tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 25724321
Tiểu thuyết
18.08.2018
Triệu Xuân
Sóng lừng (VN. Mafia)

CHƯƠNG BA


 


Khối lượng vận chuyển lương thực ra Bắc của Liên hiệp vận tải tăng lên rõ rệt. Nhà báo đến với liên hiệp ngày càng nhiều; không phải để điều tra phê phán như trước; mà là ca ngợi, khẳng định.


 


Với cương vị phó Tổng giám đốc phụ trách nội chính, Trần Ngọc Đôn là người chuyên tiếp các nhà báo. Tế nhị và lịch lãm, niềm nở và khiêm tốn; tự tin và đấy sức thuyết phục, đó là những ấn tượng mà Tám Đôn gây cho các nhà báo đến gặp ông. Cùng với thái độ ấy là sự đón tiếp quá ư chu đáo, sôm tụ về chuyện ẩm thực của văn phòng Liên hiệp vận tải, khiến cho các nhà báo không chê vào đâu được.


 


Quả như lời Thức nói lúc xin Tám Đôn cho vợ chồng Kim Tiền thuê tàu chở lúa. Việc làm này mở ra một mô hình “Nhà nước và nhân dân cùng làm vận tải” và một tờ báo vừa đăng bài với hàng tít lớn trên trang nhất, nhiệt liệt ca ngợi Tám Đôn như một người đầy sáng tạo. Ban đầu, vợ chồng Kim Tiền chỉ được thuê chiếc tàu đã bị hỏng máy mà Liên hiệp không có khả năng đại tu. Sau thì Liên hiệp giao cho Kim Tiền hai chiếc khác cũng ở tình trạng nằm ụ. Và sau nữa, cho thuê luôn chiếc tàu đang hoạt động cùng toàn bộ giàn thủy thủ, thuyền trưởng. Như vậy, vợ chồng Kim Tiền đang sử dụng bốn chiếc tàu Nhà nước. Tổ hợp Duy Nhất bỗng chốc nổi tiếng. Tiếng lành đồn xa. Ông Bộ trưởng đến thăm và trao bằng khen cho tổ hợp Duy Nhất. Một tổ hợp nhỏ, đã vận chuyển được khối lượng lương thực bằng một đơn vị lớn của Nhà nước. Tỷ lệ hao hụt bằng đúng định mức cho phép. Đó là điều chưa từng có. Xưa nay, ở các đơn vị vận tải quốc doanh, tỷ lệ hao hụt thực tế (đối với lương thực) thường gấp ba, gấp bốn, có lúc gấp mười lần định mức cho phép. Vậy mà nay, một đơn vị vận tải ngoài quốc doanh lại đạt tỷ lệ hao hụt thấp như thế? Huyền thoại à? Để tuyên truyền chứ gì? Không! Quả là như vậy. Tổng giám đốc Liên hiệp hiện đang lâm bệnh nguy kịch cho nên ông Tám Đôn được thay mặt Liên hiệp vận tải đi báo cáo điển hình khắp trong Nam ngoài Bắc. Lần đầu tiên, kể từ khi quốc hữu hóa các hãng tàu tư nhân, thành lập Liên hiệp vận tải cho đến nay, đơn vị này đã đạt con số kỷ lục: một trăm phần trăm số đầu phương tiện hoạt động. Không có tàu nằm ụ! Ông Bộ trưởng xưa nay thường chỉ trích Liên hiệp, nay tỏ lời khen ngợi. Cuối năm ấy, Hội đồng bộ trưởng cấp bằng khen cho Liên hiệp vận tải về thành tích vận chuyển lương thực! Khách khứa đến với liên hiệp đông như đi lễ Bà Chúa Xứ. Tất nhiên là Tám Đôn trở thành nhân vật quan trọng. Mọi việc liên quan đến công tác đối ngoại như tiệc tùng, quà cáp đều do ông quyết định. Ông nói một tiếng, mọi việc đâu vào đó tức thì.


Tám Đôn nghĩ rằng mình đã làm thay đổi tận gốc rễ số phận của Liên hiệp vận tải. Không có ông, nó bị giải thể rồi! Thằng Thức nói có lý. Cứ đà này, cái ghế Tổng giám đốc, và sau đó cái ghế thứ trưởng, rồi Bộ trưởng thuộc về ông mấy hồi! Những lúc ngồi trên xe hơi máy lạnh đi báo cáo với Bộ trưởng cũng như đi báo cáo kinh nghiệm quản lý, điều hành, Tám Đôn tự coi mình như một anh hùng. Trong chiến tranh, ông đã nhiều lần tự phong anh hùng cho mình. Nay làm kinh tế, Đôn lại mang danh hiệu ấy. Có lẽ vì thế mà Đôn coi thường Tổng giám đốc và ba tay phó tổng kia.


 


Tổng giám đốc hiện có quyền lực; ba tay phó tổng đều có bằng cấp này nọ (nhưng có làm được trò gì ra hồn) chứng tỏ cho các tay ấy biết rằng: đừng có tơ lơ mơ với tôi. Đừng tưởng thằng này mới học hết lớp bốn bổ túc văn hóa mà khinh à nghe! Bằng cấp thằng này chưa có, nhưng còn những thứ khác, Đôn này có tất. Muốn gì có nấy! Hiểu không? Có ai mạnh được như vậy không? Con người ta, ai mà không ham vàng, ham tiền, ham gái? Đó! Vì thế mà Đôn này mạnh nhất ở Liên hiệp, cần chữ ký của bất cứ cấp trên nào, Đôn lo là xong liền. Có tiền mua tiên cũng được. Đời là một cuộc mua bán. Mọi thứ tư tưởng, quan điểm, chủ nghĩa chỉ là phấn son trên mặt người đàn bà. Môi đỏ hay môi hồng, hay môi nâu… thì bên trong lớp son môi ấy cũng là bờ môi, khao khát dục tình. Chỉ có là đồ mộc thạch mới từ chối gái, từ chối tiền. Tiền vừa là phương tiện vừa là cứu cánh. Tiền là chúa của các chúa tể. Phút chốc, Tám Đôn cứ ngỡ mình là bậc triết gia, bởi Tám Đôn rất khoái với những “phát kiến” vừa rồi. Đôn nhớ đến cái đoạn người ta cho Đôn đi học Trường Đảng cao cấp Trung ương. Lúc chưa đến học, Tám Đôn lo sợ vô cùng. Đôn lo nhất là cái vụ học, ớn nhất là cái vụ học. Thuở còn trai trẻ, tập kết ra miền Bắc, vợ là giáo viên mà Đôn chỉ học đến hết lớp bốn bổ túc văn hóa là ớn đến tận cổ rồi. Nay, đi học trường Đảng cao cấp Trung ương, biết gì mà học? Người Diễn Thuyết, người anh đỡ đầu của Đôn rỉ tai nói: Tôi lo cho. Chú nên nhớ, đó là cái lò đào tạo cán bộ lãnh đạo. Ai muốn trở thành thủ trưởng thì phải qua cái trường ấy! Vậy là Tám Đôn vững chí đi học. Nói cho đúng: đi nghỉ điều dưỡng. Bởi từ Sài Gòn ra Hà Nội học, Đôn xách theo một catáp đầy nhóc tiền và vàng. Ngày nào cũng nhậu. Gái tơ Hà Nội chả thiếu. Đến trường được một vài tuần, Tám Đôn mới vỡ nhẽ ra rằng (trong mắt ông) hầu hết các học trò ở đây đều có trình độ cỡ Tám Đôn! Những kẻ gian manh, đầy mưu mô thủ đoạn thường chủ quan đến mức ngu muội khi nhìn nhận người đời. Vì thế, Tám Đôn tưởng ở trường này ai cũng như mình! Thế là Đôn vững tâm. Cứ việc ăn chơi cho thỏa chí! Cho đến lúc mãn khóa, Tám Đôn cũng được cấp bằng đỏ như ai! Sướng quá trời! Đôn nghĩ, trên hành tinh này không biết có xứ sở nào có một học viện như ở đây. Bất cứ anh có tài hay không, học lớp ba hay lớp bốn, khi đã vô đây học là cầm chắc sẽ được đề bạt làm thủ trưởng! Sướng quá trời. Nhận cái bằng đỏ, Tám Đôn càng thấm thía sức mạnh của đồng tiền, của vàng. Bao nhiêu thứ chủ nghĩa, lý thuyết mà người ta giảng trên bục cũng chẳng bằng tiền và vàng. Có tiền, có vàng thì muốn lấy bằng gì mà chẳng được!


 


Nếu không có vụ phát giác nguồn gốc út Phụng thì Đôn đã được thăng chức. Đây là mối hận lớn. Đôn thề: còn sống thì phải trả bằng được mối hận này. Tên phát giác sẽ phải chết. Việc chuyển Tám Đôn qua Liên hiệp vận tải là theo ý kiến của Người Diễn Thuyết. Tám Đôn biết vậy. Nếu không có vị cứu tinh này thì có lẽ Đôn phải vô tù! Giờ đây, khi đã yên vị ở Liên hiệp vận tải, ngấp nghé chức Tổng giám đốc, Đôn càng nung nấu quyết tâm ngoi lên chức Tổng càng sớm càng tốt. Với cương vị ấy, Đôn sẽ mặc sức hốt bạc, không phải đề phòng, cảnh giác tối ngày như hiện nay.


 


Đối với ban lãnh đạo Liên hiệp, Đôn thấy có thể đưa vào tròng cả đám, ngoại trừ một người. Đó là Thanh. Đây là địch thủ đáng gờm nhất. Đôn nghe phong phanh rằng Thanh sẽ được Bộ trưởng đề bạt làm Tổng giám đốc. Càng ngày Thanh càng lộ rõ xu thế đối đầu với Đôn. Đôn rất căm. Tuồng như mọi việc của mình làm nó đều xía vô. Phải tìm mọi cách trị thằng lỏi này mới được. Phải cho nó biết Tám Đôn này là thế nào? Nếu không qui hàng ta thì chỉ có thân bại, danh liệt.


 


Nhưng đó chỉ là những ý nghĩa thầm kín. Bề ngoài Tám Đôn vẫn nổi tiếng là người mềm mỏng, biết điều, lịch sự, luôn lo lắng cho mọi người. Cả ban lãnh đạo, các trưởng phó phòng đều tỏ ra vì nể Tám Đôn. Mọi việc từ chuyện Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên, đều được xin ý kiến anh Tám.


 


Ở trên Bộ, người ta nhận được nhiều thư tố cáo lực lượng bảo vệ buôn lậu, thông đồng cới bọn buôn lậu trốn thuế và đặc biệt là chia chác toàn bộ số hàng hóa tịch thu được, chỉ nộp cho Nhà nước rất ít. Một đoàn thanh tra của Bộ xuống Liên hiệp vận tải làm việc. Toàn bộ hồ sơ, chứng từ, hóa đơn của bảo vệ Liên quan đến hàng hóa tịch thu, được gom lại, mang lên phòng họp giao ban của ban Tổng giám đốc để đoàn thanh tra làm việc. Buổi trưa đầu tiên, khi đoàn thanh tra ngủ trưa, toàn bộ số tài liệu để trong tủ có khóa hẳn hoi đã không có cánh mà bay! Tất nhiên, một bộ hồ sơ khác đã được gửi tới đoàn thanh tra. Rất rõ ràng, minh bạch. Đoàn thanh tra kết luận: không có tiêu cực trong lực lượng bảo vệ! Hóa ra những đơn tố cáo về chuyện tham lậm hàng hóa, thẻ kho giả, ăn hối lộ, thông đồng với giới buôn lậu quốc tế v.v… là vu cáo. Mặc nhiên, những người ủng hộ việc thanh tra bị mang tiếng là vu cáo, là đấu đá, ganh ghét Đôn. Và ngược lại Tám Đôn khẳng định được thế lực của mình. Đôn là như thế. Chúng bay đánh ông? Sức mấy! Chúng bay có quy cho ông tội chia chác hàng hóa tịch thu? Ha Ha! Đôn thắng keo này. Đôn biết là Nguyễn Thanh đau lắm. Mi sẽ còn đau hơn, thân bại danh liệt, nếu mi không quy thuận ta, Ha Ha Ha!


 


Hai trinh sát bám theo lộ trình của xà lan lash đã bị bọn tội phạm thủ tiêu. Việc điều tra tưởng chừng bế tắc. Một ban chuyên án được thành lập do thiếu tướng Ba trực tiếp chỉ đạo. Dung được thiếu tướng rút lên, được làm việc trong ban chuyên án, và được thăng vượt cấp lên đại úy. Bây giờ, Dung làm việc trực tiếp với trưởng ban, không còn làm việc dưới quyền Ba Hoành. Thiếu tướng giới thiệu Dung đến làm việc với Thanh. Hai người dành nhiều thời gian làm việc riêng với nhau.


 


Thanh hỏi Dung:


- Anh có tin vào công việc của mình không?


- Tin chứ!


- Anh không sợ à?


- Sợ gì? Sợ ai?


- Sợ bị thủ tiêu.


- Nếu sợ, tôi đã không làm.


- Anh đã từng bị biệt giam mười bốn ngày, từng bị kỷ luật và… bị mất vợ!


- Anh tìm hiểu về tôi khá kỹ.


- Đúng. Trước khi cộng tác với ai, tôi phải hiểu kỹ người đó.


- Anh tin tôi chứ?


- Tin. Còn anh, vì sao anh lại… với tôi? Mà không phải các phó tổng khác?


- Tôi biết anh là người duy nhất ở đây đã khẳng định với hai Bộ trưởng giao thông và Nội vụ (tên bộ Công an lúc đó) rằng có tiêu cực lớn. Anh đã bị Tám Đôn cô lập, gài bẫy.


- Đúng vậy.


- Anh không sợ à? Dung hỏi lại đúng câu hỏi mà Thanh đã hỏi mình.


- Có chứ!


Dung biết là Thanh nói ý khác, nên im lặng chờ Thanh tiếp:


- Anh có biết tôi sợ gì không? Tôi sợ nhất là mình làm ngơ trước tội ác. Làm ngơ tức là tòng phạm.


Dung bắt tay Thanh thật chặt. Hai người trao đổi với nhau biện pháp để nắm được chứng cứ, tìm được đích danh thủ phạm chủ mưu; và những qui ước làm việc với nhau qua điện thoại, qua hộp thư khi cần. Cuối cùng, Dung hỏi Thanh:


- Anh có biết được vụ hủy hồ sơ gốc ở phòng bảo vệ không?


- Tất nhiên là có. Tôi được một quần chúng tốt giao cho một đống hồ sơ mà anh ta được lệnh đốt đi.


- Nó đâu rồi?


- Nó đã ở nơi an toàn! Nếu muốn anh sẽ được đọc nó. Nhưng rất tiếc, đó chỉ là số quá ít. Phần lớn hồ sơ gốc đã bị đốt rồi. Đặc biệt là hồ sơ về nhân sự. Rất nhiều trường hợp đang mang lý lịch giả. Bây giờ không còn cơ sở nào để kết luận tên này là có nợ máu, người kia là vô tội.


- Nghĩa là ngay trong lực lượng bảo vệ cũng có người tốt?


- Rất may là như vậy! Nếu không, làm sao xã hội loài người tồn tại đến nay!


Thanh nói đúng. Câu nói của Thanh đối với Dung như là sự khích lệ sâu sắc. Hơn bất cứ một nghề nào, nghề của Dung là phải tìm ra được người trung thực, người tốt, để hợp sức tiêu diệt cái ác. Có thể là Thanh đã có kế hoạch riêng. Dung nói:


- Tôi muốn… tôi đề nghị anh cài người vào chiến dịch “Moi ruột cá lóc”.


Thanh cười tủm tỉm, nhìn Dung, không nói gì. Rõ ràng là Dung sốt ruột:


- Anh làm rồi?


Thanh vẫn cười tủm tỉm. Dung nói:


- Anh phải chuyển sang ngành của tôi mới đúng. Anh khá rành nghiệp vụ công an.


- Có gì đâu! Đối diện với bọn tội phạm đầy thủ đoạn thâm độc mà ta khờ khạo thì chỉ có chết!


- Hiện tại, anh với Đôn thế nào?


- Hồi đầu, tôi bị ông ta mê hoặc. Có lúc, tôi rất quý mến ông ta. Nhưng chỉ một thời gian, tôi hiểu ngay chân tướng của ổng. Ba lần tôi bắt hàng lậu thì cả ba lần ổng can thiệp và nhờ người nào đó can thiệp để tha. Nhân viên bảo vệ dưới quyền ổng có hành động thô bạo khi khám xét công nhân. Vì đói quá, đồng lương quá thấp không tài nào sống nổi, cho nên ai cũng tìm cách mang ra khỏi cổng một lon uy gô phân đạm hoặc một bịch đường cát dấu trong bụng, trong ngực… Thật xót xa. Họ không phải là hạng người ăn cắp, ăn cướp. Vậy mà họ lại bị chính những tên ăn căp, ăn cướp mạt sát thô bạo. Tám Đôn đưa cho tôi danh sách hàng trăm công nhân bị bảo vệ bắt quả tang ăn cắp phân đạm, đường, bột ngọt… bị ổng làm quyết định đuổi khỏi liên hiệp. Tôi phản đối. Thế là ổng quy cho tôi cái tội dung túng bọn công nhân tiêu cực; chống đối lực lượng chuyên chính vô sản tại Liên hiệp vận tải, thông đồng với bọn ăn cắp tài sản Xã hội Chủ nghĩa! Tám Đôn gửi thư lên Bộ trưởng yêu cầu cách chức tôi. Vào đúng dịp đại hội Đảng toàn quốc, tôi là đại biểu đi dự Đại hội; ở nhà, ổng tổ chức họp Đảng ủy ra nghị quyết đề nghị khai trừ tôi khỏi Đảng rồi gửi văn bản ấy cho Ban kiểm tra tư cách đại biểu. Rất may là bộ đã trả lời nhanh chóng, bảo vệ tư cách đại biểu của tôi. Tóm lại, đã đến lúc quyết liệt rồi. Mặt đối mặt rồi!


 


Nửa tháng sau cuộc trao đổi ấy, “nhân mối” của Thanh đã cung cấp nhiều tin tức giá trị. Đã tìm ra kẻ chuyên tiêu thụ hàng lậu. Đã tìm ra những điểm xuống hàng, những ông chủ tịch huyện huy động công an và bộ đội canh gác cho bọn ăn cắp xuống hàng. Đặc biệt, đã tìm ra tên Mít là kẻ “có sáng kiến dùng bình gió đá loại nhỏ đưa xuống xà lan để khui niêm hàn. Việc ăn chia, phương thức chuyển tiền thành vàng mang đi Campuchia mua hàng lậu trở về Việt Nam v.v… Những tin tức này khớp với những chứng cứ mà nhóm của Đại úy Dung thu thập được. Duy chỉ có một điều không thể nào tìm ra sự liên hệ giữa bọn thừa hành với kẻ chủ mưu. Bàn tay của Đôn, Thức luôn luôn sạch sẽ.


Tám Đôn là người kiệt xuất trong chuyện này.


 


*  


Tết Dương lịch, Hội đồng bộ trưởng tặng Bằng khen cho Liên hiệp vận tải. Tám Đôn tổ chức chiêu đãi mừng năm mới tất cả thuyền trưởng và thủy thủ các tàu nước ngoài cũng như tàu Việt Nam đang neo đậu. Tiệc tổ chức tại Câu lạc bộ Thủy thủ. Tổng giám đốc vẫn nhường vai trò chủ xị cho Đôn. Sau diễn văn của Tám Đôn, rượu champagne nổ như pháo từ mười bẩy giờ, kế đó là đủ các loại rượu Tây, bia lon. Tiệc kéo dài đến hai mươi giờ thì tới màn khiêu vũ. Đội vũ nữ câu lạc bộ thủy thủ gồm những cặp giò và bộ ngực rất hấp dẫn. Nhưng, như mọi khi, trước đám đông, Tám Đôn tỏ ra rất… chừng mực. Ông về sớm. Sau một bản nhạc là ông lặng lẽ rút lui. Không ai biết rằng ở một “bến cảng” tiện nghi tuyệt hảo, con mồi tơ do Nguyễn Thức mới mua đang nằm đợi ông.


 


24 giờ đêm. Chuông điện thoại reo. Tám Đôn biết ai thường gọi vào giờ này. Chỉ có người ấy mới gọi cho Đôn vào giờ này. Đôn cẩn thận khép chặt cánh cửa cách âm ngăn phòng ngủ với phòng đặt máy điện thoại rồi cầm ống nghe. Tiếng nói rất gần. A! Thì ra ổng mới vô Sài Gòn! Đôn chưa kịp hỏi thăm sức khỏe thì Người Diễn Thuyết đã nói:


- Tôi báo cho chú một tin dữ: có kẻ đang lập hồ sơ về vụ án “moi ruột có lóc”. Chú liệu mà ứng phó.


- Dạ thưa anh! Xin anh cứ yên tâm! Bọn nó không làm được trò trống gì đâu.


 


*  


Sau khi ly hôn, căn hộ trong khu tập thể của Lê Dung được chia làm hai. Phòng ngoài, nhà bếp và buồng tắm thuộc quyền sở hữu của Chi. Phòng trong nhỏ hơn, vốn là phòng ngủ của hai vợ chồng, nay là nhà của Dung. Tài sản trong nhà thuộc về người được nuôi con, tức là Chi. Chi gửi con về bên ngoại. Một tháng sau, đứa bé bị dịch sốt xuất huyết cướp đi mất. Dung thương nhớ con bao nhiêu thì Chi lại thờ ơ với chuyện đó bấy nhiêu. Con chết mới được vài ngày, Chi đã mời bạn nhảy về ở hẳn với mình. Tối ngày Lê Dung bị tra tấn bởi tiếng nhạc nhảy, những bước chân và những tiếng cười rú lên, thỏa mãn. Anh không chịu nổi. Anh bỏ nhà, đến ở luôn tại phòng làm việc.


 


Lê Dung nhận được điện của cô giáo Mai báo tin mẹ chồng, tức là mẹ của Lữ bệnh nặng. Dung đến nơi thì không phải chỉ có bà cụ bệnh nặng mà Mai cũng bị sốt cao. Sáu năm đã trôi qua kể từ ngày chồng bị bắn chết. Mai bị buộc thôi việc, phải tần tảo may mướn lấy tiền nuôi mẹ chồng và đội đơn đi kiện tứ phương để minh oan cho chồng. Mẹ chồng bệnh nặng cả tháng nay, Mai kiệt sức vì lo lắng cho mẹ. Trong nhà Mai, ngoài cái máy may, không còn thứ gì có thể bán được để nuôi mẹ. Bí quá, Mai phải đánh điện tín báo tin cho Dung biết. Làm việc này, cô khổ tâm lắm! Nhưng không còn con đường nào khác. Mai hiểu, làm phiền đến Dung lúc này là không nên. Anh ấy vừa mất con, mất vợ, hạnh phúc tan nát. Mai là cái gì mà có quyền phiền anh ấy. Nhưng… tự trong lòng Mai, có tiếng gọi của chồng thúc dục: “Em ơi! Đừng ngại! Dung là người bạn tốt của anh. Em có thể tin cậy hoàn toàn vào anh ấy như em đã tin anh! Làm người, lúc gian nan mới cần đến nhau và sẵn sàng giúp nhau thế mới là Người! Cứ báo tin cho Dung biết, anh ấy sẽ đến giúp em! Anh cho phép em!”.


 


Căn nhà thấp lè tè, mái lợp tôn, nóng hầm hập. Nhưng trán Mai còn nóng hơn cả nhiệt độ trong nhà. Đặt bàn tay lên trán cô, Dung xuýt kêu lên vì Mai đang sốt mê mệt. Anh đến, Mai không hề biết. Dung lấy hộp sữa trong cái xắc cốt của mình - món quà thăm người mẹ đang bệnh nặng - đặt lên bàn máy may. Dung lấy khăn mặt nhúng nước đắp lên trán Mai.


 


Làm xong việc ấy, anh chạy ra y tế phường báo cho bác sĩ. Không có ai ở đó cả. Cửa đóng im ỉm. Dung qua hiệu thuốc. Trong túi anh còn vài đồng bạc vừa đủ mua mấy viên thuốc hạ sốt. Mai vẫn nằm mê man trên giường. Chiếc khăn ướt bây giờ cũng nóng dẫy. Dung nhúng nước và để nguyên chiếc khăn ướt lau mặt, lau cổ cho Mai. Đôi môi Mai mấp máy. Dung nhìn thấy đôi môi cô phồng rộp. Chắc là Mai bị sốt lâu rồi. Dung cho cô uống thuốc. A, phải rồi, phải cho uống sữa ngay bây giờ. Có lẽ cô ấy không ăn uống gì. Tội nghiệp! Giá như Lữ còn sống thì đâu đến nông nỗi này. Trong lòng Dung nhói lên nỗi đau. Đau cho bạn. Đau cho mình. Dung biết rõ thủ phạm đích thực gây nên nỗi đau này.


 


Mai nói mê. Câu đầu tiên cô nói:


 


- Anh Lữ! Em chết mất anh ơi!


 


Dung khom người, cúi xuống nói với Mai:


 


- Không! Em sẽ khỏe lại! Ráng uống sữa đi em!


 


- Anh… Mai tỉnh hẳn. Anh Dung đó à! Vậy mà… Em ngỡ là…


 


- Em mơ thấy Lữ, đúng không?


 


- Dạ. Em bị sốt từ ba hôm nay. Trong cơn mê, em thấy anh Lữ còn sống về chăm sóc mẹ giúp em.


 


Dung đưa ly sữa cho Mai. Cô nhìn Dung lộ rõ vẻ biết ơn. Hai tay cô run run cầm ly sữa. Nhưng cô cầm không nổi. Dung biết vậy. Anh nói:


 


- Em ngồi dựa vô tường. Anh múc sữa giúp em.


 


- Chết, phiền anh quá!


 


- Đừng nói vậy. Em phải nghe lời anh. Nào. Ráng uống cho lại sức. Uống sữa xong rồi uống thuốc.


 


Lúc Mai nuốt những muỗng sữa đầu tiên. Dung thấy cô rất mệt, phải cố gắng lắm mới nuốt được. Những đường gân xanh nổi rõ trên cổ, trên mặt cô. Mắt cô trũng, tóc bết lại. Đã thấy lấm tấm mồ hôi rịn ra sau gáy. Mai uống thuốc xong, Dung đỡ cô nằm xuống.


 


- Em đội ơn anh!


 


- Không được nói như vậy nữa. Nào, ráng ngủ đi. Em bị kiệt sức nên trúng gió, cảm cấp tính đó thôi. Em sẽ mau chóng bình phục. Nào, ngủ đi. Bây giờ anh vô bệnh viện thăm má. Tối, anh trở lại với em.


 


- Em thật có lỗi. Em đã làm anh cực.


 


- Nào ngủ đi. Anh đã nói rồi. Không được nhắc lại những lời đó nữa. Anh đi nghe!


 


Dung về nhà xin má được ít tiền. Anh trở lại cơ quan xin ứng trước lương tháng sau rồi hối hả đến bệnh viện thăm mẹ của Lữ.


 


Một tuần sau, bà mẹ chết trên tay Dung. Trước khi chết, bà nhìn Dung, nhìn Mai nói:


 


- Má chết đến ngực rồi. Má xin hai con ráng đi thưa để minh oan cho thằng Lữ! Và má mong hai con kết duyên chồng vợ. Có được không? Nếu được thì hai con nói, cho má yên lòng nhắm mắt.


 


Mai nắm chặt hai bàn tay đã lạnh của bà cụ, vừa khóc vừa nói:


 


- Má! Con hứa với má… con sẽ đi thưa cho đến bạc đầu để minh oan cho chồng con!


 


Dung nói:


 


- Thím hãy tin là chúng con sẽ minh oan được cho Lữ. Con hứa với Thím Tư chắc chắn là thế.


 


Đôi mắt bà mẹ cứ nhìn Dung chăm chú như muốn hỏi: chừng nào hả con? Dung lau nước mắt, rồi run rẩy đặt ngón tay trỏ của mình lên mí mắt người chết. Đôi mắt bà mẹ khép lại. Lần đầu tiên trong đời anh làm động tác này. Với con anh, anh không được thấy mặt trước khi cha con vĩnh viễn xa nhau. Con anh mất khi anh đang bí mật bám theo một tàu kéo dắt xà lan lash đi Campuchia. Đó là chuyến đi đầy mạo hiểm của Dung. Nhờ chuyến đi ấy mà anh hoàn tất được hồ sơ vụ án.


 


Đám tang của bà mẹ “một tên phản bội” diễn ra thật não nề. Trời mưa sầm sập. Chỉ có chừng mươi người đi tiễn bà Tư về nơi an nghỉ cuối cùng. Mai đi không vững. Cô hoàn toàn kiệt sức, cả về thể xác lẫn tinh thần. Nếu không có Dung, chắc chắn cô không lo nổi việc an táng cho má chồng. Cô biết lấy gì để đền ơn Dung? Bây giờ, trong tâm linh cô, bên cạnh hình ảnh người chồng mà cô vô cùng yêu thương, có hình ảnh của Dung. Cô coi Dung như người anh mà cô rất kính trọng, cô mang ơn Dung.


 


*  


 


Sáng chủ nhật, Thức dậy sớm. Đã thành nếp từ nhiều năm nay, ngày chủ nhật Thức giành trọn cho vợ con. Chỉ trừ những khi phải đi xa thành phố, còn thì chủ nhật nào Thức cũng đưa vợ con đi chơi. Những địa điểm gia đình Thức vui chơi là Vũng Tàu, Lái Thiêu, Thủ Đức. Vào kỳ nghỉ hè, năm nào Thức cũng cho vợ con đi Đà Lạt. Trong những chuyến du ngoạn, bao giờ Thức cũng giành làm tất cả mọi việc: từ việc ủi quần áo cho vợ và các con, đến việc đi tiệm Như Lan nổi tiếng ở chợ Cũ mua thức ăn đồ uống mang theo. Đến nơi, Thức không để vợ con làm bất cứ việc gì. Những ai đã từng chứng kiến cảnh sinh hoạt của gia đình Thức, đều phải thầm ao ước giá như gia đình mình cũng được hạnh phúc như vậy. Rất ít khi, hầu như không bao giờ Thức la mắng vợ con. Vả chăng vợ Thức rất hiền thảo, con Thức rất ngoan, học giỏi cho nên Thức không có điều gì để mà phiền trách. Công việc của Thức, Thức tính toán, hành động ở nơi khác. Khi về nhà, Thức rũ sạch mọi thứ, để lòng thanh thản bên vợ con. Điều đó đã trở thành thói quen. Cho dù Thức vừa chỉ đạo một vụ giết người, khi về đến nhà, Thức quên phắt những chuyện ấy. Có lẽ vì thế mà trên mặt Thức, luôn luôn có nụ cười.


 


Thức lễ mễ xách cái giỏ đầy ắp thức ăn, đồ uống vừa mua từ chợ Cũ vào nhà. Vợ con Thức vẫn chưa sửa soạn xong. Quần áo Thức đã ủi sẵn. Thức dậy từ bốn giờ sáng là vì thế. Đích thân Thức tắm cho đứa gái út. Thức pha nước vừa đủ ấm, ẵm con gái trên tay, cẩn thận gội đầu cho con y như con bé mới được vài tháng tuổi. Vợ chồng ao ước có đứa con trai nhưng càng đẻ, chỉ thấy toàn gái. Năm con gái. Ngũ long công chúa. Thức an ủi vợ. Thức buồn, nhưng biết là vợ buồn hơn vì vợ bao giờ cũng lo chồng buồn. Thức bảo vợ: Anh và em sẽ nuôi dạy ngũ long công chúa thật tốt, đứa nào cũng xinh đẹp, cũng vào đại học, thành tài. Thấy con mình, ai cũng phải phục nghe em! Con gái út đã mười tuổi, nhưng Thức vẫn tắm cho con. Con gái lớn năm nay hai mươi tuổi, đang học đại học sư phạm, năm thứ hai. Cô Ba thì học đại học y dược, năm thứ nhất. Cô tư năm nay thi tốt nghiệp trung học. Cô năm sinh sau chị tới sáu năm, năm nay đang học lớp sáu. Cô út, con gái cưng đang được ba tắm cho, năm nay học lớp năm. Thức rất tự hào về đàn con. Đứa nào cũng xinh đẹp, giống mẹ ở nước da trắng và tính tình hiền dịu. Đứa nào cũng thông minh, học giỏi nhất lớp. Cha Thức cũng vậy. Ông thường ngắm các cô cháu gái và gật gù hài lòng. Giá như có lấy thằng con trai cho ông! Đấy là ước ao của cha Thức, của Thức. Nhưng hai người đàn ông ít thổ lộ điều đó ra, sợ làm mất vui người khác. Bốn chị em đi hai chiếc cúp nữ hoàng màu đỏ. Thức chở vợ và đứa con gái út trên chiếc Dream II màu mận chín. Tất cả đều mang bảng số chín nút. Ba chiếc xe nổ máy êm ru chờ vợ Thức ra để xuất phát. Vợ Thức đang khóa cửa thì có chuông điện thoại.


 


- Anh ơi! Có điện thoại.


 


Thức tắt máy xe, rút chìa khóa, đi vào nhà.


 


- Em và các con chờ anh vài phút.


 


- Dạ.


 


Vợ Thức bước ra ngoài. Không bao giờ, khi chồng đang nói chuyện qua điện thoại, cũng như nói chuyện với khách mà chị lại ở bên chồng. Công việc của chồng chị không được phép biết tới, chồng chị đã yêu cầu chị như thế, ngay trong đêm tân hôn cách đây 21 năm. Và hai mươi mốt năm qua, chị không vi phạm một lần cái nguyên tắc này.


 


Nghe giọng. Thức nhận ngay ra Đôn.


 


- Dạ thưa anh Tám, có em!


 


- Ồ. Chú mày đang phục vụ vợ con hỉ? Có chuyện cần bàn gấp. Đến anh liền bây giờ.


 


- Dạ… Anh Tám…


 


- Đến liền, hỉ?


 


Thức hiểu đó là mệnh lệnh. Không thể khác được. Mặt Thức thoáng buồn rồi bình thản lại ngay. Thức đưa vợ và các con đến khu du lịch Kỳ Hoà, mua vé vào cổng cho cả nhà. Đặt bé gái út lên chiếc máy bay, chờ cho công tắc điện được nhân viên điều hành nhấn nút, Thức mới tạm biệt vợ con, quay về với công việc.


 


- Anh phải xin lỗi em, có việc đột xuất. Ba xin lỗi các con! Ba phải đi gấp! Các con vui chơi, đừng để má buồn nghe!


 


Thức phóng xe như bay đến “bến cảng”, nơi Tám Đôn với con mồi mới đang còn nằm ôm nhau trong phòng ngủ. Chủ của động này là một người đàn bà đã năm mươi nhưng còn nhiều nhan sắc. Thức hỏi:


 


- Chị Ba, ổng hài lòng chứ?


 


- Trời ơi, tôi rầu thúi ruột à chú Hai! Con nhỏ nó nhát quá. Nó… còn nhỏ qúa, nên đau. Nó la quá. Cửa cách âm rồi mà tôi ngồi ngoài phòng khách còn nghe rõ. Suốt từ hồi hôm tới giờ, nó mới cho ổng có một cái à… Chú nói với ổng giúp tôi một tiếng nghe. Ổng đang giận hay sao đó.


 


- Thôi được. Chị Ba xuống dưới nhà đi.


 


Người đàn bà vừa xuống dưới nhà thì cửa phòng ngủ mở ra. Chiếc váy đỏ ngắn, nhàu nát để lộ cặp chân mảnh khảnh, bộ ngực mới nhú lên. Thức nhìn vào mặt con bé. Nó còn con nít. Nó sợ. Có lẽ nó bị đau thật! Con bé cúi đầu, len lén bước xuống cầu thang. Thức rủa thầm: con mụ Ba này cáo già thiệt! Vậy mà dám quảng cáo là mơn mởn đào tơ, chặt đẹp sáu chỉ! Chắc là ổng quạu cho coi.


 


Nhưng Tám Đôn gọi Thức đến không vì chuyện đó. Uống ực một hơi cạn ly sữa hột gà nóng, Đôn nhìn Thức, nói vừa đủ nghe:


 


- Anh gọi chú mày, phá ngày phục vụ vợ con của chú mày vì có chuyện gấp. Chiến dịch “Moi ruột cá lóc” đã bại lộ. Chúng nó đang làm thủ tục khởi tố. Ngày mai, 12 giờ trưa là tụi nó sẽ ra tay: sẽ bắt làm nhiều đợt. Đợt đầu, sẽ bắt hai chục thằng. Bởi vậy, anh ra lệnh cho chú mày phải khử.


 


- Em xin anh Tám cho khử thằng Dung từ lâu rồi, anh đâu có chịu.


- Im đi. Chú mày ngu lắm! Năm ngoái mà khử nó thì có khác gì chú mày bảo với công an rằng việc ăn cắp hàng ở xà lan lash là có thật.


 


- Vậy phải khử nó ngay hôm nay?


 


- Ai? Chú mày bảo khử ai?


 


- Thằng Dung!


 


- Trời ơi. Sao ngu lâu thế? Nên nhớ rằng bây giờ không ai có thể đụng đến lông chân của nó. Nó không phải con nít. Chú mày đúng là… hữu dõng vô mưu.


 


Lần đầu tiên Thức nghe Tám Đôn chửi mình ngu và hữu dõng vô mưu. Thức cúi đầu nuốt giận. Từ ngày được Tám Đôn cho làm lại lý lịch, Thức tự nguyện coi mình là con chó trung thành với chủ. Không một việc gì Thức làm lại không xuất phát từ ý nghĩ: phải làm sao cho ổng vui lòng.


 


- Già dơ như tao mà còn không dám thịt nó, chỉ vô hiệu hóa nó, hiểu chưa? Đã hai lần tao vô hiệu hóa nó. Nhưng thằng Ba đã cứu nó. Nó có chỗ dựa không tồi. Thằng cha thiếu tướng Ba, kẻ thù không đội trời chung của tao, chính là người đã chỉ đạo cho thằng Dung điều tra vụ “Moi ruột cá lóc”. Chú mày nghe đây. Bây giờ không phải lúc trả thù thằng Ba hay thằng Dung. Hãy để chuyện đó lại sau này ta tính. bây giờ phải vô hiệu hóa tất cả chứng cứ buộc tội của chúng nó. Trước hết, ngay ngày hôm nay, chú mày phải khử thằng thợ hàn…


 


- Thằng Mít?


 


- Phải. Chính nó. Vì nó biết quá nhiều. Nó nhận lệnh của chú mày. Nó lại thấy mặt tao. Số nó chết!


 


Thức cố kìm nén sự hoảng hốt. Nếu lộ ra sự hoảng hốt, biết đâu, Tám Đôn chẳng cho người khử luôn cả mình. Kinh khiếp! Con người này quả sắt máu. Mít chính là người thực thi ý đồ của Tám Đôn và của Thức. Mít trực tiếp nhận lệnh của Thức. Mít là người có sáng kiến mang máy hàn gió đá lên xà lan để mở mối niêm hàn. Mít là người móc nối người tiêu thụ toàn bộ hàng lậu, và hàng ăn cắp từ tàu lash. Cũng chính Mít đã một lần kiếm gái tơ cho Tám Đôn. Đúng như Đôn nói: chỉ cần khử Mít là an toàn tuyệt đối.


 


- Còn những thằng kia, nội ngày hôm nay phải báo cho chúng nó để chúng chuẩn bị. Phải dạy chúng cách trả lời với công an. Dạy từ thằng giám đốc đại lý lash đến thằng đầu não tiêu thụ hàng. Phải làm cho chúng nó yên lòng. Chú mày hiểu không?


 


- Dạ, thưa anh Tám, em hiểu.


 


- Trước khi chúng bị còng tay, mọi việc phải như anh nói.


 


- Rõ.


 


- Chú mày đi được rồi!


 


*  


 


Thức ra lệnh cho đệ tử xong xuôi, vội vã trở về khu du lịch Kỳ Hòa vào đúng lúc vợ và các con Thức đang trải tấm bạt ra thảm cỏ dưới rừng thông, dọn đồ ăn. Thức reo lên:


 


- Cho ba ăn với! Cho anh ăn với em!


 


Năm đứa con gái của Thức cùng reo lên:


 


- Ba về! Ba về! Vui quá má ơi!


 


- Vắng anh, em và các con mất vui từ sáng tới giờ.


 


- Nào! Đưa dao đây ba cắt chả lụa cho nào.


 


Thức cắt cây chả lụa và liếc nhìn đồng hồ. Đúng 12 giờ trưa! Không để lộ điều gì, Thức chăm sóc việc ăn uống cho vợ, cho từng đứa con và cho mình. Những lon bia và cô ca được khui ra, hương thơm thoảng trong gió.


 


Đúng vào thời điểm đó, tại nhà của Mít, lũ con Mít ăn uống xong lăn ra ngủ say như chết trên lầu hai. Đêm qua chúng nó thức trắng đêm để coi vidéo. Từ ngày tham gia chiến dịch “Moi ruột cá lóc”, Mít đã cất được nhà đúc ba lầu, mua sắm tiện nghi không thiếu thứ gì. Mít ngủ ở tầng trệt. Phòng hai vợ chồng phía sau phòng khách. Vợ Mít ngồi bán ở sạp tạp hóa tại chợ Bình Tây - thực chất là một đầu mối tiêu thụ hàng lậu. Giờ này chỉ có mình Mít ở nhà. Mít đang thiu thiu ngủ thù có tiếng chuông gọi cửa, đúng hai tiếng theo mật hiệu quy ước. Mít mở cửa. Một cô gái da trắng mịn, áo dài màu thiên thanh bước vào. Mít mê mẩn cả người. Giờ này mà được ôm em thì tuyệt. Hai Thức điệu quá trời. Chủ nhật phái người đẹp đến giúp vui! Hắn đã giữ lời hứa; thưởng bằng gái tơ. Cách đây một tuần, Thức đã hứa với Mít đúng như vậy.


 


- Em được anh Hai cho đến hầu anh!


 


- Ôi chao! Điệu quá ta. Vô đây, vô đây em!


 


- Còn chị nhà đâu?


 


- A, à… Bà xã anh giờ này, hề hề… bả đang ôm cái sạp hàng ở chợ Bình Tây!


 


- Em khát quá hà. Cho em uống nước nào.


 


- A, có ngay đây. Bia để lạnh. Nào!


 


Mít lấy bia từ trong tủ lạnh ra. Hai người cụng ly. Vừa uống, Mít vừa lần tay gỡ nút bấm của chiếc áo dài. Chờ cho Mít cởi chiếc quần lót ra, cô gái nói:


 


- Anh vô rửa ráy cho mát đi! Người anh nóng quá hà!


 


Mít đi như bay vào buồng tắm, xối nước vội vàng. Khi trở ra, cô gái cầm ly bia đưa cho Mít:


 


- Nào! Anh với em cụng ly trăm phần trăm rồi lên giường!


 


Mít đón ly bia. Cô gái áp chặt tấm thân vào người Mít. Mít uống cạn ly bia trong nháy mắt. Đặt cái ly không xuống bàn, Mít lôi cô gái ngả xuống giường nệm. Nhưng, đó là cử động cuối cùng của Mít.


 


Khi lũ con của Mít la lên, mọi người ập vào thì thấy Mít trần truồng nửa người trên giường, chân ở dưới đất, co quắp, hai mắt trợn ngược. Máu ở tai và miệng phì ra loang lổ tấm drap trắng.


 


Cuộc giải phẫu tử thi tiến hành sau đó cho thấy Mít chết vì liều thuốc độc cực mạnh. Cũng trong thời điểm Mít chết, năm bị cáo quan trọng nhất tẩu thoát, chỉ có mười bốn bị cáo bị bắt. Việc hỏi cung và điều tra kéo dài suốt một năm mà không có kết quả gì. Những tên bị bắt chỉ là bọn thừa hành và không biết gì. Mãi một năm sau, phiên tòa sơ thẩm xét xử bọn chiếm đoạt tài sản Nhà nước đã tuyên án tử hình tên Ngô, chuyên tiêu thụ hàng ăn cắp, và phạt những tên khác từ năm đến hai chục năm tù. Vợ Ngô xuất ra hai trăm cây vàng để chạy giảm án cho chồng xuống còn chung thân. Thức nhận vàng giao cho Đôn. Giao kèo được thực hiện.


 


Kết quả phiên tòa khiến Dung vô cùng thất vọng. Anh không ngờ rằng bao nhiêu công lao của anh và đồng đội đổ xuống sông xuống biển. Những tên tội phạm đích thực, những kẻ chủ mưu vẫn sống nhơn nhơn, được pháp luật bảo vệ. Dung cảm thấy công việc của mình quả là vô nghĩa. Bao nhiêu chứng cớ mà anh thu thập được, bị xếp xó. Anh mơ hồ nhận ra có một bàn tay vô hình lèo lái vụ án này. Ngậm đắng nuốt cay, Dung trở về với mẹ. Người mẹ già tội nghiệp của anh vất vả suốt cả cuộc đời. Năm Dung cất tiếng chào đời cũng là năm ba của anh bị giết. Má anh kể lại rằng ba anh là một con người tuyệt vời, sống bằng lao động chân chính. Nửa đêm, hai tên mật thám xộc vô nhà dựng ba anh dậy. Chúng hỏi: tên cộng sản đến liên lạc với mày là ai. Bây giờ nó đâu? Ba anh trả lời: cộng sản nào? Tôi không biết! Chúng bắt ba anh lên xe. Má anh la lên kêu cứu liền bị một tên đánh cho bất tỉnh. Từ đêm ấy, mãi mãi không bao giờ ba anh trở về nữa. Má anh thờ chồng nuôi con, dạy con sống trung thực và nhân ái như cha mẹ. Giờ đây má đã già yếu lắm rồi. Gần sáu mươi rồi còn gì. Mỗi lần về thăm má, Dung thương má và tự trách mình có lỗi với má, không chăm sóc má, để bà phải sống lủi thủi một mình. Người mẹ thấy đứa con trai độc nhất của mình độ rày hốc hác hẳn đi, xót xa lắm. Bà nghĩ, Dung đau buồn vị vợ hư hỏng, vì con chết yểu. Bà không biết, ngoài nỗi đau ấy, con trai bà còn nỗi đau lớn hơn nhiều: ấy là công lý, là luật pháp không nghiêm.


 


Những tên tội phạm lại được sống nhởn nhơ ngoài vòng luật pháp.


 


Người mẹ thấy con trằn trọc không ngủ, hỏi:


 


- Con lo lắng chuyện gì vậy?


 


- Dạ, không.


 


- Con dấu má. Độ rầy, má thấy con ốm đi nhiều lắm. Lo mà giữ cái sức khỏe con ạ. Tuổi còn trẻ, không lấy vợ nữa sao?


 


- Con… Con chưa tính má à.


 


- Phải tính chớ con. Phải làm lại từ đầu. Người như con… phải, má tin là con sẽ tìm được người tử tế. Thời buổi bây giờ, đồng tiền nó mạnh lắm. Con gái chạy theo đồng tiền… hư hỏng hết. Chả còn gì là luân thường đạo lý. Con phải nghe má. Má già yếu lắm rồi. Hãy kiếm lấy một người tốt! Con mà không lập lại gia đình, má đâu có yên lòng nhắm mắt.


 


Nghe giọng nói, Dung biết má anh đang khóc. Anh hứa với má là sẽ làm theo. Đêm ấy, cũng như nhiều đêm trước, anh nghĩ đến Mai. Giá như người vợ nào cũng sắt son chung thủy như Mai? Cứ mỗi lần nghĩ đến Mai, Dung lại nhớ đến trách nhiệm của mình. Vụ án “Moi ruột cá lóc”, anh coi như thất bại. Còn vụ minh oan cho Lữ, lôi bọn tội phạm ra trước vành móng ngựa xét xử công khai liệu anh có làm nổi không? Hay là anh bất lực?


 


Dung vừa tìm ra một bằng chứng quan trọng. Tình cờ, khi sửa lại mái nhà cho Mai, thay hai tấm tôn mới, Dung phát hiện ra một cuộn giấy nhỏ dấu phía sau ảnh thờ của ba Lữ. Thì ra đó là bản lưu một lá đơn mà thiếu úy Lữ đã gửi đi. Gởi đi đâu? Chắc chắn Lữ lường được hết nguy hiểm của việc này nên mới lưu giữ một bản tại nhà. Sao anh không biết? Lữ dấu vợ? Đức tính của một sĩ quan công an: chuyện công tác luôn luôn bí mật. Trong lá đơn này, thiếu úy Lữ nói đến một người tên là Lý Tài. Tài là tên chuyên móc ráp người vượt biên theo phương án bán chính thức. Tài trực tiếp thu vàng của họ để nộp cho công an. Theo Lữ ước tính: tổng số vàng Tài đã nộp cho công an lên đến ba ngàn cây.


 


Vấn đề là phải tìm ra tên Tài. Hắn là ai? Ở đâu? Hắn còn sống ở đây hay đã ra đi, hay đã bị thủ tiêu để bịt đầu mối như tên Mít? Muốn tìm ra địa chỉ của Tài, phải hỏi những người chứng kiến cảnh thiếu úy Lữ bị sát hại.


 


- “Đồng chí với nhau mà họ giết nhau thảm khốc như thế thì đối với dân đen họ coi ra gì!”. Toản, một người dân vượt biên lần thứ sáu vẫn bị bắt, trả lời Dung. Anh ta đã cắt nghĩa tại sao mình quyết rời bỏ xứ sở quê hương. Câu nói ấy sắc như lưỡi dao! Sau sáu năm trời, bốn chục người trên chuyến tàu ấy đã lần lượt ra đi hết; chỉ còn mỗi anh ta ở lại vì chuyến đi nào cũng không thành. Toản bảo: “Đời người ta, sướng khổ có số! Từ nhỏ, tôi được cha mẹ dạy dỗ: “Ráng học thật giỏi. Thời nào cũng cần người tài”. Cha tôi là thợ nấu thép ở nhà máy Vicasa, là thợ giỏi, được chủ hãng rất trọng nể, cho hưởng lương bổng cao nhất. Tôi được gia đình cho đi Mỹ du học. Tôi về nước với bằng kỹ sư cầu đường, làm việc ở Bộ giao thông công chánh, chuyên lo về thiết kế cầu bê tông tiền áp. Sau vài năm, tôi được một công ty mời về làm cố vấn kỹ thuật. Tôi đã trực tiếp làm hàng chục cây cầu lớn ở miền Nam. Cũng như cha tôi, tôi được trọng nể, được trả lương cao nhất. Tết, lễ, chủ hãng đến tận nhà tôi chúc Tết, quà cáp rất hậu hĩ. Tôi hơi bị sổ mũi nhức đầu một tý là chủ hãng cho mời bác sĩ đến chữa trị, ngay tại nhà mình. Giải phóng, tôi háo hức ở lại vì tin rằng cách mạng cũng trọng trí thức. Nhưng tôi lầm! Tôi chịu đựng được ba năm trong thân phận một con chó ghẻ thì phải xin nghỉ việc. Lúc đó tôi mới nhận ra rằng: cả một đội ngũ trí thức khoa học tài giỏi được đào tạo từ Âu, Mỹ đã bị loại thải. Thay vào đó là những ông, bà dốt nát và thô bỉ: Có những người trí thức tài giỏi ở hàng ngũ cách mạng, nhưng xem ra, họ không được giao phó trọng trách. Họ không có quyền! Quyền lực nằm trong tay những anh làm chính trị. Những tên dốt nát mà cầm quyền thì tất phải sử dụng những thằng vô học. Đó là quy luật. Và thế là chấm hết! Một đất nước tự đi giật lùi, trở lại thời kỳ nghèo nàn lạc hậu. Những người ra đi bằng thuyền, đâu phải là những tên phản bội Tổ quốc! Nếu là ác ôn, có nợ máu, là viên chức cấp cao hoặc sĩ quan cao cấp của chế độ cũ, hẳn là họ đã đi từ khuya rồi. Đâu phải đợi đên bây giờ…”.


 


Toản nhìn thẳng vào mặt Dung và hỏi: “Anh đã bao giờ đặt địa vị anh vào hoàn cảnh những người như tôi chưa? Sống được là giỏi, không uất lên khùng điên, tự vẫn, là giỏi lắm đó. Sống để tìm cách ra đi! Vợ con tôi đã đi thoát rồi. Tôi mãn nguyện rồi. Còn riêng mình tôi, thế nào cũng có chuyến chót lọt chứ. Chẳng lẽ tôi cứ bị bắt hoài? Trong trại giam, tôi thuộc tánh nết từng vị cai ngục nào thích nhận tiền, người nào chỉ nhận vàng. Có người nhận, không nhận trực tiếp mà qua dịch vụ vé số. Họ phòng hậu họa! Kể tự do cũng rẻ thật! Hồi còn phương án ra đi bán công khai thì mỗi người nộp năm cây. Năm cây là có tự do! Nay thì khác, rẻ hơn nhiều chỉ nộp một cây thôi, còn một cây qua bên kia mới trả tiếp - cho người đại diện! Bị bắt, muốn ra trại sớm, chỉ cần một vài chỉ là xong. Tự do rẻ thế là cùng! Cái số tôi tưởng là sung sướng từ nhỏ đến già. Nào ngờ! Bây giờ chỉ còn cách chờ vợ con bên Úc bảo lãnh cho qua, chứ trong nhà hết sạch rồi! Chẳng còn vàng vọt chi nữa mà đi”.


 


- Anh có biết Lý Tài, đã từng tổ chức chuyến tàu mà thiếu úy Lữ bị bắn chết?


 


- Biết, Sài gòn, Chợ Lớn cũng như lục tỉnh, ai mà chẳng biết ông Tài. Ông ta trọng chữ tín, sòng phẳng. Ổng có nhà đẹp lắm, một cái vi la đẹp nhất trên đường Trương Minh Giảng. Tôi không nhớ số. Nhưng mà tìm ông ta khó lắm. Ổng ít ở nhà. Công việc của ổng vậy mà. Hồi đó, ông Tài hợp tác với công an tổ chức các chuyến đi. Ông Tài được tin cậy lắm. Họ thường ăn nhậu với nhau, như những người tri kỷ. Tôi được người quen giới thiệu đến gặp ông Tài để xin nộp vàng, ra đi. Tôi gặp ông ta có mấy phút là được chấp thuận. Chính là ở chuyến tàu ấy, tôi chứng kiến người ta bắn thiếu úy Lữ bắng cả một băng đạn AK. Anh Lữ bị vùi xác xuống bờ kênh, quân phục bị lột sạch, chỉ còn độc cái quần xà lỏn! Khi người mang lon trung tá xuất hiện, tôi liều mạng kêu rằng không nên chôn người chết như vậy. Ông trung tá trừng mắt nhìn tôi rồi buông một câu: nó là thằng phản bội, phải trừng phạt nó ngay cả khi nó chết rồi! Giọng ta nằng nặng, khó nghe. Đối với tôi ấn tượng một thi thể lỗ chỗ vết đạn, bị vùi xuống bùn đen, máu đỏ hòa với bùn làm tôi không bao giờ quên được. Suốt đời tôi, tôi không thể quên chuyện đó! Về sau này, tôi còn được biết - những người tìm cách ra đi thường biết rất nhiều chuyện - rằng anh Lữ có một người vợ mới cưới. Người vợ này là giáo viên trung học đã bị buộc thôi việc vì chồng là tên phản quốc! Tôi không hiểu rồi cô ấy sẽ sống ra sao? Có đứng vững không? Liệu có phải đi làm gái để sống như đám vợ con ngụy không? Ôi chao! Con người ta sao lại có người khổ đến như thế! Vái trời cho cô giáo bị mất việc ấy đứng vững được… Toản lấy khăn lau mắt, anh ngưng bặt, không nói gì thêm nữa.


 


Câu chuyện với kỹ sư Toản kết thúc bằng niềm thương cảm như thế. Dung lặng đi hồi lâu. Hình ảnh Lữ, hình ảnh Mai hiện lên. Dung yêu cầu kỹ sư Toản nói về đặc điểm cái vi la của ông Tài để anh dễ tìm ra, rồi tạm biệt.


 


- Tôi sẽ còn tìm gặp kỹ sư khi cần.


 


- Tôi sẵn lòng, nếu khi ấy tôi chưa được bảo lãnh.


 


Kỹ sư Toản cười, bắt tay Dung. Anh ta có nụ cười thật hiền hòa. Nụ cười làm sáng gương mặt Toản.


 


Những người như Toản, phải rời bỏ quê xứ sở ra đi chắc hẳn là đau lòng lắm. Ra đi một lần không thành, năm, sáu lần đều thất bại. Lo cho vợ con đi riêng, may mà tới bến tới bờ. Bây giờ, hết tiền, vàng hết, nhưng vẫn quyết chí ra đi. Chờ vợ con làm ra tiền, bảo lãnh để ra đi. Điều gì khiến những người như Toản sẵn sàng liều mạng với biển cả; đánh cá cuộc đời, gia đình, hạnh phúc cho sự may rủi? Câu hỏi này, Dung ra đặt ra với rất nhiều người. Mỗi người trả lời một cách, nhưng tựu trung, họ đều giống nhau một quan điểm: họ sợ cộng sản!


 


 (còn tiếp)


Nguồn: Sóng lừng (V.N. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 03.02.2019
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.02.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 22.01.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 19.01.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 11.01.2019
Dòng đời - Nguyễn Trung 07.01.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 07.01.2019
Trả giá - Triệu Xuân 04.01.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 04.01.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 27.12.2018
xem thêm »