tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829506
Tiểu thuyết
04.04.2019
Triệu Xuân
Sóng lừng (VN. Mafia)

Chương Ba nay được update đầy đủ 8 trang ở cuối chương, như toàn văn bản in đầu tiên năm 1991.


CHƯƠNG BA


 


Khối lượng vận chuyển lương thực ra Bắc của Liên hiệp vận tải tăng lên rõ rệt. Nhà báo đến với liên hiệp ngày càng nhiều; không phải để điều tra phê phán như trước; mà là ca ngợi, khẳng định.


 


Với cương vị phó Tổng giám đốc phụ trách nội chính, Trần Ngọc Đôn là người chuyên tiếp các nhà báo. Tế nhị và lịch lãm, niềm nở và khiêm tốn; tự tin và đấy sức thuyết phục, đó là những ấn tượng mà Tám Đôn gây cho các nhà báo đến gặp ông. Cùng với thái độ ấy là sự đón tiếp quá ư chu đáo, sôm tụ về chuyện ẩm thực của văn phòng Liên hiệp vận tải, khiến cho các nhà báo không chê vào đâu được.


 


Quả như lời Thức nói lúc xin Tám Đôn cho vợ chồng Kim Tiền thuê tàu chở lúa. Việc làm này mở ra một mô hình “Nhà nước và nhân dân cùng làm vận tải” và một tờ báo vừa đăng bài với hàng tít lớn trên trang nhất, nhiệt liệt ca ngợi Tám Đôn như một người đầy sáng tạo. Ban đầu, vợ chồng Kim Tiền chỉ được thuê chiếc tàu đã bị hỏng máy mà Liên hiệp không có khả năng đại tu. Sau thì Liên hiệp giao cho Kim Tiền hai chiếc khác cũng ở tình trạng nằm ụ. Và sau nữa, cho thuê luôn chiếc tàu đang hoạt động cùng toàn bộ giàn thủy thủ, thuyền trưởng. Như vậy, vợ chồng Kim Tiền đang sử dụng bốn chiếc tàu Nhà nước. Tổ hợp Duy Nhất bỗng chốc nổi tiếng. Tiếng lành đồn xa. Ông Bộ trưởng đến thăm và trao bằng khen cho tổ hợp Duy Nhất. Một tổ hợp nhỏ, đã vận chuyển được khối lượng lương thực bằng một đơn vị lớn của Nhà nước. Tỷ lệ hao hụt bằng đúng định mức cho phép. Đó là điều chưa từng có. Xưa nay, ở các đơn vị vận tải quốc doanh, tỷ lệ hao hụt thực tế (đối với lương thực) thường gấp ba, gấp bốn, có lúc gấp mười lần định mức cho phép. Vậy mà nay, một đơn vị vận tải ngoài quốc doanh lại đạt tỷ lệ hao hụt thấp như thế? Huyền thoại à? Để tuyên truyền chứ gì? Không! Quả là như vậy. Tổng giám đốc Liên hiệp hiện đang lâm bệnh nguy kịch cho nên ông Tám Đôn được thay mặt Liên hiệp vận tải đi báo cáo điển hình khắp trong Nam ngoài Bắc. Lần đầu tiên, kể từ khi quốc hữu hóa các hãng tàu tư nhân, thành lập Liên hiệp vận tải cho đến nay, đơn vị này đã đạt con số kỷ lục: một trăm phần trăm số đầu phương tiện hoạt động. Không có tàu nằm ụ! Ông Bộ trưởng xưa nay thường chỉ trích Liên hiệp, nay tỏ lời khen ngợi. Cuối năm ấy, Hội đồng bộ trưởng cấp bằng khen cho Liên hiệp vận tải về thành tích vận chuyển lương thực! Khách khứa đến với liên hiệp đông như đi lễ Bà Chúa Xứ. Tất nhiên là Tám Đôn trở thành nhân vật quan trọng. Mọi việc liên quan đến công tác đối ngoại như tiệc tùng, quà cáp đều do ông quyết định. Ông nói một tiếng, mọi việc đâu vào đó tức thì.


Tám Đôn nghĩ rằng mình đã làm thay đổi tận gốc rễ số phận của Liên hiệp vận tải. Không có ông, nó bị giải thể rồi! Thằng Thức nói có lý. Cứ đà này, cái ghế Tổng giám đốc, và sau đó cái ghế thứ trưởng, rồi Bộ trưởng thuộc về ông mấy hồi! Những lúc ngồi trên xe hơi máy lạnh đi báo cáo với Bộ trưởng cũng như đi báo cáo kinh nghiệm quản lý, điều hành, Tám Đôn tự coi mình như một anh hùng. Trong chiến tranh, ông đã nhiều lần tự phong anh hùng cho mình. Nay làm kinh tế, Đôn lại mang danh hiệu ấy. Có lẽ vì thế mà Đôn coi thường Tổng giám đốc và ba tay phó tổng kia.


 


Tổng giám đốc hiện có quyền lực; ba tay phó tổng đều có bằng cấp này nọ (nhưng có làm được trò gì ra hồn) chứng tỏ cho các tay ấy biết rằng: đừng có tơ lơ mơ với tôi. Đừng tưởng thằng này mới học hết lớp bốn bổ túc văn hóa mà khinh à nghe! Bằng cấp thằng này chưa có, nhưng còn những thứ khác, Đôn này có tất. Muốn gì có nấy! Hiểu không? Có ai mạnh được như vậy không? Con người ta, ai mà không ham vàng, ham tiền, ham gái? Đó! Vì thế mà Đôn này mạnh nhất ở Liên hiệp, cần chữ ký của bất cứ cấp trên nào, Đôn lo là xong liền. Có tiền mua tiên cũng được. Đời là một cuộc mua bán. Mọi thứ tư tưởng, quan điểm, chủ nghĩa chỉ là phấn son trên mặt người đàn bà. Môi đỏ hay môi hồng, hay môi nâu… thì bên trong lớp son môi ấy cũng là bờ môi, khao khát dục tình. Chỉ có là đồ mộc thạch mới từ chối gái, từ chối tiền. Tiền vừa là phương tiện vừa là cứu cánh. Tiền là chúa của các chúa tể. Phút chốc, Tám Đôn cứ ngỡ mình là bậc triết gia, bởi Tám Đôn rất khoái với những “phát kiến” vừa rồi. Đôn nhớ đến cái đoạn người ta cho Đôn đi học Trường Đảng cao cấp Trung ương. Lúc chưa đến học, Tám Đôn lo sợ vô cùng. Đôn lo nhất là cái vụ học, ớn nhất là cái vụ học. Thuở còn trai trẻ, tập kết ra miền Bắc, vợ là giáo viên mà Đôn chỉ học đến hết lớp bốn bổ túc văn hóa là ớn đến tận cổ rồi. Nay, đi học trường Đảng cao cấp Trung ương, biết gì mà học? Người Diễn Thuyết, người anh đỡ đầu của Đôn rỉ tai nói: Tôi lo cho. Chú nên nhớ, đó là cái lò đào tạo cán bộ lãnh đạo. Ai muốn trở thành thủ trưởng thì phải qua cái trường ấy! Vậy là Tám Đôn vững chí đi học. Nói cho đúng: đi nghỉ điều dưỡng. Bởi từ Sài Gòn ra Hà Nội học, Đôn xách theo một catáp đầy nhóc tiền và vàng. Ngày nào cũng nhậu. Gái tơ Hà Nội chả thiếu. Đến trường được một vài tuần, Tám Đôn mới vỡ nhẽ ra rằng (trong mắt ông) hầu hết các học trò ở đây đều có trình độ cỡ Tám Đôn! Những kẻ gian manh, đầy mưu mô thủ đoạn thường chủ quan đến mức ngu muội khi nhìn nhận người đời. Vì thế, Tám Đôn tưởng ở trường này ai cũng như mình! Thế là Đôn vững tâm. Cứ việc ăn chơi cho thỏa chí! Cho đến lúc mãn khóa, Tám Đôn cũng được cấp bằng đỏ như ai! Sướng quá trời! Đôn nghĩ, trên hành tinh này không biết có xứ sở nào có một học viện như ở đây. Bất cứ anh có tài hay không, học lớp ba hay lớp bốn, khi đã vô đây học là cầm chắc sẽ được đề bạt làm thủ trưởng! Sướng quá trời. Nhận cái bằng đỏ, Tám Đôn càng thấm thía sức mạnh của đồng tiền, của vàng. Bao nhiêu thứ chủ nghĩa, lý thuyết mà người ta giảng trên bục cũng chẳng bằng tiền và vàng. Có tiền, có vàng thì muốn lấy bằng gì mà chẳng được!


 


Nếu không có vụ phát giác nguồn gốc út Phụng thì Đôn đã được thăng chức. Đây là mối hận lớn. Đôn thề: còn sống thì phải trả bằng được mối hận này. Tên phát giác sẽ phải chết. Việc chuyển Tám Đôn qua Liên hiệp vận tải là theo ý kiến của Người Diễn Thuyết. Tám Đôn biết vậy. Nếu không có vị cứu tinh này thì có lẽ Đôn phải vô tù! Giờ đây, khi đã yên vị ở Liên hiệp vận tải, ngấp nghé chức Tổng giám đốc, Đôn càng nung nấu quyết tâm ngoi lên chức Tổng càng sớm càng tốt. Với cương vị ấy, Đôn sẽ mặc sức hốt bạc, không phải đề phòng, cảnh giác tối ngày như hiện nay.


 


Đối với ban lãnh đạo Liên hiệp, Đôn thấy có thể đưa vào tròng cả đám, ngoại trừ một người. Đó là Thanh. Đây là địch thủ đáng gờm nhất. Đôn nghe phong phanh rằng Thanh sẽ được Bộ trưởng đề bạt làm Tổng giám đốc. Càng ngày Thanh càng lộ rõ xu thế đối đầu với Đôn. Đôn rất căm. Tuồng như mọi việc của mình làm nó đều xía vô. Phải tìm mọi cách trị thằng lỏi này mới được. Phải cho nó biết Tám Đôn này là thế nào? Nếu không qui hàng ta thì chỉ có thân bại, danh liệt.


 


Nhưng đó chỉ là những ý nghĩa thầm kín. Bề ngoài Tám Đôn vẫn nổi tiếng là người mềm mỏng, biết điều, lịch sự, luôn lo lắng cho mọi người. Cả ban lãnh đạo, các trưởng phó phòng đều tỏ ra vì nể Tám Đôn. Mọi việc từ chuyện Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, đều được xin ý kiến anh Tám.


 


Ở trên Bộ, người ta nhận được nhiều thư tố cáo lực lượng bảo vệ buôn lậu, thông đồng cới bọn buôn lậu trốn thuế và đặc biệt là chia chác toàn bộ số hàng hóa tịch thu được, chỉ nộp cho Nhà nước rất ít. Một đoàn thanh tra của Bộ xuống Liên hiệp vận tải làm việc. Toàn bộ hồ sơ, chứng từ, hóa đơn của bảo vệ Liên quan đến hàng hóa tịch thu, được gom lại, mang lên phòng họp giao ban của ban Tổng giám đốc để đoàn thanh tra làm việc. Buổi trưa đầu tiên, khi đoàn thanh tra ngủ trưa, toàn bộ số tài liệu để trong tủ có khóa hẳn hoi đã không có cánh mà bay! Tất nhiên, một bộ hồ sơ khác đã được gửi tới đoàn thanh tra. Rất rõ ràng, minh bạch. Đoàn thanh tra kết luận: không có tiêu cực trong lực lượng bảo vệ! Hóa ra những đơn tố cáo về chuyện tham lậm hàng hóa, thẻ kho giả, ăn hối lộ, thông đồng với giới buôn lậu quốc tế v.v… là vu cáo. Mặc nhiên, những người ủng hộ việc thanh tra bị mang tiếng là vu cáo, là đấu đá, ganh ghét Đôn. Và ngược lại Tám Đôn khẳng định được thế lực của mình. Đôn là như thế. Chúng bay đánh ông? Sức mấy! Chúng bay có quy cho ông tội chia chác hàng hóa tịch thu? Ha Ha! Đôn thắng keo này. Đôn biết là Nguyễn Thanh đau lắm. Mi sẽ còn đau hơn, thân bại danh liệt, nếu mi không quy thuận ta, Ha Ha Ha!


 


Hai trinh sát bám theo lộ trình của xà lan lash đã bị bọn tội phạm thủ tiêu. Việc điều tra tưởng chừng bế tắc. Một ban chuyên án được thành lập do thiếu tướng Ba trực tiếp chỉ đạo. Dung được thiếu tướng rút lên, được làm việc trong ban chuyên án, và được thăng vượt cấp lên đại úy. Bây giờ, Dung làm việc trực tiếp với trưởng ban, không còn làm việc dưới quyền Ba Hoành. Thiếu tướng giới thiệu Dung đến làm việc với Thanh. Hai người dành nhiều thời gian làm việc riêng với nhau.


 


Thanh hỏi Dung:


- Anh có tin vào công việc của mình không?


- Tin chứ!


- Anh không sợ à?


- Sợ gì? Sợ ai?


- Sợ bị thủ tiêu.


- Nếu sợ, tôi đã không làm.


- Anh đã từng bị biệt giam mười bốn ngày, từng bị kỷ luật và… bị mất vợ!


- Anh tìm hiểu về tôi khá kỹ.


- Đúng. Trước khi cộng tác với ai, tôi phải hiểu kỹ người đó.


- Anh tin tôi chứ?


- Tin. Còn anh, vì sao anh lại… với tôi? Mà không phải các phó tổng khác?


- Tôi biết anh là người duy nhất ở đây đã khẳng định với hai Bộ trưởng giao thông và Nội vụ (tên bộ Công an lúc đó) rằng có tiêu cực lớn. Anh đã bị Tám Đôn cô lập, gài bẫy.


- Đúng vậy.


- Anh không sợ à? Dung hỏi lại đúng câu hỏi mà Thanh đã hỏi mình.


- Có chứ!


Dung biết là Thanh nói ý khác, nên im lặng chờ Thanh tiếp:


- Anh có biết tôi sợ gì không? Tôi sợ nhất là mình làm ngơ trước tội ác. Làm ngơ tức là tòng phạm.


Dung bắt tay Thanh thật chặt. Hai người trao đổi với nhau biện pháp để nắm được chứng cứ, tìm được đích danh thủ phạm chủ mưu; và những qui ước làm việc với nhau qua điện thoại, qua hộp thư khi cần. Cuối cùng, Dung hỏi Thanh:


- Anh có biết được vụ hủy hồ sơ gốc ở phòng bảo vệ không?


- Tất nhiên là có. Tôi được một quần chúng tốt giao cho một đống hồ sơ mà anh ta được lệnh đốt đi.


- Nó đâu rồi?


- Nó đã ở nơi an toàn! Nếu muốn anh sẽ được đọc nó. Nhưng rất tiếc, đó chỉ là số quá ít. Phần lớn hồ sơ gốc đã bị đốt rồi. Đặc biệt là hồ sơ về nhân sự. Rất nhiều trường hợp đang mang lý lịch giả. Bây giờ không còn cơ sở nào để kết luận tên này là có nợ máu, người kia là vô tội.


- Nghĩa là ngay trong lực lượng bảo vệ cũng có người tốt?


- Rất may là như vậy! Nếu không, làm sao xã hội loài người tồn tại đến nay!


Thanh nói đúng. Câu nói của Thanh đối với Dung như là sự khích lệ sâu sắc. Hơn bất cứ một nghề nào, nghề của Dung là phải tìm ra được người trung thực, người tốt, để hợp sức tiêu diệt cái ác. Có thể là Thanh đã có kế hoạch riêng. Dung nói:


- Tôi muốn… tôi đề nghị anh cài người vào chiến dịch “Moi ruột cá lóc”.


Thanh cười tủm tỉm, nhìn Dung, không nói gì. Rõ ràng là Dung sốt ruột:


- Anh làm rồi?


Thanh vẫn cười tủm tỉm. Dung nói:


- Anh phải chuyển sang ngành của tôi mới đúng. Anh khá rành nghiệp vụ công an.


- Có gì đâu! Đối diện với bọn tội phạm đầy thủ đoạn thâm độc mà ta khờ khạo thì chỉ có chết!


- Hiện tại, anh với Đôn thế nào?


- Hồi đầu, tôi bị ông ta mê hoặc. Có lúc, tôi rất quý mến ông ta. Nhưng chỉ một thời gian, tôi hiểu ngay chân tướng của ổng. Ba lần tôi bắt hàng lậu thì cả ba lần ổng can thiệp và nhờ người nào đó can thiệp để tha. Nhân viên bảo vệ dưới quyền ổng có hành động thô bạo khi khám xét công nhân. Vì đói quá, đồng lương quá thấp không tài nào sống nổi, cho nên ai cũng tìm cách mang ra khỏi cổng một lon uy gô phân đạm hoặc một bịch đường cát dấu trong bụng, trong ngực… Thật xót xa. Họ không phải là hạng người ăn cắp, ăn cướp. Vậy mà họ lại bị chính những tên ăn căp, ăn cướp mạt sát thô bạo. Tám Đôn đưa cho tôi danh sách hàng trăm công nhân bị bảo vệ bắt quả tang ăn cắp phân đạm, đường, bột ngọt… bị ổng làm quyết định đuổi khỏi liên hiệp. Tôi phản đối. Thế là ổng quy cho tôi cái tội dung túng bọn công nhân tiêu cực; chống đối lực lượng chuyên chính vô sản tại Liên hiệp vận tải, thông đồng với bọn ăn cắp tài sản Xã hội Chủ nghĩa! Tám Đôn gửi thư lên Bộ trưởng yêu cầu cách chức tôi. Vào đúng dịp đại hội Đảng toàn quốc, tôi là đại biểu đi dự Đại hội; ở nhà, ổng tổ chức họp Đảng ủy ra nghị quyết đề nghị khai trừ tôi khỏi Đảng rồi gửi văn bản ấy cho Ban kiểm tra tư cách đại biểu. Rất may là bộ đã trả lời nhanh chóng, bảo vệ tư cách đại biểu của tôi. Tóm lại, đã đến lúc quyết liệt rồi. Mặt đối mặt rồi!


 


Nửa tháng sau cuộc trao đổi ấy, “nhân mối” của Thanh đã cung cấp nhiều tin tức giá trị. Đã tìm ra kẻ chuyên tiêu thụ hàng lậu. Đã tìm ra những điểm xuống hàng, những ông chủ tịch huyện huy động công an và bộ đội canh gác cho bọn ăn cắp xuống hàng. Đặc biệt, đã tìm ra tên Mít là kẻ “có sáng kiến dùng bình gió đá loại nhỏ đưa xuống xà lan để khui niêm hàn. Việc ăn chia, phương thức chuyển tiền thành vàng mang đi Campuchia mua hàng lậu trở về Việt Nam v.v… Những tin tức này khớp với những chứng cứ mà nhóm của Đại úy Dung thu thập được. Duy chỉ có một điều không thể nào tìm ra sự liên hệ giữa bọn thừa hành với kẻ chủ mưu. Bàn tay của Đôn, Thức luôn luôn sạch sẽ.


Tám Đôn là người kiệt xuất trong chuyện này.


 


*  


Tết Dương lịch, Hội đồng bộ trưởng tặng Bằng khen cho Liên hiệp vận tải. Tám Đôn tổ chức chiêu đãi mừng năm mới tất cả thuyền trưởng và thủy thủ các tàu nước ngoài cũng như tàu Việt Nam đang neo đậu. Tiệc tổ chức tại Câu lạc bộ Thủy thủ. Tổng giám đốc vẫn nhường vai trò chủ xị cho Đôn. Sau diễn văn của Tám Đôn, rượu champagne nổ như pháo từ mười bẩy giờ, kế đó là đủ các loại rượu Tây, bia lon. Tiệc kéo dài đến hai mươi giờ thì tới màn khiêu vũ. Đội vũ nữ câu lạc bộ thủy thủ gồm những cặp giò và bộ ngực rất hấp dẫn. Nhưng, như mọi khi, trước đám đông, Tám Đôn tỏ ra rất… chừng mực. Ông về sớm. Sau một bản nhạc là ông lặng lẽ rút lui. Không ai biết rằng ở một “bến cảng” tiện nghi tuyệt hảo, con mồi tơ do Nguyễn Thức mới mua đang nằm đợi ông.


 


24 giờ đêm. Chuông điện thoại reo. Tám Đôn biết ai thường gọi vào giờ này. Chỉ có người ấy mới gọi cho Đôn vào giờ này. Đôn cẩn thận khép chặt cánh cửa cách âm ngăn phòng ngủ với phòng đặt máy điện thoại rồi cầm ống nghe. Tiếng nói rất gần. A! Thì ra ổng mới vô Sài Gòn! Đôn chưa kịp hỏi thăm sức khỏe thì Người Diễn Thuyết đã nói:


- Tôi báo cho chú một tin dữ: có kẻ đang lập hồ sơ về vụ án “moi ruột có lóc”. Chú liệu mà ứng phó.


- Dạ thưa anh! Xin anh cứ yên tâm! Bọn nó không làm được trò trống gì đâu.


 


*  


Sau khi ly hôn, căn hộ trong khu tập thể của Lê Dung được chia làm hai. Phòng ngoài, nhà bếp và buồng tắm thuộc quyền sở hữu của Chi. Phòng trong nhỏ hơn, vốn là phòng ngủ của hai vợ chồng, nay là nhà của Dung. Tài sản trong nhà thuộc về người được nuôi con, tức là Chi. Chi gửi con về bên ngoại. Một tháng sau, đứa bé bị dịch sốt xuất huyết cướp đi mất. Dung thương nhớ con bao nhiêu thì Chi lại thờ ơ với chuyện đó bấy nhiêu. Con chết mới được vài ngày, Chi đã mời bạn nhảy về ở hẳn với mình. Tối ngày Lê Dung bị tra tấn bởi tiếng nhạc nhảy, những bước chân và những tiếng cười rú lên, thỏa mãn. Anh không chịu nổi. Anh bỏ nhà, đến ở luôn tại phòng làm việc.


 


Lê Dung nhận được điện của cô giáo Mai báo tin mẹ chồng, tức là mẹ của Lữ bệnh nặng. Dung đến nơi thì không phải chỉ có bà cụ bệnh nặng mà Mai cũng bị sốt cao. Sáu năm đã trôi qua kể từ ngày chồng bị bắn chết. Mai bị buộc thôi việc, phải tần tảo may mướn lấy tiền nuôi mẹ chồng và đội đơn đi kiện tứ phương để minh oan cho chồng. Mẹ chồng bệnh nặng cả tháng nay, Mai kiệt sức vì lo lắng cho mẹ. Trong nhà Mai, ngoài cái máy may, không còn thứ gì có thể bán được để nuôi mẹ. Bí quá, Mai phải đánh điện tín báo tin cho Dung biết. Làm việc này, cô khổ tâm lắm! Nhưng không còn con đường nào khác. Mai hiểu, làm phiền đến Dung lúc này là không nên. Anh ấy vừa mất con, mất vợ, hạnh phúc tan nát. Mai là cái gì mà có quyền phiền anh ấy. Nhưng… tự trong lòng Mai, có tiếng gọi của chồng thúc dục: “Em ơi! Đừng ngại! Dung là người bạn tốt của anh. Em có thể tin cậy hoàn toàn vào anh ấy như em đã tin anh! Làm người, lúc gian nan mới cần đến nhau và sẵn sàng giúp nhau thế mới là Người! Cứ báo tin cho Dung biết, anh ấy sẽ đến giúp em! Anh cho phép em!”.


 


Căn nhà thấp lè tè, mái lợp tôn, nóng hầm hập. Nhưng trán Mai còn nóng hơn cả nhiệt độ trong nhà. Đặt bàn tay lên trán cô, Dung xuýt kêu lên vì Mai đang sốt mê mệt. Anh đến, Mai không hề biết. Dung lấy hộp sữa trong cái xắc cốt của mình - món quà thăm người mẹ đang bệnh nặng - đặt lên bàn máy may. Dung lấy khăn mặt nhúng nước đắp lên trán Mai.


 


Làm xong việc ấy, anh chạy ra y tế phường báo cho bác sĩ. Không có ai ở đó cả. Cửa đóng im ỉm. Dung qua hiệu thuốc. Trong túi anh còn vài đồng bạc vừa đủ mua mấy viên thuốc hạ sốt. Mai vẫn nằm mê man trên giường. Chiếc khăn ướt bây giờ cũng nóng dẫy. Dung nhúng nước và để nguyên chiếc khăn ướt lau mặt, lau cổ cho Mai. Đôi môi Mai mấp máy. Dung nhìn thấy đôi môi cô phồng rộp. Chắc là Mai bị sốt lâu rồi. Dung cho cô uống thuốc. A, phải rồi, phải cho uống sữa ngay bây giờ. Có lẽ cô ấy không ăn uống gì. Tội nghiệp! Giá như Lữ còn sống thì đâu đến nông nỗi này. Trong lòng Dung nhói lên nỗi đau. Đau cho bạn. Đau cho mình. Dung biết rõ thủ phạm đích thực gây nên nỗi đau này.


 


Mai nói mê. Câu đầu tiên cô nói:


 


- Anh Lữ! Em chết mất anh ơi!


 


Dung khom người, cúi xuống nói với Mai:


 


- Không! Em sẽ khỏe lại! Ráng uống sữa đi em!


 


- Anh… Mai tỉnh hẳn. Anh Dung đó à! Vậy mà… Em ngỡ là…


 


- Em mơ thấy Lữ, đúng không?


 


- Dạ. Em bị sốt từ ba hôm nay. Trong cơn mê, em thấy anh Lữ còn sống về chăm sóc mẹ giúp em.


 


Dung đưa ly sữa cho Mai. Cô nhìn Dung lộ rõ vẻ biết ơn. Hai tay cô run run cầm ly sữa. Nhưng cô cầm không nổi. Dung biết vậy. Anh nói:


 


- Em ngồi dựa vô tường. Anh múc sữa giúp em.


 


- Chết, phiền anh quá!


 


- Đừng nói vậy. Em phải nghe lời anh. Nào. Ráng uống cho lại sức. Uống sữa xong rồi uống thuốc.


 


Lúc Mai nuốt những muỗng sữa đầu tiên. Dung thấy cô rất mệt, phải cố gắng lắm mới nuốt được. Những đường gân xanh nổi rõ trên cổ, trên mặt cô. Mắt cô trũng, tóc bết lại. Đã thấy lấm tấm mồ hôi rịn ra sau gáy. Mai uống thuốc xong, Dung đỡ cô nằm xuống.


 


- Em đội ơn anh!


 


- Không được nói như vậy nữa. Nào, ráng ngủ đi. Em bị kiệt sức nên trúng gió, cảm cấp tính đó thôi. Em sẽ mau chóng bình phục. Nào, ngủ đi. Bây giờ anh vô bệnh viện thăm má. Tối, anh trở lại với em.


 


- Em thật có lỗi. Em đã làm anh cực.


 


- Nào ngủ đi. Anh đã nói rồi. Không được nhắc lại những lời đó nữa. Anh đi nghe!


 


Dung về nhà xin má được ít tiền. Anh trở lại cơ quan xin ứng trước lương tháng sau rồi hối hả đến bệnh viện thăm mẹ của Lữ.


 


Một tuần sau, bà mẹ chết trên tay Dung. Trước khi chết, bà nhìn Dung, nhìn Mai nói:


 


- Má chết đến ngực rồi. Má xin hai con ráng đi thưa để minh oan cho thằng Lữ! Và má mong hai con kết duyên chồng vợ. Có được không? Nếu được thì hai con nói, cho má yên lòng nhắm mắt.


 


Mai nắm chặt hai bàn tay đã lạnh của bà cụ, vừa khóc vừa nói:


 


- Má! Con hứa với má… con sẽ đi thưa cho đến bạc đầu để minh oan cho chồng con!


 


Dung nói:


 


- Thím hãy tin là chúng con sẽ minh oan được cho Lữ. Con hứa với Thím Tư chắc chắn là thế.


 


Đôi mắt bà mẹ cứ nhìn Dung chăm chú như muốn hỏi: chừng nào hả con? Dung lau nước mắt, rồi run rẩy đặt ngón tay trỏ của mình lên mí mắt người chết. Đôi mắt bà mẹ khép lại. Lần đầu tiên trong đời anh làm động tác này. Với con anh, anh không được thấy mặt trước khi cha con vĩnh viễn xa nhau. Con anh mất khi anh đang bí mật bám theo một tàu kéo dắt xà lan lash đi Campuchia. Đó là chuyến đi đầy mạo hiểm của Dung. Nhờ chuyến đi ấy mà anh hoàn tất được hồ sơ vụ án.


 


Đám tang của bà mẹ “một tên phản bội” diễn ra thật não nề. Trời mưa sầm sập. Chỉ có chừng mươi người đi tiễn bà Tư về nơi an nghỉ cuối cùng. Mai đi không vững. Cô hoàn toàn kiệt sức, cả về thể xác lẫn tinh thần. Nếu không có Dung, chắc chắn cô không lo nổi việc an táng cho má chồng. Cô biết lấy gì để đền ơn Dung? Bây giờ, trong tâm linh cô, bên cạnh hình ảnh người chồng mà cô vô cùng yêu thương, có hình ảnh của Dung. Cô coi Dung như người anh mà cô rất kính trọng, cô mang ơn Dung.


 


*  


 


Sáng chủ nhật, Thức dậy sớm. Đã thành nếp từ nhiều năm nay, ngày chủ nhật Thức giành trọn cho vợ con. Chỉ trừ những khi phải đi xa thành phố, còn thì chủ nhật nào Thức cũng đưa vợ con đi chơi. Những địa điểm gia đình Thức vui chơi là Vũng Tàu, Lái Thiêu, Thủ Đức. Vào kỳ nghỉ hè, năm nào Thức cũng cho vợ con đi Đà Lạt. Trong những chuyến du ngoạn, bao giờ Thức cũng giành làm tất cả mọi việc: từ việc ủi quần áo cho vợ và các con, đến việc đi tiệm Như Lan nổi tiếng ở chợ Cũ mua thức ăn đồ uống mang theo. Đến nơi, Thức không để vợ con làm bất cứ việc gì. Những ai đã từng chứng kiến cảnh sinh hoạt của gia đình Thức, đều phải thầm ao ước giá như gia đình mình cũng được hạnh phúc như vậy. Rất ít khi, hầu như không bao giờ Thức la mắng vợ con. Vả chăng vợ Thức rất hiền thảo, con Thức rất ngoan, học giỏi cho nên Thức không có điều gì để mà phiền trách. Công việc của Thức, Thức tính toán, hành động ở nơi khác. Khi về nhà, Thức rũ sạch mọi thứ, để lòng thanh thản bên vợ con. Điều đó đã trở thành thói quen. Cho dù Thức vừa chỉ đạo một vụ giết người, khi về đến nhà, Thức quên phắt những chuyện ấy. Có lẽ vì thế mà trên mặt Thức, luôn luôn có nụ cười.


 


Thức lễ mễ xách cái giỏ đầy ắp thức ăn, đồ uống vừa mua từ chợ Cũ vào nhà. Vợ con Thức vẫn chưa sửa soạn xong. Quần áo Thức đã ủi sẵn. Thức dậy từ bốn giờ sáng là vì thế. Đích thân Thức tắm cho đứa gái út. Thức pha nước vừa đủ ấm, ẵm con gái trên tay, cẩn thận gội đầu cho con y như con bé mới được vài tháng tuổi. Vợ chồng ao ước có đứa con trai nhưng càng đẻ, chỉ thấy toàn gái. Năm con gái. Ngũ long công chúa. Thức an ủi vợ. Thức buồn, nhưng biết là vợ buồn hơn vì vợ bao giờ cũng lo chồng buồn. Thức bảo vợ: Anh và em sẽ nuôi dạy ngũ long công chúa thật tốt, đứa nào cũng xinh đẹp, cũng vào đại học, thành tài. Thấy con mình, ai cũng phải phục nghe em! Con gái út đã mười tuổi, nhưng Thức vẫn tắm cho con. Con gái lớn năm nay hai mươi tuổi, đang học đại học sư phạm, năm thứ hai. Cô Ba thì học đại học y dược, năm thứ nhất. Cô tư năm nay thi tốt nghiệp trung học. Cô năm sinh sau chị tới sáu năm, năm nay đang học lớp sáu. Cô út, con gái cưng đang được ba tắm cho, năm nay học lớp năm. Thức rất tự hào về đàn con. Đứa nào cũng xinh đẹp, giống mẹ ở nước da trắng và tính tình hiền dịu. Đứa nào cũng thông minh, học giỏi nhất lớp. Cha Thức cũng vậy. Ông thường ngắm các cô cháu gái và gật gù hài lòng. Giá như có lấy thằng con trai cho ông! Đấy là ước ao của cha Thức, của Thức. Nhưng hai người đàn ông ít thổ lộ điều đó ra, sợ làm mất vui người khác. Bốn chị em đi hai chiếc cúp nữ hoàng màu đỏ. Thức chở vợ và đứa con gái út trên chiếc Dream II màu mận chín. Tất cả đều mang bảng số chín nút. Ba chiếc xe nổ máy êm ru chờ vợ Thức ra để xuất phát. Vợ Thức đang khóa cửa thì có chuông điện thoại.


 


- Anh ơi! Có điện thoại.


 


Thức tắt máy xe, rút chìa khóa, đi vào nhà.


 


- Em và các con chờ anh vài phút.


 


- Dạ.


 


Vợ Thức bước ra ngoài. Không bao giờ, khi chồng đang nói chuyện qua điện thoại, cũng như nói chuyện với khách mà chị lại ở bên chồng. Công việc của chồng chị không được phép biết tới, chồng chị đã yêu cầu chị như thế, ngay trong đêm tân hôn cách đây 21 năm. Và hai mươi mốt năm qua, chị không vi phạm một lần cái nguyên tắc này.


 


Nghe giọng. Thức nhận ngay ra Đôn.


 


- Dạ thưa anh Tám, có em!


 


- Ồ. Chú mày đang phục vụ vợ con hỉ? Có chuyện cần bàn gấp. Đến anh liền bây giờ.


 


- Dạ… Anh Tám…


 


- Đến liền, hỉ?


 


Thức hiểu đó là mệnh lệnh. Không thể khác được. Mặt Thức thoáng buồn rồi bình thản lại ngay. Thức đưa vợ và các con đến khu du lịch Kỳ Hoà, mua vé vào cổng cho cả nhà. Đặt bé gái út lên chiếc máy bay, chờ cho công tắc điện được nhân viên điều hành nhấn nút, Thức mới tạm biệt vợ con, quay về với công việc.


 


- Anh phải xin lỗi em, có việc đột xuất. Ba xin lỗi các con! Ba phải đi gấp! Các con vui chơi, đừng để má buồn nghe!


 


Thức phóng xe như bay đến “bến cảng”, nơi Tám Đôn với con mồi mới đang còn nằm ôm nhau trong phòng ngủ. Chủ của động này là một người đàn bà đã năm mươi nhưng còn nhiều nhan sắc. Thức hỏi:


 


- Chị Ba, ổng hài lòng chứ?


 


- Trời ơi, tôi rầu thúi ruột à chú Hai! Con nhỏ nó nhát quá. Nó… còn nhỏ qúa, nên đau. Nó la quá. Cửa cách âm rồi mà tôi ngồi ngoài phòng khách còn nghe rõ. Suốt từ hồi hôm tới giờ, nó mới cho ổng có một cái à… Chú nói với ổng giúp tôi một tiếng nghe. Ổng đang giận hay sao đó.


 


- Thôi được. Chị Ba xuống dưới nhà đi.


 


Người đàn bà vừa xuống dưới nhà thì cửa phòng ngủ mở ra. Chiếc váy đỏ ngắn, nhàu nát để lộ cặp chân mảnh khảnh, bộ ngực mới nhú lên. Thức nhìn vào mặt con bé. Nó còn con nít. Nó sợ. Có lẽ nó bị đau thật! Con bé cúi đầu, len lén bước xuống cầu thang. Thức rủa thầm: con mụ Ba này cáo già thiệt! Vậy mà dám quảng cáo là mơn mởn đào tơ, chặt đẹp sáu chỉ! Chắc là ổng quạu cho coi.


 


Nhưng Tám Đôn gọi Thức đến không vì chuyện đó. Uống ực một hơi cạn ly sữa hột gà nóng, Đôn nhìn Thức, nói vừa đủ nghe:


 


- Anh gọi chú mày, phá ngày phục vụ vợ con của chú mày vì có chuyện gấp. Chiến dịch “Moi ruột cá lóc” đã bại lộ. Chúng nó đang làm thủ tục khởi tố. Ngày mai, 12 giờ trưa là tụi nó sẽ ra tay: sẽ bắt làm nhiều đợt. Đợt đầu, sẽ bắt hai chục thằng. Bởi vậy, anh ra lệnh cho chú mày phải khử.


 


- Em xin anh Tám cho khử thằng Dung từ lâu rồi, anh đâu có chịu.


- Im đi. Chú mày ngu lắm! Năm ngoái mà khử nó thì có khác gì chú mày bảo với công an rằng việc ăn cắp hàng ở xà lan lash là có thật.


 


- Vậy phải khử nó ngay hôm nay?


 


- Ai? Chú mày bảo khử ai?


 


- Thằng Dung!


 


- Trời ơi. Sao ngu lâu thế? Nên nhớ rằng bây giờ không ai có thể đụng đến lông chân của nó. Nó không phải con nít. Chú mày đúng là… hữu dõng vô mưu.


 


Lần đầu tiên Thức nghe Tám Đôn chửi mình ngu và hữu dõng vô mưu. Thức cúi đầu nuốt giận. Từ ngày được Tám Đôn cho làm lại lý lịch, Thức tự nguyện coi mình là con chó trung thành với chủ. Không một việc gì Thức làm lại không xuất phát từ ý nghĩ: phải làm sao cho ổng vui lòng.


 


- Già dơ như tao mà còn không dám thịt nó, chỉ vô hiệu hóa nó, hiểu chưa? Đã hai lần tao vô hiệu hóa nó. Nhưng thằng Ba đã cứu nó. Nó có chỗ dựa không tồi. Thằng cha thiếu tướng Ba, kẻ thù không đội trời chung của tao, chính là người đã chỉ đạo cho thằng Dung điều tra vụ “Moi ruột cá lóc”. Chú mày nghe đây. Bây giờ không phải lúc trả thù thằng Ba hay thằng Dung. Hãy để chuyện đó lại sau này ta tính. bây giờ phải vô hiệu hóa tất cả chứng cứ buộc tội của chúng nó. Trước hết, ngay ngày hôm nay, chú mày phải khử thằng thợ hàn…


 


- Thằng Mít?


 


- Phải. Chính nó. Vì nó biết quá nhiều. Nó nhận lệnh của chú mày. Nó lại thấy mặt tao. Số nó chết!


 


Thức cố kìm nén sự hoảng hốt. Nếu lộ ra sự hoảng hốt, biết đâu, Tám Đôn chẳng cho người khử luôn cả mình. Kinh khiếp! Con người này quả sắt máu. Mít chính là người thực thi ý đồ của Tám Đôn và của Thức. Mít trực tiếp nhận lệnh của Thức. Mít là người có sáng kiến mang máy hàn gió đá lên xà lan để mở mối niêm hàn. Mít là người móc nối người tiêu thụ toàn bộ hàng lậu, và hàng ăn cắp từ tàu lash. Cũng chính Mít đã một lần kiếm gái tơ cho Tám Đôn. Đúng như Đôn nói: chỉ cần khử Mít là an toàn tuyệt đối.


 


- Còn những thằng kia, nội ngày hôm nay phải báo cho chúng nó để chúng chuẩn bị. Phải dạy chúng cách trả lời với công an. Dạy từ thằng giám đốc đại lý lash đến thằng đầu não tiêu thụ hàng. Phải làm cho chúng nó yên lòng. Chú mày hiểu không?


 


- Dạ, thưa anh Tám, em hiểu.


 


- Trước khi chúng bị còng tay, mọi việc phải như anh nói.


 


- Rõ.


 


- Chú mày đi được rồi!


 


*  


 


Thức ra lệnh cho đệ tử xong xuôi, vội vã trở về khu du lịch Kỳ Hòa vào đúng lúc vợ và các con Thức đang trải tấm bạt ra thảm cỏ dưới rừng thông, dọn đồ ăn. Thức reo lên:


 


- Cho ba ăn với! Cho anh ăn với em!


 


Năm đứa con gái của Thức cùng reo lên:


 


- Ba về! Ba về! Vui quá má ơi!


 


- Vắng anh, em và các con mất vui từ sáng tới giờ.


 


- Nào! Đưa dao đây ba cắt chả lụa cho nào.


 


Thức cắt cây chả lụa và liếc nhìn đồng hồ. Đúng 12 giờ trưa! Không để lộ điều gì, Thức chăm sóc việc ăn uống cho vợ, cho từng đứa con và cho mình. Những lon bia và cô ca được khui ra, hương thơm thoảng trong gió.


 


Đúng vào thời điểm đó, tại nhà của Mít, lũ con Mít ăn uống xong lăn ra ngủ say như chết trên lầu hai. Đêm qua chúng nó thức trắng đêm để coi vidéo. Từ ngày tham gia chiến dịch “Moi ruột cá lóc”, Mít đã cất được nhà đúc ba lầu, mua sắm tiện nghi không thiếu thứ gì. Mít ngủ ở tầng trệt. Phòng hai vợ chồng phía sau phòng khách. Vợ Mít ngồi bán ở sạp tạp hóa tại chợ Bình Tây - thực chất là một đầu mối tiêu thụ hàng lậu. Giờ này chỉ có mình Mít ở nhà. Mít đang thiu thiu ngủ thù có tiếng chuông gọi cửa, đúng hai tiếng theo mật hiệu quy ước. Mít mở cửa. Một cô gái da trắng mịn, áo dài màu thiên thanh bước vào. Mít mê mẩn cả người. Giờ này mà được ôm em thì tuyệt. Hai Thức điệu quá trời. Chủ nhật phái người đẹp đến giúp vui! Hắn đã giữ lời hứa; thưởng bằng gái tơ. Cách đây một tuần, Thức đã hứa với Mít đúng như vậy.


 


- Em được anh Hai cho đến hầu anh!


 


- Ôi chao! Điệu quá ta. Vô đây, vô đây em!


 


- Còn chị nhà đâu?


 


- A, à… Bà xã anh giờ này, hề hề… bả đang ôm cái sạp hàng ở chợ Bình Tây!


 


- Em khát quá hà. Cho em uống nước nào.


 


- A, có ngay đây. Bia để lạnh. Nào!


 


Mít lấy bia từ trong tủ lạnh ra. Hai người cụng ly. Vừa uống, Mít vừa lần tay gỡ nút bấm của chiếc áo dài. Chờ cho Mít cởi chiếc quần lót ra, cô gái nói:


 


- Anh vô rửa ráy cho mát đi! Người anh nóng quá hà!


 


Mít đi như bay vào buồng tắm, xối nước vội vàng. Khi trở ra, cô gái cầm ly bia đưa cho Mít:


 


- Nào! Anh với em cụng ly trăm phần trăm rồi lên giường!


 


Mít đón ly bia. Cô gái áp chặt tấm thân vào người Mít. Mít uống cạn ly bia trong nháy mắt. Đặt cái ly không xuống bàn, Mít lôi cô gái ngả xuống giường nệm. Nhưng, đó là cử động cuối cùng của Mít.


 


Khi lũ con của Mít la lên, mọi người ập vào thì thấy Mít trần truồng nửa người trên giường, chân ở dưới đất, co quắp, hai mắt trợn ngược. Máu ở tai và miệng phì ra loang lổ tấm drap trắng.


 


Cuộc giải phẫu tử thi tiến hành sau đó cho thấy Mít chết vì liều thuốc độc cực mạnh. Cũng trong thời điểm Mít chết, năm bị cáo quan trọng nhất tẩu thoát, chỉ có mười bốn bị cáo bị bắt. Việc hỏi cung và điều tra kéo dài suốt một năm mà không có kết quả gì. Những tên bị bắt chỉ là bọn thừa hành và không biết gì. Mãi một năm sau, phiên tòa sơ thẩm xét xử bọn chiếm đoạt tài sản Nhà nước đã tuyên án tử hình tên Ngô, chuyên tiêu thụ hàng ăn cắp, và phạt những tên khác từ năm đến hai chục năm tù. Vợ Ngô xuất ra hai trăm cây vàng để chạy giảm án cho chồng xuống còn chung thân. Thức nhận vàng giao cho Đôn. Giao kèo được thực hiện.


 


Kết quả phiên tòa khiến Dung vô cùng thất vọng. Anh không ngờ rằng bao nhiêu công lao của anh và đồng đội đổ xuống sông xuống biển. Những tên tội phạm đích thực, những kẻ chủ mưu vẫn sống nhơn nhơn, được pháp luật bảo vệ. Dung cảm thấy công việc của mình quả là vô nghĩa. Bao nhiêu chứng cớ mà anh thu thập được, bị xếp xó. Anh mơ hồ nhận ra có một bàn tay vô hình lèo lái vụ án này. Ngậm đắng nuốt cay, Dung trở về với mẹ. Người mẹ già tội nghiệp của anh vất vả suốt cả cuộc đời. Năm Dung cất tiếng chào đời cũng là năm ba của anh bị giết. Má anh kể lại rằng ba anh là một con người tuyệt vời, sống bằng lao động chân chính. Nửa đêm, hai tên mật thám xộc vô nhà dựng ba anh dậy. Chúng hỏi: tên cộng sản đến liên lạc với mày là ai. Bây giờ nó đâu? Ba anh trả lời: cộng sản nào? Tôi không biết! Chúng bắt ba anh lên xe. Má anh la lên kêu cứu liền bị một tên đánh cho bất tỉnh. Từ đêm ấy, mãi mãi không bao giờ ba anh trở về nữa. Má anh thờ chồng nuôi con, dạy con sống trung thực và nhân ái như cha mẹ. Giờ đây má đã già yếu lắm rồi. Gần sáu mươi rồi còn gì. Mỗi lần về thăm má, Dung thương má và tự trách mình có lỗi với má, không chăm sóc má, để bà phải sống lủi thủi một mình. Người mẹ thấy đứa con trai độc nhất của mình độ rày hốc hác hẳn đi, xót xa lắm. Bà nghĩ, Dung đau buồn vị vợ hư hỏng, vì con chết yểu. Bà không biết, ngoài nỗi đau ấy, con trai bà còn nỗi đau lớn hơn nhiều: ấy là công lý, là luật pháp không nghiêm.


 


Những tên tội phạm lại được sống nhởn nhơ ngoài vòng luật pháp.


 


Người mẹ thấy con trằn trọc không ngủ, hỏi:


 


- Con lo lắng chuyện gì vậy?


 


- Dạ, không.


 


- Con dấu má. Độ rầy, má thấy con ốm đi nhiều lắm. Lo mà giữ cái sức khỏe con ạ. Tuổi còn trẻ, không lấy vợ nữa sao?


 


- Con… Con chưa tính má à.


 


- Phải tính chớ con. Phải làm lại từ đầu. Người như con… phải, má tin là con sẽ tìm được người tử tế. Thời buổi bây giờ, đồng tiền nó mạnh lắm. Con gái chạy theo đồng tiền… hư hỏng hết. Chả còn gì là luân thường đạo lý. Con phải nghe má. Má già yếu lắm rồi. Hãy kiếm lấy một người tốt! Con mà không lập lại gia đình, má đâu có yên lòng nhắm mắt.


 


Nghe giọng nói, Dung biết má anh đang khóc. Anh hứa với má là sẽ làm theo. Đêm ấy, cũng như nhiều đêm trước, anh nghĩ đến Mai. Giá như người vợ nào cũng sắt son chung thủy như Mai? Cứ mỗi lần nghĩ đến Mai, Dung lại nhớ đến trách nhiệm của mình. Vụ án “Moi ruột cá lóc”, anh coi như thất bại. Còn vụ minh oan cho Lữ, lôi bọn tội phạm ra trước vành móng ngựa xét xử công khai liệu anh có làm nổi không? Hay là anh bất lực?


 


Dung vừa tìm ra một bằng chứng quan trọng. Tình cờ, khi sửa lại mái nhà cho Mai, thay hai tấm tôn mới, Dung phát hiện ra một cuộn giấy nhỏ dấu phía sau ảnh thờ của ba Lữ. Thì ra đó là bản lưu một lá đơn mà thiếu úy Lữ đã gửi đi. Gởi đi đâu? Chắc chắn Lữ lường được hết nguy hiểm của việc này nên mới lưu giữ một bản tại nhà. Sao anh không biết? Lữ dấu vợ? Đức tính của một sĩ quan công an: chuyện công tác luôn luôn bí mật. Trong lá đơn này, thiếu úy Lữ nói đến một người tên là Lý Tài. Tài là tên chuyên móc ráp người vượt biên theo phương án bán chính thức. Tài trực tiếp thu vàng của họ để nộp cho công an. Theo Lữ ước tính: tổng số vàng Tài đã nộp cho công an lên đến ba ngàn cây.


 


Vấn đề là phải tìm ra tên Tài. Hắn là ai? Ở đâu? Hắn còn sống ở đây hay đã ra đi, hay đã bị thủ tiêu để bịt đầu mối như tên Mít? Muốn tìm ra địa chỉ của Tài, phải hỏi những người chứng kiến cảnh thiếu úy Lữ bị sát hại.


 


- “Đồng chí với nhau mà họ giết nhau thảm khốc như thế thì đối với dân đen họ coi ra gì!”. Toản, một người dân vượt biên lần thứ sáu vẫn bị bắt, trả lời Dung. Anh ta đã cắt nghĩa tại sao mình quyết rời bỏ xứ sở quê hương. Câu nói ấy sắc như lưỡi dao! Sau sáu năm trời, bốn chục người trên chuyến tàu ấy đã lần lượt ra đi hết; chỉ còn mỗi anh ta ở lại vì chuyến đi nào cũng không thành. Toản bảo: “Đời người ta, sướng khổ có số! Từ nhỏ, tôi được cha mẹ dạy dỗ: “Ráng học thật giỏi. Thời nào cũng cần người tài”. Cha tôi là thợ nấu thép ở nhà máy Vicasa, là thợ giỏi, được chủ hãng rất trọng nể, cho hưởng lương bổng cao nhất. Tôi được gia đình cho đi Mỹ du học. Tôi về nước với bằng kỹ sư cầu đường, làm việc ở Bộ giao thông công chánh, chuyên lo về thiết kế cầu bê tông tiền áp. Sau vài năm, tôi được một công ty mời về làm cố vấn kỹ thuật. Tôi đã trực tiếp làm hàng chục cây cầu lớn ở miền Nam. Cũng như cha tôi, tôi được trọng nể, được trả lương cao nhất. Tết, lễ, chủ hãng đến tận nhà tôi chúc Tết, quà cáp rất hậu hĩ. Tôi hơi bị sổ mũi nhức đầu một tý là chủ hãng cho mời bác sĩ đến chữa trị, ngay tại nhà mình. Giải phóng, tôi háo hức ở lại vì tin rằng cách mạng cũng trọng trí thức. Nhưng tôi lầm! Tôi chịu đựng được ba năm trong thân phận một con chó ghẻ thì phải xin nghỉ việc. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng: cả một đội ngũ trí thức khoa học tài giỏi được đào tạo từ Âu, Mỹ đã bị loại thải. Thay vào đó là những ông, bà dốt nát và thô bỉ: Có những người trí thức tài giỏi ở hàng ngũ cách mạng, nhưng xem ra, họ không được giao phó trọng trách. Họ không có quyền! Quyền lực nằm trong tay những anh làm chính trị. Những tên dốt nát mà cầm quyền thì tất phải sử dụng những thằng vô học. Đó là quy luật. Và thế là chấm hết! Một đất nước tự đi giật lùi, trở lại thời kỳ nghèo nàn lạc hậu. Những người ra đi bằng thuyền, đâu phải là những tên phản bội Tổ quốc! Nếu là ác ôn, có nợ máu, là viên chức cấp cao hoặc sĩ quan cao cấp của chế độ cũ, hẳn là họ đã đi từ khuya rồi. Đâu phải đợi đên bây giờ…”.


 


Toản nhìn thẳng vào mặt Dung và hỏi: “Anh đã bao giờ đặt địa vị anh vào hoàn cảnh những người như tôi chưa? Sống được là giỏi, không uất lên khùng điên, tự vẫn, là giỏi lắm đó. Sống để tìm cách ra đi! Vợ con tôi đã đi thoát rồi. Tôi mãn nguyện rồi. Còn riêng mình tôi, thế nào cũng có chuyến chót lọt chứ. Chẳng lẽ tôi cứ bị bắt hoài? Trong trại giam, tôi thuộc tánh nết từng vị cai ngục nào thích nhận tiền, người nào chỉ nhận vàng. Có người nhận, không nhận trực tiếp mà qua dịch vụ vé số. Họ phòng hậu họa! Kể tự do cũng rẻ thật! Hồi còn phương án ra đi bán công khai thì mỗi người nộp năm cây. Năm cây là có tự do! Nay thì khác, rẻ hơn nhiều chỉ nộp một cây thôi, còn một cây qua bên kia mới trả tiếp - cho người đại diện! Bị bắt, muốn ra trại sớm, chỉ cần một vài chỉ là xong. Tự do rẻ thế là cùng! Cái số tôi tưởng là sung sướng từ nhỏ đến già. Nào ngờ! Bây giờ chỉ còn cách chờ vợ con bên Úc bảo lãnh cho qua, chứ trong nhà hết sạch rồi! Chẳng còn vàng vọt chi nữa mà đi”.


 


- Anh có biết Lý Tài, đã từng tổ chức chuyến tàu mà thiếu úy Lữ bị bắn chết?


 


- Biết, Sài gòn, Chợ Lớn cũng như lục tỉnh, ai mà chẳng biết ông Tài. Ông ta trọng chữ tín, sòng phẳng. Ổng có nhà đẹp lắm, một cái vi la đẹp nhất trên đường Trương Minh Giảng. Tôi không nhớ số. Nhưng mà tìm ông ta khó lắm. Ổng ít ở nhà. Công việc của ổng vậy mà. Hồi đó, ông Tài hợp tác với công an tổ chức các chuyến đi. Ông Tài được tin cậy lắm. Họ thường ăn nhậu với nhau, như những người tri kỷ. Tôi được người quen giới thiệu đến gặp ông Tài để xin nộp vàng, ra đi. Tôi gặp ông ta có mấy phút là được chấp thuận. Chính là ở chuyến tàu ấy, tôi chứng kiến người ta bắn thiếu úy Lữ bắng cả một băng đạn AK. Anh Lữ bị vùi xác xuống bờ kênh, quân phục bị lột sạch, chỉ còn độc cái quần xà lỏn! Khi người mang lon trung tá xuất hiện, tôi liều mạng kêu rằng không nên chôn người chết như vậy. Ông trung tá trừng mắt nhìn tôi rồi buông một câu: nó là thằng phản bội, phải trừng phạt nó ngay cả khi nó chết rồi! Giọng ta nằng nặng, khó nghe. Đối với tôi ấn tượng một thi thể lỗ chỗ vết đạn, bị vùi xuống bùn đen, máu đỏ hòa với bùn làm tôi không bao giờ quên được. Suốt đời tôi, tôi không thể quên chuyện đó! Về sau này, tôi còn được biết - những người tìm cách ra đi thường biết rất nhiều chuyện - rằng anh Lữ có một người vợ mới cưới. Người vợ này là giáo viên trung học đã bị buộc thôi việc vì chồng là tên phản quốc! Tôi không hiểu rồi cô ấy sẽ sống ra sao? Có đứng vững không? Liệu có phải đi làm gái để sống như đám vợ con ngụy không? Ôi chao! Con người ta sao lại có người khổ đến như thế! Vái trời cho cô giáo bị mất việc ấy đứng vững được… Toản lấy khăn lau mắt, anh ngưng bặt, không nói gì thêm nữa.


 


Câu chuyện với kỹ sư Toản kết thúc bằng niềm thương cảm như thế. Dung lặng đi hồi lâu. Hình ảnh Lữ, hình ảnh Mai hiện lên. Dung yêu cầu kỹ sư Toản nói về đặc điểm cái vi la của ông Tài để anh dễ tìm ra, rồi tạm biệt.


 


- Tôi sẽ còn tìm gặp kỹ sư khi cần.


 


- Tôi sẵn lòng, nếu khi ấy tôi chưa được bảo lãnh.


 


Kỹ sư Toản cười, bắt tay Dung. Anh ta có nụ cười thật hiền hòa. Nụ cười làm sáng gương mặt Toản.


 


Những người như Toản, phải rời bỏ quê xứ sở ra đi chắc hẳn là đau lòng lắm. Ra đi một lần không thành, năm, sáu lần đều thất bại. Lo cho vợ con đi riêng, may mà tới bến tới bờ. Bây giờ, hết tiền, vàng hết, nhưng vẫn quyết chí ra đi. Chờ vợ con làm ra tiền, bảo lãnh để ra đi. Điều gì khiến những người như Toản sẵn sàng liều mạng với biển cả; đánh cá cuộc đời, gia đình, hạnh phúc cho sự may rủi? Câu hỏi này, Dung ra đặt ra với rất nhiều người. Mỗi người trả lời một cách, nhưng tựu trung, họ đều giống nhau một quan điểm: họ sợ cộng sản!


 



Những người như Toản, phải rời bỏ quê hương xứ sở ra đi chắc hẳn là đau lòng lắm. Ra đi một lần không thành, năm sáu lần đều thất bại. Lo cho vợ con đi riêng, may mà tới bến tới bờ. Bây giờ, tiền hết, vàng hết, nhưng vẫn quyết chí ra đi. Chờ vợ con làm ra tiền, bảo lãnh để ra đi. Điều gì khiến những người như Toản sẵn sàng liều mạng với biển cả; đánh cá cuộc đời, gia đình, hạnh phúc vào sự may rủi? Câu hỏi này, Dung đã đặt ra với rất nhiều người. Mỗi người trả lời một cách, nhưng tựu trung, họ đều giống nhau một quan điểm: Họ sợ Cộng sản!


Dung gặp Toản nhiều lần, lần nào cũng gợi niềm tâm sự của Toản. Toản nói:


- Cộng sản các ông không coi con người là trọng, mà coi ý thức hệ là trên hết. Vấn đề dân tộc không trọng bằng vấn đề giai cấp. Học thuyết đấu tranh giai cấp của Cộng sản - có nghĩa là bạo lực, là chiến tranh muôn đời, bởi vì loài người làm sao có thể xóa bỏ giai cấp? Cái gọi là thế giới đại đồng chỉ có trong mơ! Một khi đã coi đấu tranh giai cấp là động lực thúc đẩy xã hội phát triển thì - Cộng sản - lấy giai cấp công nhân làm giai cấp lãnh đạo cách mạng - tất yếu phải diệt trừ giai cấp ông chủ - những người giàu có, những người có tri thức, có tài quản lý, tổ chức sản xuất, quản lý và tổ chức xã hội. Thật đáng sợ. Mười mấy năm qua, tôi nhìn xã hội mới với nỗi sợ hãi khôn tả, vì một khi những kẻ lưu manh lên nắm quyền, thì người dân làm sao sống nổi? Tôi nói điều đó, đại úy có thể cho bắt tôi. Tôi biết. Nhưng làm sao đại úy có đủ nhà tù để bắt giam hàng vạn, hàng triệu người, bởi họ đều nhận xét như tôi! Họ oán ghét chế độ này, bởi vì họ đâu phải là bọn bán nước, bọn có nợ máu. Chỉ có một số kẻ bán nước, có nợ máu, phản dân tộc thôi. Còn lại, đa số là những người yêu nước thương nòi, họ mong được sống và lao động đàng hoàng như những con người! Vậy mà đùng một cái, tất cả bị hất ra ngoài, bị coi là phản động, hại dân phản quốc! Chỉ có ở R về, ở A vào mới là yêu nước, mới có quyền được sống và làm việc, có quyền nắm đầu người khác! Thất vọng, chán chường, bất mãn và căm giận… Đó là thái độ mà Cộng sản bắt chúng tôi phải có. Lẽ ra, chúng tôi không có thái độ ấy. Những ngày đầu tháng Năm năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm, chúng tôi không có thái độ ấy. Chính Cộng sản tạo ra thái độ bất mãn và phản kháng. Đó là lý do căn bản nhất cắt nghĩa tại sao hàng vạn người đã bỏ nước ra đi… Mấy mươi năm xây dựng chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở ngoài Bắc, các ông đã làm được những gì? Làm được khá nhiều việc. Nhưng cái được không thấm vào đâu so với cái mất. Cái mất mát lớn nhất là các ông vô tình hay cố ý chẳng biết, đã tiêu diệt lòng ham muốn sáng tạo, làm giàu, hưởng thụ một cách văn hóa những gì con người làm ra. Không có một nơi nào trong thế giới tư bản - như tôi được biết - lại có nghịch lý như ở miền Bắc: Anh không được quyền làm giàu, nhưng nghèo nàn đi thì mặc sức, không ai cấm cả! Ở Sài Gòn, có một người mà mọi người dân đều ngưỡng mộ, kính trọng, ngay cả giới cầm quyền của chế độ Sài Gòn cũng kiêng nể. Đó là cụ Hồ Chí Minh. Trong khi người dân sống dưới chế độ Mỹ-ngụy coi Cụ như người Anh hùng dân tộc, lén thờ Cụ, cầu siêu, cầu nguyện cho Cụ, thì ở miền Bắc, các ông lại đặt Cụ vào vị trí sau những ông Các Mác, Ăng-ghen, Lê-nin. Lạ quá! Không thể hiểu được. Ở trong nhà, các ông bắt người dân treo ảnh Mác, Ăng-ghen, Lê-nin ở vị trí bàn thờ tổ tiên! Con cái được dạy dỗ: Phải yêu đồng chí, yêu hợp tác xã, yêu Đảng, mà quên hay cố ý quên không dạy các cháu: Muốn làm người thì trước hết phải biết yêu kính ông bà, cha mẹ, anh chị em. Sản phẩm quí nhất của xã hội là con người. Sản phẩm của xã hội các ông tạo ra là phế phẩm hết. Tàn nhẫn với đồng loại, lạnh lùng trước sự nghèo khổ của dân, làm ngơ trước oan khốc của dân - đó là cái lô-gíc tất yếu của những phế phẩm - người do các ông tạo ra. Tham lam, hèn hạ, nhũng loạn, sâu dân mọt nước - đó là căn bệnh nan y nên các ông không thể nào chữa được cho hệ thống quan chức thư lại đang nắm quyền. Ông đại úy à, ông còn trẻ tuổi. Rồi ông sẽ thấy những điều tôi nói hôm nay là đúng hay là sằng bậy. Ông tìm gặp tôi đến nay đã là mười ba lần. Lần nào ông cũng lắng nghe tôi nói. Ông hỏi tôi nhiều điều và tôi đều nói thật. Vậy mà ông không bắt tôi, cho nên hôm nay, tôi mới nói những điều thuộc về bản chất của chế độ Cộng sản. Không riêng gì Cộng sản Việt Nam, mà Cộng sản Tàu, Cộng sản Nga đều cùng một bản chất đó…


Dung ngắt lời Toản:


- Như thế, anh không giấu diếm mình là người chống Cộng?


- Không! Một ngàn lần không! Tôi chống Cộng làm gì? Tôi chỉ xa lánh thôi. Nhưng, ở chỗ này dễ có sự lầm lẫn: Cộng sản mà như cụ Hồ thì tôi không xa lánh. Cụ Hồ, ấy là mẫu mực của một người Việt Nam. Những năm cụ cầm quyền, cụ mắc không ít sai lầm. Cải cách ruộng đất là ví dụ điển hình. Nhưng cụ Hồ không đổ lỗi cho khách quan. Còn các ông, hậu bối của Cụ, cái gì sai, gây hậu quả nghiêm trọng, các ông không bao giờ dám nhìn nhận. Các ông đổ lỗi cho khách quan, cho chiến tranh, cho âm mưu của thù trong giặc ngoài, nếu có nhận thì nhận tập thể! Nghĩa là không một vị nào phải ra trước vành móng ngựa! Các ông tự coi mình ở trên pháp luật. Luật pháp định ra chỉ để trị thằng dân đen.


- Không lẽ tất cả những người đang cầm quyền ở các cấp đều là… tội phạm?


- Ấy chết! Tôi đâu có sằng bậy kết luận như thế. Ông đại úy nên nhớ, tôi là người làm khoa học kỹ thuật. Tôi thích sự chính xác đến từng chi tiết. Người tâm huyết của chế độ các ông có, có không ít. Nhưng than ôi! Họ bất lực. Họ rơi vào một chuyến tàu định mệnh không thể có con đường nào khác. Bởi vì các ông chỉ làm đường độc đạo. Các ông quan niệm chỉ có tiến lên Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản, con người mới được ấm no hạnh phúc. Sự thực thì sao?


- Thế nhưng Việt Nam đang xây dựng, chứ đã có Chủ nghĩa Xã hội đâu?


- Chứ Liên Xô? Trung Quốc? Họ cũng đang xây dựng à? Hơn bảy chục năm trời, ở Liên Xô, người dân sống ra sao? Bây giờ họ phải đổi mới, phải cải tổ, nghĩa là… phải làm lại cả, từ đầu!


Ngoài trời mưa tầm tã. Toản và Dung đang ngồi trong quán cà phê, một quán bình dân, ghế bàn thấp lè tè đóng bằng loại ván sàn tận dụng từ củi. Toản tiếp:


- Sài Gòn dạo này có hàng chục quán cà phê sang trọng, có máy lạnh, có gái làm tiền quí phái. Nhưng ở đó, những người dân lam lũ đâu có dám đặt chân vào. Ở đó, chỉ có những ông “đầy tớ” của dân đi xe hơi mang bảng số xanh, hoặc xe Cub đời mới. Ngoài ra, còn những kẻ làm giàu nhờ tình trạng quan tham lại nhũng của chế độ mới. Những hạng người ấy đang đắc chí. Hạng người ấy chỉ muốn Việt Nam mãi mãi tồn tại tình trạng hiện nay. Ông đại úy là người bảo vệ chế độ, ông có suy nghĩ gì?


- Tôi tin là bọn sâu dân mọt nước sẽ bị trừng trị.


- Ai? Ai trị? Ông à? Thượng cấp của ông à? Ồ, không! Không bao giờ ông và thượng cấp của ông có thể trị được. Chúng nó có thế lực ghê gớm lắm. Chỉ có NHÂN DÂN mới trừng trị được chúng. Mà nhân dân thì đâu có quyền!


- Anh nói đúng! Đảng và Nhà nước đang tìm mọi cách thực hiện quyền dân chủ của nhân dân.


- Ông đừng tuyên truyền với tôi! Nhảm lắm rồi! Ấy chết. Xin lỗi ông đại úy nghe. Tôi hơi quá lời. Tánh tôi thẳng. Tôi xin nói thẳng: Các ông, không bao giờ các ông để cho người dân có quyền. Họ mà có quyền thì họ lật các ông trong nháy mắt. Các ông diệt mọi sự phản kháng từ trong trứng còn gì. Vậy mà các ông vẫn kiên định học thuyết đấu tranh giai cấp được? Nhân dân muốn lật đổ các ông để thay thế bằng chính quyền tiến bộ, hợp lòng dân, làm cho dân giàu nước mạnh. Vậy mà các ông cho là phản động? Trong khi đó, chính quyền của các ông làm cho dân nghèo, nước mạt, tức là phản dân - thì các ông cho là cách mạng!


- Về điều này thì… Nếu phát biểu ở nơi khác, anh sẽ bị bắt, anh Toản ạ. Anh nhầm lẫn to rồi!


- Nghĩa là ông không chịu tôi gọi chính quyền của ông là chính quyền phản dân?


- Không! Đó là nhận định sai hoàn toàn! Anh đã lẫn lộn giữa hiện tượng và bản chất.


- Nghĩa là, ông nói rằng, về hiện tượng, đúng là chính quyền trong mười mấy năm qua đã làm cho dân nghèo, nước mạt. Nhưng về bản chất, nó vẫn là chính quyền do dân, vì dân?


- Đúng.


- Tôi xin vái chào ông. Thôi, ta chia tay. Ông về đi, để tôi tính tiền.


Quán cà phê vắng tanh. Ngoài trời vẫn mưa tầm tã.


Dung nhìn cô chủ quán đang co ro vì lạnh sau cái tủ nhỏ dơ dáy chưng đầy ly tách và phin cà phê. Dung hạ giọng, nói đủ cho Toản nghe:


- Anh đuổi, tôi cũng không đi! Tôi đến hôm nay là có việc nhờ anh. Đây là hai cây vàng. Anh tìm gặp ông Tài để mà ra đi.


- A hà. Nghĩa là các ông không tìm ra Lý Tài?


- Đúng.


- Bây giờ mượn tôi gài bẫy để tóm hắn?


- Không phải tóm, mà chỉ là muốn gặp mặt.


- Được thôi. Nhưng… cái này, - Toản chỉ gói giấy mà Dung đặt trước mặt - ông cất đi. Tôi không nhận đâu.


- Ông không muốn ra đi nữa à?


- Tôi không ra đi bằng vàng của công an! Dính vào, mang vạ có ngày!


- Nhưng… làm thế nào gặp được Lý Tài? Tôi không làm gì hại đến ông ta. Tôi chỉ muốn minh oan cho thiếu úy Lữ.


- Ồ! Đó lại là chuyện khác.


- Anh giúp tôi chứ?


- Được. Vì một người bị oan, tôi sẵn sàng.


*


*       *


Tại trụ sở tỉnh ủy xảy ra một chuyện chưa từng có: Một thiếu phụ thắt khăn tang trắng, mặc đồ tang, tay bưng bát nhang và tấm ảnh chồng đứng trước cổng ra vào. Phía sau người thiếu phụ là đám đông hiếu kỳ. Trẻ con, người lớn, hầu như tất cả phiên chợ hôm ấy và những người đi đường đều đổ dồn về đây. Người thiếu phụ ấy chính là cô giáo Mai. Sau chín năm trời đi kêu oan cho chồng nhưng vô vọng, hôm nay cô giáo Mai biết rằng ông Tổng bí thư đang làm việc ở tỉnh ủy. Cô giáo Mai bưng chiếc khay đựng bát nhang và tấm ảnh chồng cô, thiếu úy Lữ, đến xin gặp ông Tổng bí thư. Người công an bảo vệ cổng ngăn lại, không cho Mai vào.


- Cô về nhà, làm đơn mang tới. Đồng chí Tổng bí thư không có thời giờ tiếp cô. - Chánh văn phòng tỉnh ủy nói.


- Thưa chú! - Mai lễ phép - Đơn thì cháu viết cả trăm đơn rồi. Cháu đã đi hết cửa này đến cửa khác suốt chín năm nay rồi. Nhưng không ai thèm để tâm đến nỗi oan khuất của chồng cháu. Xin chú vì tình đồng loại, cho cháu vào gặp bác Tổng bí thư chỉ năm phút thôi, rồi có chết ngay, cháu cũng cam lòng.


- Không được! Đây là lệnh! Đồng chí Tổng bí thư không có thời giờ.


- Chú ơi! Chú đã xin phép giùm cháu đâu mà biết rằng Tổng bí thư không có thời giờ tiếp cháu?


- Không được là không được. Cô này dai như đỉa! Về đi! Nếu không, cô sẽ lôi thôi đó.


- Chú cho bắt cháu là cùng chớ gì. Chú bắt liền đi!


- Cô thách thức chính quyền à?


- Không lẽ một người dân xin gặp Tổng bí thư là có tội? Ngày trước, vua còn đi gặp dân, còn có nhà cho dân đến đánh trống kêu oan kia mà? Sao nói Đảng là của dân, do dân, vì dân, chú ơi!


Ông chánh văn phòng cúi đầu, hầm hầm ra lệnh cho lực lượng cảnh vệ giải tán đám đông trước cổng tỉnh ủy.


Trên lầu một, trong phòng họp, có tiếng chuông điện thoại reo. Ông phó bí thư gọi ông bí thư. Ông bí thư tỉnh ủy nghe điện thoại rồi tái mặt, kéo rèm cửa nhìn xuống đường. Tổng bí thư thấy vậy hỏi:


- Cái gì mà hốt hoảng thế?


- Dạ… thưa… - Ông bí thư lắp bắp.


- Chuyện gì vậy, đồng chí?


- Dạ… thưa đồng chí Tổng bí thư…


- Tôi hỏi chuyện gì? Cứ dạ thưa hoài! Bớt dạ thưa đi được không?


- Dạ, báo cáo… Có một phụ nữ xin được gặp đồng chí. Sau người này, có tới cả ngàn người đi theo ạ.


Ông Tổng bí thư đứng bật dậy, xăm xăm bước ra khỏi phòng. Vừa đi, ông vừa nói như quát:


- Tại sao không báo cho tôi ngay? Ai dám cấm không cho người dân gặp tôi? Mời người ấy vào ngay!


Trước mặt Tổng bí thư là một cô gái bằng tuổi con ông, da xanh mét, má hóp lại, đôi mắt đầy đau khổ và tuyệt vọng ngước lên nhìn ông chăm chăm. Tổng bí thư thấy lòng mình thắt lại:


- Cháu có chuyện oan ức à?


- Thưa bác, chín năm nay, cháu đi kêu oan mà không được. Cháu biết bác bận trăm công nghìn việc. Nhưng xin bác cho cháu được nói vài lời, rồi có chết, cháu cũng cam lòng.


- Kìa, cháu bình tĩnh lại, kể tóm tắt sự việc cho bác nghe. Cả hội nghị đang chờ bác. Bác chỉ có thể nghe cháu nói trong mười lăm phút thôi. Nào, nói đi!


- Thưa bác, chồng cháu bị giết oan. Chồng cháu là một người thẳng thắn, tình nghĩa. Ảnh không tán thành việc trấn lột và hành hạ những người ra đi theo phương án bán chính thức - trước khi cho họ lên tàu. Anh ấy đã thấy xác nhiều người trôi dạt vào bờ. Họ bị lừa dối - nộp năm cây vàng để được công an cho đi, nhưng hóa ra tàu bị thủng đáy. Họ chết trên biển rất nhiều. Chồng cháu phản đối không được nên có ý định tố cáo lên cấp trên. Thế là ảnh bị giết rất dã man, bị lột sạch quân phục và vùi xác xuống sình. Cháu là vợ mới cưới của ảnh, cháu có tội gì, vậy mà công an yêu cầu nhà trường đuổi cháu, không cho dạy học nữa! Cháu mất chồng, đó là nỗi đau không thể hàn gắn. Nhưng chồng cháu bị vu oan là tên phản quốc thì đó là nỗi đau mà không trời bể nào sánh được, bác Tổng bí thư à! Chính kẻ ra lệnh giết chồng cháu mới là tên phản quốc. Cháu xin bác, vì tình người, vì sự trong sáng của Đảng, bác hãy ra lệnh xét xử vụ án này! Nếu không, cháu sẽ oán Đảng, nguyền rủa Đảng! Đây là lá đơn cháu viết gửi tới bác. Xin bác vì tình người…


Mai khóc nấc lên. Cô không nói được gì nữa. Ông Tổng bí thư nhận lá đơn, nhìn lướt một lượt rồi gấp lại, bỏ vào túi ngực. Ông an ủi cô gái:


- Nín đi cháu. Ngay khi về đến Hà Nội, bác sẽ chỉ thị cho ban bí thư ra lệnh xét xử vụ án này. Nếu đúng như lời cháu nói thì chồng cháu là người có công. Kẻ nào giết chồng cháu sẽ bị pháp luật trừng phạt.


- Bác ơi! Liệu bác có làm được như ông Bao Công hay không?


- Cháu hãy tin ở bác. Bác là Tổng bí thư mà không minh oan được cho một người dân thì đâu còn xứng đáng làm Tổng bí thư nữa. Thôi, về đi cháu. Ráng giữ sức khỏe và hãy tin ở bác.


- Đội ơn bác. Một lời của bác làm cho cháu như được sống lại. Cháu sống như chết suốt chín năm qua, bác à. Đội ơn bác. Xin phép bác, cháu về!


Ông Tổng bí thư tiễn cô gái ra tận cổng tỉnh ủy. Đám đông ở đó đã bị giải tán. Nhưng từ xa, ở ngoài đường, vẫn còn một đoàn người đang chờ đợi. Ông Tổng bí thư nhìn ra ngoài đó hồi lâu rồi cúi đầu đi vào. Ngày mai, ra tới Hà Nội, ông sẽ cho làm rõ vụ án này. Nhìn dáng đi của ông lúc này, có cảm giác chuyện oan ức của chồng cô giáo Mai như ngàn cân đè nặng lên cơ thể ông. Ông hiểu rằng, khắp hang cùng ngõ hẻm của đất nước, còn rất nhiều người lợi dụng chức quyền làm hại dân hại nước.


Cô gái vừa rồi bằng tuổi con ông, liệu có tin vào lời nói của ông không? Ông cảm nhận được ánh mắt nghi ngờ khi người thiếu phụ ấy từ biệt ông.


*


*       *


Việc cô giáo Mai được gặp Tổng bí thư để kêu oan cho chồng là tin thời sự sốt dẻo nhất truyền đi khắp cả các thành phố, thị xã, thị trấn, khắp vùng quê ven biển. Qua những người vượt biên, chuyện này lan truyền sang Úc, sang Mỹ. Ông Tổng bí thư đã làm đúng như lời hứa. Ban bí thư đã ra chỉ thị cho các cơ quan luật pháp điều tra, khởi tố vụ án giết hại thiếu úy Lữ. Mai như khỏe hẳn lên. Cô thầm biết ơn Lê Dung và những người đã giúp cô gặp được Tổng bí thư. Nếu không có cuộc gặp mặt đó, chắc chắn đến chết cô cũng không minh oan được cho chồng. Cô phải mang theo nỗi oan khuất xuống âm phủ.


Lê Dung được lệnh cung cấp tài liệu, bằng chứng mà anh thu thập được cho Viện Kiểm soát Quân sự và Tòa án Quân sự Quân khu. Trong những tài liệu này, đặc biệt có tài liệu về Lý Tài. Nhờ có kỹ sư Toản nhiệt tình giúp đỡ, Dung đã tìm ra nơi Tài sống và khai thác được nhiều chi tiết đắt giá. Đối với Dung, mục tiêu mà anh phấn đấu không chỉ dừng ở việc minh oan cho thiếu úy Lữ, mà cao hơn, phải xét xử kẻ chủ mưu của cái gọi là “phương án bán chính thức”, truy tìm hàng ngàn cây vàng do những người ra đi nộp cho công an. Số vàng đó, theo lời tên Tài là chính xác. Vậy, vàng đi đâu? Như thế, đây là một vụ án lớn, rất lớn, sau vụ giết hại thiếu úy Lữ.


Cách ngã ba Vũng Tàu không xa, có một căn nhà đúc nằm khuất sau dãy hàng quán ở phía trước. Chủ nhân căn nhà, ông Sáu Lợi, mới mua căn nhà này, và lâu lâu mới từ Chợ Lớn lên đây ở một tuần. Ông Sáu Lợi thích ăn phở. Buổi sáng, cứ tám giờ, con gái chủ tiệm phở trước nhà bưng phở vào cho Sáu Lợi. Vào một buổi sáng, như thường lệ, đúng tám giờ, ông chủ tiệm phở làm tô phở đặc biệt, cho con gái bưng vào. Kêu cửa mãi không được, đứa bé lấy chân đẩy cánh cửa để vào nhà. Chợt nó rú lên. Tô phở tuột khỏi tay vỡ tan tành.


Khi mọi người xung quanh chạy tới, người ta thấy Sáu Lợi bị treo bằng sợi dây dù ngay giữa nhà, người cứng đờ.


Sáu Lợi là ai? Tại sao treo cổ? Những người xung quanh không ai biết. Không một nguồn tin nào của cơ quan điều tra lọt ra ngoài.


Khi Lê Dung nhận được điện của trinh sát báo về thì anh hộc tốc phóng xe lên ngay. Qua hiện trường và khám nghiệm tử thi cho thấy nạn nhân chết trước khi bị treo lên. Sáu Lợi, tức Lý Tài, không hề tự tử. Hắn đã bị giết để không còn có thể nói gì về vụ mấy ngàn cây vàng mà Lữ đã nói đến. Người được Dung giao nhiệm vụ theo dõi, bảo vệ Tài nhăn nhó nói:


- Tôi đã đề nghị anh cho bắt Tài cốt để bảo vệ hắn mà anh không nghe tôi!


- Nào tôi đã qui trách nhiệm cho cậu đâu mà cậu phải…


- Không! Tôi biết là anh rất giận tôi. Lý Tài chết, chúng ta khó lòng đưa vụ án lớn ra công khai.


Đúng như thế. Dung có cảm giác rằng anh luôn luôn chậm một bước. Vụ án tàu lash, vụ tên Mít bị giết bằng thuốc độc, vụ này Lý Tài cũng bị đầu độc rồi treo cổ lên... Những gì xảy ra tiếp sau đó quả là Dung không thể ngờ tới.


Khi lệnh bắt giam tên Thái - kẻ bắn chết thiếu úy Lữ - được thực hiện, những người thi hành công vụ này đã đến chậm! Trước đó ba chục phút, có hai người mặc sắc phục cảnh sát với lệnh bắt giam khẩn cấp trong tay, đã đến bắt Thái đưa đi. Cuộc điều tra sau đó cho thấy không có một người nào được phái tới bắt Thái vào thời điểm đó. Rõ ràng đây là màn kịch để cho tên Thái trốn thoát, hoặc là thủ tiêu hắn. Cuộc truy tìm tung tích kẻ giết người diễn ra, nhưng vô hiệu. Tên Thái như có phép thần, biến mất, không để lại dấu vết nào. Như vậy là vụ án bế tắc, không thể xét xử. Bị cáo quan trọng nhất đã mất tích. Nhân chứng quan trọng nhất đã “treo cổ tự vẫn”. Không tìm ra được một chứng cứ nào cho thấy ai là kẻ đã ra lệnh cho thượng sĩ Thái bắn chết thiếu úy Lữ.


Thi hành chỉ thị của cấp cao nhất, vụ án giết hại thiếu úy Lữ được xét xử sau mấy tháng trời hoàn tất hồ sơ. Kết quả, Tòa án Quân sự Quân khu xử sơ thẩm đã tuyên án: Thiếu úy Lữ không có tội, được phục hồi về tất cả các mặt. Gia đình thiếu úy Lữ phải được bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần trong gần mười năm qua. Tòa tuyên án tù chung thân (vắng mặt) tên Nguyễn Thái, tước danh hiệu quân nhân. Riêng Trần Ngọc Đôn, chỉ huy đơn vị công an biên phòng lúc đó, bị Tòa cảnh cáo về thái độ thiếu tinh thần trách nhiệm, không kiểm tra, tìm rõ nguyên nhân vì sao tên Thái bắn chết thiếu úy Lữ, tin ngay vào lời báo cáo của Thái sau khi Thái đã sát hại Lữ. Ba Hoành là chỉ huy trực tiếp của Lữ cũng bị Tòa cảnh cáo vì “thiếu trách nhiệm”.


Lê Dung hoàn toàn thất vọng. Anh muốn bỏ nghề, về với má, tìm một nơi nào đó làm thuê, kiếm tiền chăm sóc má. Anh cảm thấy mọi chuyện đều vô nghĩa! Thực tế quá tàn nhẫn! Mọi chuyện xảy ra đều bất ngờ đối với anh. Người ta trút mọi tội lỗi lên đầu kẻ giết người và còn đặt rõ vấn đề: Động cơ tên Thái giết thiếu úy Lữ là động cơ cá nhân! Trời đất quỉ thần ơi! Nếu như tên Thái còn sống, nó có cam chịu hình phạt chung thân cho nó không? Mà… không chừng nó còn sống! Không loại trừ nó đã được bàn tay bí mật nào đó cho trốn ra nước ngoài với một số lớn vàng và đôla? Có thể lắm! Mọi việc đều có thể xảy ra. Tất cả những điều Lý Tài kể lại, những người chứng kiến cái chết của Lữ kể lại, đặc biệt là lá đơn của Lữ cho thấy: Người chủ mưu giết Lữ không phải tên Thái mà là Tám Đôn, người chắc hẳn đã hủy lá đơn phản kháng do Lữ viết.


Rời phòng xử án, Dung đưa Mai về nhà. Dọc đường, cả hai cùng im lặng, không ai nói một lời nào. Về tới nhà, nhìn gương mặt rầu rĩ của Dung, Mai hỏi:


- Anh thất vọng lắm phải không?


- Buồn lắm, Mai à. Vụ án mới chỉ xử được một phần, minh oan cho anh Lữ. Nhưng bọn tội phạm đích thực, có tên nào bị đụng tới lông chân đâu! Tội của chúng nó, đất không dung, trời không tha. Vậy mà, bằng thủ đoạn thủ tiêu bị cáo và nhân chứng quan trọng, chúng đã thành công! Anh nói thật với em, anh nản quá chừng. Chưa bao giờ anh cảm thấy chán chường như lúc này. Có lẽ anh xin chuyển ngành, em ạ.


- Thế còn nhiệm vụ diệt trừ cái ác, bảo vệ người lương thiện mà anh say mê từ bấy lâu nay?


- Vô nghĩa! Tất cả đều là trò hề đối với bọn tội phạm!


- Không vô nghĩa đâu anh! Nếu ai gặp thất bại cũng bỏ nghề thì cuối cùng… còn ai là người trung thực? Dân còn biết trông cậy vào đâu?


Câu hỏi của Mai làm cho Dung như vừa bước ra khỏi cơn mê, tỉnh táo lại. Anh nhìn Mai, muốn nói với Mai: Mai! Anh biết ơn em! Chỉ một câu nói giản dị vậy thôi, nhưng em giúp anh đứng vững trên trận tuyến này. Song Dung chỉ nhìn Mai, lặng lẽ suy nghĩ về cô, về những tình cảm của anh dành cho cô. Dung nghĩ: Có nên không? Có gì là phi đạo lý không? Thấy Dung chuẩn bị về, Mai nói:


- Kìa anh! Mời anh ở lại, thắp nhang giúp em báo cho vong hồn anh Lữ biết rằng ảnh đã được minh oan.


Dung giật mình. Mải nghĩ ngợi về kết quả vụ án, anh quên mất việc này. Phải rồi! Phải báo cho vong hồn người bạn chí thân của anh biết. Anh bước đến bàn thờ. Mai thắp cả bó nhang đưa cho Dung. Anh cúi đầu nói:


- Anh Lữ! Tôi là Lê Dung, bạn thân của anh! Tôi về nước thì anh không còn trên cõi nhân gian này nữa. Anh đã sống như một con người mẫu mực. Anh chết vì anh sống đẹp quá. Nhân cách của anh tỏa sáng khiến cho bọn quỉ mang mặt người run sợ. Chúng nó giết hại anh, vùi dập thanh danh anh xuống bùn nhơ suốt mười mấy năm nay. Hôm nay, tôi xin nghiêng mình trước vong linh của anh, báo tin để anh hiểu: Mười năm qua, cô giáo Mai - người vợ thủy chung son sắt của anh đã đội đơn và ảnh của anh đi kêu oan. Cô ấy đã chiến đấu không mệt mỏi, không đầu hàng, và hôm nay, cô ấy đã chiến thắng. Tôi không biết trên đời này có được người thứ hai nào như cô giáo Mai! Anh đã được minh oan. Cho dù bọn tội phạm đích thực chưa bị pháp luật trừng trị, nhưng chỉ riêng việc anh đã được minh oan - là một niềm vui lớn của cô giáo Mai. Anh hãy phò hộ cho Mai được mạnh khỏe và… yêu đời như ngày còn anh!


Mai đứng bên cạnh Dung, nghe đến đó, khóc nấc lên. Dung quay sang nhìn Mai, tính nói gì với Mai, nhưng lại thôi. Nghe Mai khóc, Dung ứa nước mắt:


- Về phần tôi, tôi đau xót vì mất anh, mất một người anh, một người bạn chí cốt. Không có anh móc nối hoạt động cho cách mạng thì biết đâu tôi chẳng phạm tội với nhân dân rồi! Tôi mang ơn anh suốt đời. Trước vong linh anh, tôi xin hứa: vững vàng trên trận tuyến diệt trừ cái ác, cái xấu, noi theo gương của anh.


Dung lau nước mắt, quay qua Mai:


- Mai khấn anh Lữ đi em!


- Dạ.


Mai cúi lạy ba lần trước bàn thờ chồng rồi nhìn ảnh chồng. Mắt cô mờ đi. Không phải vì khói nhang nghi ngút. Cũng không phải vì nước mắt cô đã chảy. Từ trong sâu thẳm của lòng cô, tình yêu đầu đời như bão giông, như lửa hồng bùng lên. Trong khoảnh khắc, cô không còn là cô giáo Mai sau mười năm chịu tang oan khốc, đi hết cửa quan này đến cửa quan khác để kêu oan cho chồng. Cô đã được hóa thân trở lại những ngày đẹp nhất trong đời cô, những ngày mà bất cứ cuộc đời người con gái nào cũng ao ước. Ngày ấy, cô đã yêu và được yêu. Cô đã dâng trọn cho người yêu sự trinh trắng nguyên lành và cả cuộc đời con gái. Ngày ấy, mỗi hơi thở của cô dường như cũng mang hơi ấm của anh; mỗi ánh mắt nụ cười của cô dường như cũng là để cho anh, vì anh. Anh là trung tâm mà cô là vệ tinh đã định hướng. Cô sung sướng, mê say phơi phới bên anh. Cô cảm nhận nguồn hạnh phúc mà cô được hưởng từ anh một cách cụ thể, nhưng đôi khi cô vẫn ngỡ mình nằm mơ. Nửa đêm chợt thức giấc, cô ngỡ ngàng thấy mình đang nằm trong vòng tay ghì chặt của chồng. Những lúc như thế, cô hôn anh, cô kêu lên vì vui sướng. Thế rồi… Anh bị sát hại. Có cảm giác như trái đất nổ tung! Cô không thể nào nghĩ rằng chồng cô có thể chết! Hơn nữa lại chết oan ức như vầy. Chặng đường khổ ải mà cô đã đi suốt từ ngày anh chết đến nay - giờ đây hiện lại trong trí cô. Trước bàn thờ chồng, trước vong linh chồng, cô run lên vì thấy mình quá chừng mỏng manh, quá chừng yếu đuối, cô đơn. Và cô sợ. Chưa lúc nào cô sợ như lúc này. Cuộc đời quá nhiều cạm bẫy. Một viên chức quèn ở địa phương, ban ngày, khi cô đến đưa đơn kiện thì mặt sắt đen xì, ra mặt hống hách với cô. Nhưng đêm hắn lại mò đến nhà cô gạ gẫm, hau háu nhìn vào ngực vào đùi vào mông của người thiếu phụ. Thật là ghê sợ. Một lũ quỉ mang mặt người! Bọn súc vật đội lốt quan nha, hà hiếp dân đen. Cô sợ! Cô run lên trong nỗi sợ hãi của thân phận đơn côi suốt mười năm qua. Nhìn lại chặng đường đã đi, cô muốn nói với chồng… muốn nói rất nhiều, nhưng không sao nói được. Nước mắt giàn giụa, cô cứ đứng như vậy, nhìn ảnh chồng mà khóc. Mãi một lúc sau, cô mới thốt lên thành lời:


- Anh Lữ! Từ nay, xin anh cho em bắt đầu lo đến cuộc sống riêng của em! Ở suối vàng, chắc anh cũng mong điều đó phải không? Má cũng nói vậy trước khi nhắm mắt. Em xin anh…


Tay trái cô bám chặt vào mép bàn thờ, tay phải cô giơ lên, về phía tấm ảnh, như những ngày xưa, cô đưa tay ra ôm chồng. Cánh tay cô đưa lên đến giữa chừng thì ngưng lại… Mai gục đầu xuống bàn thờ. Cô muốn ôm chặt lấy người trong ảnh. Cô không bao giờ làm nổi việc đó nữa.


 (còn tiếp)


Nguồn: Sóng lừng (V.N. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »