống đường liên tiếp nổ ra. Hàng vạn người rầm rập biểu tình đòi lật đổ tên phát xít Nguyễn Văn Thiệu. Phố phường rung chuyển trong tiếng thét đòi hòa bình, tự do, dân chủ, đòi lật đổ chính quyền tham nhũng hiếu chiến, tay sai của Mỹ ở Sài Gòn. Nhân dân đô thị đang ngày càng nhận ra con đường duy nhất để có quyền sống. Bàn tay thô bạo của bọn cướp nước, bộ mặt bỉ ổi của lũ bán nước đã bị vạch trần trong phong trào đấu tranh của nhân dân đô thị miền Nam.


Địch lợi dụng mưa bão để đánh phá vùng giải phóng nhưng chúng bị thất bại nặng nề. Hàng ngàn quân dù phơi xác trên mặt trận Tây Nam Đà Nẵng mà không bén mảng được đến Thượng Đức. Tại các vùng trọng điểm của địch như vùng B Đại Lộc, Điện Bàn... kẻ thù liên tục bị trừng trị. Ông già sáu mươi lăm tuổi ở Hòa Vang cũng làm cả tiểu đội thám báo dù khiếp vía. Trên cao điểm 385 - Thượng Đức, một chiến sĩ cũng tiêu diệt gần hết một đại đội lính dù ngụy. Trong các làng ven Quốc lộ Một, giao thông địch bị ta băm nát. Cả làng đổ ra mặt đường chặn đứng đoàn xe tăng "ứng cứu" của địch, tuyên truyền giác ngộ anh em binh sĩ trở về vùng giải phóng. Hình ảnh một bà mẹ ở Điện Bàn với một cành phi lao trên tay, đã bắt cả đoàn xe địch tháo chạy về Đà Nẵng, không dám tiếp tục hành quân càn quét, là hình ảnh đẹp, phổ biến trong cuộc chiến tranh nhân dân trên đất này. Nhiều đội du kích với vũ khí thô sơ, đã bắt sống xe tăng địch. Nhiều đồn bót, chốt điểm của địch bị ta san bằng không tốn một viên đạn, chứng tỏ cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, hùng vĩ vô cùng. Sức mạnh của bom đạn, sự tàn bạo của chiến tranh điện tử không thắng nổi sức mạnh của chiến tranh nhân dân. Sự suy sụp của quân đội tay sai Mỹ ở Sài Gòn, ngày tàn của chế độ Sài Gòn đã rõ ràng và không có gì cứu vãn nổi. Chỉ trong ba tháng cuối năm 1974, hơn hai mươi ngàn quân ngụy bỏ xác trên đất miền Trung.


Cuộc chiến đấu còn lâu dài, song những năm tháng quyết liệt nhất, gian khó nhất đã qua rồi. Trước mắt, kẻ thù chỉ là một dúm những tên tay sai, sống được ngày nào là nhờ đôla Mỹ. Hàng triệu quân Mỹ cùng lính đánh thuê cũng phải nhục nhã cút khỏi Việt Nam, thì lũ tay sai ở Sài Gòn sống sao nổi trước sức mạnh đoàn kết và quyết tâm sắt đá của nhân dân ta. Đồng bào đất Quảng đang góp phần làm nên chiến thắng hoàn toàn của đất nước. Dân tộc đã đi tới đỉnh cao của lòng dũng cảm và sáng tạo, mỗi người chúng ta đang bước vào mùa xuân với những cố gắng và nỗ lực phi thường để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc!


Xuân về, xuân chiến công, xuân chiến thắng! Xuân của những ước mơ và những hành động phi thường. Mùa xuân đang rắc nắng, rắc vàng trên đồng đất miền Trung. Cả dải đất đang bừng bừng khí thế tiến công. Một cuộc ra quân lớn lao, tiếp bước những cuộc ra trận kỳ vĩ của đất nước. Người dân xứ Quảng vô cùng sung sướng tự hào về những năm tháng đã qua, phấn khởi đón chờ những ngày sắp tới. Khi mà tương lai ở trong tầm tay với, chiến thắng trọn vẹn đang ở trước mắt, người ta đang dồn hết sức mình.


Đứng trên đỉnh Hòn Tàu bồng bềnh mây trắng, nhìn theo hướng đi của những dòng sông, tôi thấy đất nước mình đẹp quá. Cảm giác về mùa xuân Hòa bình Thống nhất cứ xáo động trong tôi khi thấy đất nước mình đang đổi thay nhanh chóng. Núi sông hùng vĩ với những con người phơi phới sức trẻ tiến lên. Rừng núi ruộng đồng, sông nước miền Trung đang khởi sắc vào xuân, ta thấy sức mạnh của quê hương vĩ đại vô cùng. Sức mạnh đó được tàng trữ từ bao đời nay trong cuộc chiến đấu cho chân lý và nhân phẩm. Cùng với thời gian, sức mạnh đó luôn được bồi đắp. Trên những nẻo đường mùa xuân, đi đâu ta cũng gặp những nụ cười, biểu hiện ý chí bất khuất và niềm tin chiến thắng. Một phóng viên nước ngoài cùng đi với tôi trong lần đến thăm một xã ở huyện Quế Sơn, đã tâm sự: "Các bạn chiến thắng là phải, bởi vì các bạn có nụ cười kỳ diệu lắm". Đúng là nụ cười đó, ta nhìn thấy tất cả nỗi đau, niềm dịu dàng và sức mạnh vô địch của Việt Nam.


Bắt đầu từ những nụ cười, chúng ta sẽ làm nên tất cả. Vì mùa xuân vĩnh viễn cho đời ta và muôn đời con cháu mai sau, người dân đất Quảng đang náo nức trên đường ra trận giữa hương sắc mùa xuân.


 


Vùng ven Đà Nẵng, tháng Giêng năm 1975


 (Nguồn: Rút từ Lấp lánh tình đời. Tập Truyện & ký chọn lọc của Triệu Xuân. NXB Văn học, 2007. Trước đó, đã in ba kỳ trên Báo Nhân Dân số ra ngày 27, 28 tháng 1 và ngày 1 tháng 2 năm 1975 với bút danh Triệu Thanh Vân).







1 Khu dồn: Mỹ, Ngụy dồn dân vào từng khu vực, từng cụm, có nhiều lớp rào kẽm gai và bom mìn vây quanh để kiểm soát, giống như ấp chiến lược thời Ngô Đình Diệm.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
xem thêm »