tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829450
Truyện ngắn
04.07.2009
Stefan Zweig
Cặp mắt người anh vĩnh cửu

Thuở ấy, ngay cả khi Đức Phật cao cả chưa đầu thai xuống cõi trần và chưa truyền bá ánh sáng tri thức cho các tín đồ, ở xứ Biếcvaga, sống bên một ông vua thuộc dòng Ratgiơpút có một người cao quý là Virata mà người ta muốn gọi là “Tia chớp của thanh đoản kiếm”, bởi vì đó là một chiến tướng dũng cảm hơn tất cả các chiến tướng, và là một người đi săn bách phát bách trúng, ngọn giáo của chàng chẳng bao giờ vung lên uổng công và tay kiếm của chàng đã chém là như sét đánh. Vầng trán của chàng trong sáng, mắt chàng nhìn thẳng vào mắt mọi người không chớp; chưa bao giờ người ta trông thấy chàng nắm tay tức tối, và chưa bao giờ nghe thấy chàng thốt lên một tiếng la hét giận dữ. Chàng trung thành phụng sự đức vua của mình, và nô lệ của chàng cũng cung kính hầu hạ chàng, bởi vì suốt dọc năm nhánh sông, không có ai công minh hơn chàng. Những người sùng kính nghiêng mình khi đi qua trước nhà chàng; trẻ thơ vừa thấy chàng đã mỉm cười và nụ cười của các em phản chiếu trong đôi mắt lấp lánh như sao của chàng.


Thế rồi nỗi bất hạnh giáng xuống nhà vua mà chàng đang phò trợ. Người anh vợ nhà vua được giao quyền cai trị một nửa đất nước lại thèm khát cai trị cả nước, hắn đã ngấm ngầm mua chuộc những chiến tướng giỏi nhất của nhà vua để họ theo hắn và hắn cũng mua chuộc được cả những thầy tăng. Ban đêm bọn này đem đến cho hắn những con diệc thiêng của hồ mà từ hàng ngàn, hàng ngàn năm nay vốn được coi là dấu hiệu tượng trưng cho vương quyền ở xứ Biếcvaga này. Tên phiến loạn trang bị cho những con voi và những con diệc, tập hợp những kẻ bất mãn ở miền núi thành một đoàn quân và hùng hổ tiến đánh kinh đô.


Từ sáng đến chiều, để làm hiệu báo nguy, nhà vua cho khua thanh la đồng và thổi tù và ngà tiếng kêu vang lừng, ban đêm thì đốt lửa trên các ngọn tháp và ném vào lửa những vẩy cá đã nghiền nát để ngọn lửa màu vàng rực sáng các vì sao, nhưng rất ít người kéo đến. Tin đàn diệc thiêng bị bốc đi mất khiến các thủ lĩnh hoang mang và mất nhuệ khí. Quan tổng binh và vị quản tượng, những người lão luyện nhất trong số các tướng lãnh đã ở bên phía quân thù, và nhà vua bị bỏ rơi, hoài công chờ cận thần đến cứu (bởi vì ngài là một ông vua độc đoán, xét xử thì khắc nghiệt và tàn ác trong việc bắt lao dịch khổ sai). Vì thế, trước cung điện của nhà vua chẳng thấy bóng một viên tướng lão luyện và một viên chỉ huy quân lính nào; nhà vua chỉ thấy một bầy nô lệ và lũ gia nô hoảng hốt cuống cuồng mà thôi.


Trong cơn cùng quẫn, nhà vua nghĩ tới Virata vì ngay khi nghe thấy hiệu kèn cấp báo đầu tiên, chàng đã dâng biểu bày tỏ lòng trung thành với nhà vua. Vua truyền sắp kiệu gỗ mun rước mình tới nhà Virata. Virata cúi rạp sát đất khi nhà vua xuống kiệu, nhưng nhà vua ôm lấy chàng như một kẻ đến để van xin và tha thiết khẩn cầu chàng khởi binh chống giặc. Virata rạp mình tâu:


- Muôn tâu bệ hạ, thần sẽ xin dẫn quân đi, và thần sẽ không trở về ngôi nhà này chừng nào ngọn lửa phản nghịch chưa bị dập tắt dưới chân quần thần của bệ hạ.


Rồi Virata nhóm họp các con trai, thân quyến và nô lệ của mình lại; chàng đem họ sáp nhập vào đoàn quân những người trung thành với nhà vua và chỉnh đốn quân ngũ lên đường dẹp giặc. Họ đi suốt ngày, xuyên qua rừng đến bờ sông; ở bờ bên kia, giặc đông hằng hà sa số; chúng tự đắc vì quân số đông và đang đốn cây bắc cầu để sớm mai có thể tràn qua sông và như một dòng lũ sẽ làm cho xứ sở ngập máu. Nhưng Virata đã từng đi săn hổ ở đây, chàng biết có một chỗ sông cạn lội qua được ở phía trên cầu. Trời vừa tối, chàng dẫn từng tên lính trung thành của mình sang sông và giữa đêm, họ bất ngờ tiến công quân giặc trong lúc chúng đang ngủ lăn lóc. Họ vung những bó đuốc tẩm nhựa thông, làm cho đàn voi và trâu chạy hoảng loạn, giày xéo cả lên những kẻ đang ngủ, và ánh lửa trắng lóa của đám cháy như cơn lốc xoáy bao trùm lên các căn lều. Lúc ấy, Virata là người đầu tiên xông vào căn lều của tên phản nghịch và những kẻ đang ngủ chưa kịp trở tay, thanh kiếm của chàng đã hạ sát hai tên, rồi tên thứ ba, khi tên này vùng dậy vơ lấy kiếm; còn tên thứ tư và thứ năm thì chàng giết trong lúc giao chiến với chúng, một chọi một, trong bóng tối. Chàng đâm thủng trán một tên, còn tên kia bị chàng đâm trúng vào ngực còn để trần của hắn. Khi chúng nằm chết gí đó, như những cái bóng giữa bóng đêm, thì đích thân chàng đến đứng chắn ở cửa lều, không cho kẻ địch vào cướp mang đi những con diệc thiêng - bảo vật do thần linh ban cho. Nhưng không một kẻ thù nào dám bén mảng đến vì chúng đã hồn xiêu phách lạc, bỏ chạy hết và đang bị đám quần thần của nhà vua thừa thắng truy nã, tiếng reo hò vang dậy. Làn sóng những kẻ thất trận rút đi mỗi lúc một xa. Bấy giờ Virata ung dung ngồi trước căn lều, vắt chân chữ ngũ, tay cầm thanh gươm đẫm máu, chờ đồng đội trở về sau cuộc truy kích dữ dội đuổi theo quân giặc.


Chẳng bao lâu ánh sáng ban mai huy hoàng bừng lên sau khu rừng; những cây cọ bốc cháy trong ánh bình minh đỏ rực như những bó đuốc lấp lánh trong dòng sông.


Phía đông mặt trời mọc, đỏ ửng như một vết thương lửa. Lúc ấy Virata đứng lên, chàng cởi y phục, đi ra sông, hai tay giơ cao lên quá đầu, chàng nghiêng mình cầu nguyện trước “con mắt” long lanh của Thượng đế; rồi chàng bước xuống sông để làm lễ tẩy uế, máu trên tay chàng bắt đầu chảy xuống. Nhưng khi làn sóng ánh sáng rực rỡ vừa chiếu xuống đầu, chàng lên bờ, mặc quần áo, và cặp mắt trong sáng thanh thản, chàng trở về căn lều để ngắm, dưới ánh ban mai, những chiến công đêm qua. Những xác chết nằm đó, nỗi kinh hoàng còn in dấu trên những nét mặt cứng đờ, mắt mở trợn trừng và mặt mày nhăn nhó; kẻ phản nghịch trán toạc ra và tên bất trung mới đây còn là tổng binh của đất nướcc Biếcvaga, bị đâm thủng ngực. Virata vuốt mắt cho chúng và tiếp tục đi xem xét những kẻ mà chàng đã giết lúc chúng đang ngủ, chúng còn đang đắp chiếu nửa người; có hai khuôn mặt xa lạ đối với chàng, đó là những tên nô lệ của kẻ phản nghịch, chúng từ phương Nam đến, tóc mềm như len và mặt đen. Nhưng khi chàng vừa xoay mặt người chết cuối cùng về phía mình, mắt chàng bỗng tối sầm lại, bởi vì đó là Bêlăngua - người anh cả của chàng, vị chúa tể miền rừng núi mà tên phản nghịch đã mời về giúp, và trong đêm tối đã bị chính Virata giết chết. Chàng run rẩy cúi xuống gần trái tim của kẻ bị hạ sát. Tim không còn đập nữa, cặp mắt người chết mở to, đờ đẫn, đôi nhãn cầu đen như đâm thấu đến tận tim Virata. Virata thấy bủn rủn chân tay, bàng hoàng coi như kẻ mất hồn, người ngồi đấy, giữa đám tử thi, nhưng mắt thì nhìn đi nơi khác để tránh cặp mắt nhăn nhúm của con người mà mẹ chàng đã cho ra đời trước chàng, cặp mắt đang kết tội chàng.


Lát sau, có tiếng reo hò vang dậy. Như một đàn chim rừng, đám binh sĩ của nhà vua truy kích quân giặc đã trở về, họ kéo đến gần căn lều, vừa đi vừa hò reo, mang nặng chiến lợi phẩm, hân hoan đắc thắng. Khi họ nhìn thấy kẻ phản nghịch nằm chết giữa đám quân lính của y và những con diệc thiêng đã được cứu thoát, họ bắt đầu nhảy múa; họ ôm lấy Virata đang lặng lờ ngồi cạnh họ, quần áo lếch thếch, và tặng chàng danh hiệu vinh quang: “Tia chớp đoản kiếm”. Họ kéo đến mỗi lúc một đông, chất chiến lợi phẩm trên những cỗ xe, nhưng bánh xe lún xuống dưới sức nặng của chiến lợi phẩm đến nỗi họ buộc phải dùng cành gai quất đám trâu kéo, còn thuyền thì chỉ chực đắm. Một sứ giả nhảy xuống sông, vội về báo tin để nhà vua biết, còn những người khác ở lại bên chiến lợi phẩm và vui mừng thắng lợi. Trong lúc đó, Virata vẫn câm lặng và như chìm đắm trong giấc mộng. Chàng chỉ cất tiếng nói có một lần khi quân lính muốn lột quần áo những xác chết. Lúc ấy chàng đứng dậy, ra lệnh đi kiếm củi chất xác chết lên dàn thiêu để hỏa táng cho linh hồn những kẻ đã chết được trong sạch, đầu thai sang kiếp khác. Quân lính ngạc nhiên thấy chàng đối xử như vậy với những tên mưu phản mà xác - đáng để cho chó rừng cắn xé và xương - đáng để bêu trắng dưới nắng trời nung; tuy vậy, họ vẫn tuân lệnh. Khi dàn thiêu đã chuẩn bị xong, Rirata tự tay châm lửa, ném hương và trầm vào củi đang bốc cháy, rồi chàng quay mặt đi, im lặng đứng cho đến lúc những khúc củi đỏ rực trên dàn thiêu, sụt xuống, biến thành tro tàn.


Trong khi đó, bọn nô lệ đã hoàn thành những chiếc cầu mà hôm trước quân lính của kẻ phản nghịch đã khởi công ầm ĩ và đi đầu là những dũng sĩ đầu đội những vòng hoa đỏ chói, rồi đến quân lính và những ông hoàng cưỡi ngựa. Virata để mọi người diễu qua trước mặt chàng, tiếng ca hát và hò reo của họ dội vào tâm hồn chàng, khiến chàng đau đớn không cùng và khi chàng cất bước, chàng cố ý giữ một khoảng cách nhất định giữa chàng với mọi người. Đến giữa cầu, chàng dừng lại và ngắm nhìn hồi lâu dòng nước chảy bên phải bên trái, trong khi đó phía trước và phía sau, các dũng sĩ cũng ngạc nhiên dừng lại để giữ khoảng cách, và họ thấy chàng giơ cánh tay đang cầm gươm lên, như muốn vung gươm chống lại trời, nhưng khi hạ gươm xuống, chàng hững hờ để cán gươm tuột khỏi tay và thanh gươm rơi tõm xuống sông. Từ hai bên bờ, mấy đứa trẻ trần truồng nhảy xuống nước để mò gươm, chúng tưởng thanh gươm bị đánh rơi vì sơ ý. Song, Virata nghiêm giọng gọi chúng lại và tiếp tục bước đi giữa đám quân lính đầy kinh ngạc, vẻ mặt chàng thản nhiên và vầng trán sa sầm. Chàng không mở miệng thốt lên một lời nào nữa, trong khi đó dặm này đến dặm khác, con đường màu vàng của xứ sở trải ra dưới bước chân họ.


Còn xa mới tới những khung cửa bằng vân thạch và những pháo đài có lỗ châu mai của kinh thành Biếcvaga, thì ở phía chân trời, một đám mây trắng bốc lên ào ạt tiến lại gần: đó là những người phu trạm và những kỵ sĩ đang phóng nhanh làm bụi tung mù mịt. Khi nhận ra đoàn quân, họ dừng lại, rải thảm trên lối đi để báo hiệu là nhà vua sắp tới, vị hoàng đế mà đế giày không hề vương một hạt bụi từ lúc sinh thời đến khi băng hà - lúc mà ngọn lửa tiếp nhận tấm thân thanh cao của ngài. Và kia, trên mình con voi đã nhiều tuổi, nhà vua tiến lại gần, xung quanh là các quần hầu. Con vật ngoan ngoãn theo búa của quản tượng, quỳ gối, và nhà vua bước xuống tấm thảm trải trước mặt. Virata chưa kịp phủ phục làm lễ trước hoàng thượng, thì nhà vua đã bước tới, giang tay ôm choàng lấy chàng, đối với một bề tôi đó là một vinh dự chưa từng thấy trong thời ấy, cũng chưa có sử sách nào chép lại như vậy. Virata cho đưa lũ diệc lại và khi đàn chim vỗ cánh thì tiếng tung hô bỗng vang dậy khiến những con ngựa chồm lên và những viên quản tượng phải dùng búa trấn áp đàn voi. Thấy biểu tượng của chiến thắng, nhà vua lại ôm lấy Virata một lần nữa và ra hiệu cho một cận thần. Người này mang đến thanh gươm của người anh hùng danh tổ của dòng họ Ratgiơpút, thanh gươm đã lưu giữ trong kho báu các đời vua từ bảy ngàn bảy trăm năm, cán gươm chói lòa những thứ đá quý và trên lưỡi có ghi chữ vàng, những tiếng bí ẩn của chiến thắng, viết theo văn tự của tổ tiên mà ngay cả những nhà thông thái và những bậc tu hành của Đền thờ lớn cũng không đọc nổi. Nhà vua trao thanh gươm quý tuyệt trần cho Virata để bày tỏ lòng biết ơn của ngài và coi đó là biểu hiệu của quyền lực mà từ nay Virata thâu tóm, với tư cách là chủ tướng và là vị chỉ huy tối cao của các lực lượng vũ trang.


Nhưng Virata cúi nhìn xuống đất, cất tiếng tâu, mắt không hề ngước lên:


- Thần muốn xin đức vua ân cần nhất trong các vị vua ban cho một đặc ân và thần có một điều khẩn cầu tâu lên đức vua hào hiệp nhất trong các vị vua, không biết có được chăng?


Nhà vua nhìn chàng và nói:


- Ân huệ đó được ban cho khanh ngay từ trước khi mắt khanh nhìn lên trẫm. Dù khanh có xin một nửa đất nước của trẫm thì trẫm cũng ban cho khanh ngay từ khi khanh máy môi tỏ bày ý nguyện.


Lúc ấy Virata mới tâu:


- Muôn tâu bệ hạ, vậy xin bệ hạ hãy để cho thanh kiếm này nằm lại trong kho báu, bởi vì trong thâm tâm, thần đã thề không còn mó đến một thanh kiếm nào nữa, kể từ ngày hôm nay khi thần đã giết người anh ruột của thần, người anh độc nhất sinh ra từ một bọc với thần và đã cùng đùa vui với thần trong cánh tay của bà mẹ.


Nhà vua nhìn chàng đầy kinh ngạc rồi phán rằng:


- Khanh sẽ là người đứng đầu quân đội của ta mà không phải đeo gươm, để cho ta yên tâm rằng vương quốc của ta được an toàn không hề lo sợ bất cứ kẻ thù nào, bởi vì chưa người anh hùng nào cầm quân tài giỏi hơn khanh, đã đánh thắng một kẻ thù đông hơn gấp bội. Khanh hãy cầm lấy tấm đai lưng của trẫm để làm dấu hiệu của quyền uy và giữ lấy con ngựa của trẫm đây, khiến mọi người biết rằng khanh là người cao quý nhất trong các tướng sĩ của trẫm.


Nhưng Virata cúi nhìn xuống đất một lần nữa và tâu:


- Đấng vô hình đã báo hiệu cho thần biết và trái tim của thần đã thấu hiểu điều đó. Thần đã giết chết anh thần để hiểu được rằng kẻ nào xâm phạm tính mạng một con người, thì kẻ ấy giết anh mình. Thần không thể làm tướng được, bởi vì sức mạnh nằm trong lưỡi gươm, mà sức mạnh là trái ngược với công lý. Kẻ nào phạm tội giết người thì bản thân kẻ đó như đã chết rồi. Vả lại thần không muốn thần là kẻ gieo rắc sợ hãi, và thà rằng thần ăn bánh của kẻ hành khất còn hơn là không tôn trọng điềm báo hiệu mà thần đã nhận biết được ý nghĩa. Cuộc đời chỉ là kiếp phù du trong vòng luân hồi vĩnh cửu. Xin bệ hạ hãy để cho thần sống cuộc đời của mình như một con người công minh.


Nét mặt nhà vua thoáng sa sầm lại, và bao quanh ngài là bầu không khí lặng ngắt khiếp sợ cũng lớn lao như sức mạnh reo hò khi nãy, bởi chưng từ đời cha, đời ông cũng như đời các cụ tổ, người ta chưa từng nghe nói có một con người tự do nào đã chối từ không ra trận mạc và có một ông hoàng nào đã khước từ ân huệ vua ban. Nhưng đấng quân vương nhìn những con diệc linh thiêng, biểu hiện của chiến thắng mà Virata đã chiếm lại được, và nét mặt ngài lại rạng rỡ khi ngài lại cất lời phán truyền:


- Virata, bao giờ trẫm cũng biết rõ khanh đã dũng cảm chống lại kẻ thù của trẫm, và là một con người công minh nhất trong những thần dân trong vương quốc. Nếu như trẫm đành phải thiếu khanh trong các cuộc chinh chiến, trẫm vẫn không thể hoàn toàn không cần đến sự giúp đỡ của khanh. Chính vì khanh biết thế nào là tội lỗi và cân nhắc tội lỗi như một người công minh, khanh sẽ là viên pháp quan cao nhất trong các pháp quan của trẫm. Từ trên thềm sân rồng của trẫm, từ nay khanh sẽ xử án để cho chân lý được gìn giữ trong các bức tường thành của trẫm và pháp luật được tôn trọng trong khắp đất nước.


Virata cúi mình trước nhà vua và ôm lấy đầu gối ngài tỏ lòng biết ơn. Nhà vua cho chàng lên mình voi ngồi cạnh ngài và cùng trở về kinh đô sau mười ngọn tháp, ở đấy tiếng tung hô cuộn dâng quanh hai người như biển dậy sóng.


(còn tiếp)


Nguồn: Bức thư của người đàn bà không quen. Tập truyện của Stefan Zweig. Dương Tường dịch. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học sắp xuất bản.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người cha anh hùng của nữ thủy thần Undine - Heinrich Böll 11.09.2019
Mùi vị bánh mì - Heinrich Böll 11.09.2019
Cuộc đời trôi nổi của cái tách không quai - Heinrich Böll 11.09.2019
Chuyện đời của một trí thức - Vũ Hạnh 11.09.2019
Người chồng của vợ tôi - Vũ Hạnh 11.09.2019
Ăn Tết với một người điên - Vũ Hạnh 11.09.2019
Cho nó có đạo đức - Lê Mai 06.09.2019
Nhốt gió - Bình Nguyên Lộc 22.08.2019
Cái bẫy - Đỗ Trường Leipzig 11.08.2019
Ngoại tình tuổi 50 - Vũ Ngọc Tiến 30.07.2019
xem thêm »