tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27670220
Truyện ngắn
01.07.2009
Stefan Zweig
Một trái tim tan nát (4)

Ông lão nghe ngóng mãi bên trong bản thân mình: ông không nghe thấy tiếng chuông điểm giờ trên mặt hồ vọng vào phòng ông như mọi khi, mỗi tiếng chuông đổ hồi đều mang theo một chút bóng hoàng hôn. Xung quanh ông bóng đêm đã tràn khắp, bóng tối đã xóa đi mọi vật trong không gian và bản thân không gian cũng nhòa dần, cho đến mảng trời sáng mờ trong ô cửa sổ cũng tắt hẳn trong đêm tối. Ông lão không để ý đến quang cảnh ấy. Tất cả sức chú ý của ông tập trung vào cái vật màu đen ở trong người ông, ông chỉ dỏng tai nghe khoảng trống trong cơ thể ông, giống như ông tự nhốt kín trong cái chết của bản thân mình.


Cuối cùng, trong phòng bên có tiếng cười nói vui vẻ, ánh đèn dọi vào ở bên cạnh, tia sáng lọt qua cánh cửa chỉ khép hờ. Ông lão hoảng hốt: vợ ông, con gái ông! Họ sắp nhìn thấy ông nằm nghỉ trên giường và sẽ hỏi han. Ông cài nhanh cúc áo khoác và áo gi-lê. Họ cần gì phải biết việc ông vừa bị một cơn đau? Điều đó có bận tâm gì đến họ?


Nhưng hai người đàn bà không tìm ông. Rõ ràng là họ khá vội: chuông báo bữa ăn chiều đã giục đến lần thứ ba. Cả hai có lẽ đang trang sức. Ông lão dỏng tai rình nghe từng tiếng cử động của vợ con ông lọt qua cánh cửa hé mở. Họ mở ngăn kéo, tháo nhẫn, tiếng nhẫn để lên bàn nghe rất nhẹ, liền đó tiếng dép quẹt nhẹ trên sàn, và trong suốt thời gian trang điểm, họ trao đổi chuyện trò, ác một nỗi, từng lời từng lời vẫn cứ như rót vào tai ông lão, nghe rõ mồn một.


Lúc đầu họ nói về mấy ông bạn nhảy, chế giễu bọn chúng và về vài chuyện bất ngờ vặt vãnh trong cuộc đi dạo bằng xe.


- Ba đâu rồi nhỉ? - Ecna hỏi, cô gái lấy làm ngạc nhiên về việc đã không nghĩ đến cha sớm hơn.


- Mẹ biết đâu đấy? - tiếng bà mẹ đáp, rõ ràng là bực bội khi phải trả lời câu hỏi đó - Có lẽ ông ấy chờ mẹ con mình ở dưới nhà, trong phòng lớn; trong lúc ngồi đợi có dễ ông ấy đọc đến lần thứ một trăm bản tin thị trường chứng khoán trong tờ “Frăng pho nhật báo” bởi vì ngoài điều đó ra, không có gì làm ông ta hứng thú hết. Con có tin là ông ta đã có lần nào ngắm mặt hồ không? Ông ấy nói với mẹ trưa nay là ông không thích ở đây nữa. Ông ấy còn muốn cả nhà đi khỏi đây ngay ngày hôm sau.


- Đi ngay ngày hôm nay! Vì sao vậy? - tiếng Ecna hỏi lại.


- Mẹ không biết. Ai mà biết được ông ấy nghĩ cái quái quỉ gì. Các ông bạn của mẹ con ta không vừa ý ông ấy, rõ ràng là ông ta có ác cảm với họ. Cũng có thể ông ta tự thấy mình lạc điệu giữa bọn họ. Quả thật là xấu hổ về cách ăn mặc của ông già, áo quần lúc nào cũng nhàu nát, cổ áo thì quá quăn queo... Con phải nhắc và khuyên ông ấy nên ăn mặc cẩn thận hơn một chút, ít nhất là vào buổi tối, bởi con nói ông già còn chịu nghe. Lại còn sáng nay nữa chứ... mẹ chỉ muốn chui xuống đất cho khỏi ngượng, lúc ông ta chửi bới ầm ĩ chỉ vì ngài sĩ quan hỏi mượn ông bao diêm...


- Vâng, nhưng như thế là thế nào hở mẹ? Con định hỏi lại ba xem, lúc đó ba làm sao thế nhỉ? Chưa bao giờ con thấy ba như vậy, con hoảng quá.


- Ôi dào! Bực bội cái gì đấy thôi. Có thể là giá hối đoái hạ xuống; cũng có thể do chúng mình nói chuyện với nhau bằng tiếng Pháp cũng nên. Cứ thấy người khác vui vẻ là ông ta không chịu nổi. Con không thấy ư, trong lúc chúng ta nhảy, ông ấy đứng trên ngưỡng cửa cứ như là tên sát nhân nấp sau một thân cây. Đi! Đi khỏi đây ngay lập tức... Mà chỉ vì đột nhiên ông ta nổi cơn hâm thế thôi, nếu ông ta không thích ở đây thì cũng chẳng phải vì thế mà mẹ con ta phải chịu bó thú vui tiêu khiển của mình. Nhưng thôi, ông ta lẩm cẩm thì mặc ông ta. Cứ kệ cho ông ấy muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm.


Câu chuyện ngừng lại. Có lẽ vì trong lúc chuyện trò, họ đã trang điểm xong để đi ăn bữa chiều. Quả vậy, cánh cửa bật mở và lúc này họ ra khỏi phòng. Có tiếng “cách” của công tắc điện và đèn tắt. Ông lão ngồi lặng ngắt trên ghế đi văng. Ông đã nghe rõ từng lời, nhưng lạ một nỗi, ông không hề cảm thấy đau đớn chút nào. Trong ngực ông cái chuyển động quái ác như máy đồng hồ ban nãy còn vang lên đều đều và cấu xé ông, bây giờ đã câm bặt. Có lẽ máy đã vỡ tan rồi. Câu chuyện ông vừa bất chợt nghe được không làm ông rung động một chút nào nữa...


Không chút giận dữ, không chút hận thù. Không còn gì hết. Ông yên lặng cài cúc áo quần, cẩn thận bước xuống cầu thang và ngồi vào bàn ăn bên cạnh vợ con, y như họ là những người xa lạ.


Tối hôm ấy ông không nói một lời. Hai mẹ con không hề để ý đến sự yên lặng đó, nó như một quả đấm hăm dọa hằn học.


Không chào, không hỏi, ông trở về buồng mình nằm lên giường và tắt đèn. Khuya lắm vợ ông mới trở về sau cuộc chuyện trò vui vẻ, đoán là ông đã ngủ, bà thay áo quần trong bóng tối. Lát sau, ông đã nghe thấy hơi thở nặng nề và đều đều của bà. Ông lão nằm trơ trọi một mình, mắt đăm đăm nhìn vào khoảng không vô tận của đêm tối. Bên cạnh ông, một vật gì lù lù nằm trong bóng tối và thở sâu. Ông cố gắng lắm mới nhớ lại được cái thân thể cùng thở một bầu không khí trong cùng một căn buồng với ông là cái thân thể mà ông đã biết từ khi nó còn trẻ trung và nồng nhiệt, đã cho ông một đứa con; một tấm thân đã gắn với ông bằng mối liên hệ bí hiểm và sâu xa nhất của máu huyết. Ông lại phải cố gắng nữa mới nghĩ được rằng cái con người ấm áp và mềm mại đang nằm bên cạnh ông, tay ông có thể sờ thấy được, đã từng là một cuộc đời trong đời ông. Nhưng kỳ lạ thay, kỷ niệm đó không hề gợn lên trong ông một tình cảm nào. Và tiếng thở của bà đối với ông không khác gì tiếng dạt dào của những gợn sóng lăn tăn dội vào đá sỏi bên bờ hồ mà ông nghe vọng qua cửa sổ. Tất cả trở nên xa xôi và vô nghĩa đối với ông; nó chỉ còn là một cái tình cờ, bất thần và xa lạ. Thế là hết, mãi mãi hết rồi.


Tuy nhiên, ông lại rùng mình một lần nữa: cánh cửa buồng con gái ông ở phòng bên có tiếng mở nhẹ nhàng và vụng trộm. “Thế là nó lại bắt đầu!”. Và ông cảm thấy trái tim ông mà ông tưởng là đã chết lại nhói lên một cái đau nhức nhối. Ở đó, trong một giây, có cái gì rung lên như một sợi thần kinh trước khi hoàn toàn tê liệt. Cảm giác đó cũng qua đi ngay tức khắc.


- Thôi mặc nó muốn làm gì thì làm. Có bận gì đến ta nữa đâu?


Và ông lão lại ngã vật xuống gối. Bóng đêm nhè nhẹ ve vuốt hai bên thái dương nhức nhối của ông và có cái gì xanh mát tràn vào máu ông đem lại sự bình yên. Rồi giấc ngủ nhẹ nhàng đưa mọi giác quan đã mòn mỏi của ông chìm trong đêm tối.


*


*           *


Sáng hôm sau lúc thức dậy, bà vợ đã thấy ông mũ áo chỉnh tề.


- Ông làm gì vậy? - bà hỏi, giọng còn đang ngái ngủ.


Ông không quay lại và thản nhiên tiếp tục xếp quần áo ngủ vào vali.


- Bà biết rồi, tôi thu xếp đi về. Tôi chỉ mang theo những thứ cần thiết, còn lại thứ gì bà gửi sau về cho tôi.


Vợ ông phát hoảng. Thế là thế nào? Chưa bao giờ bà nghe thấy ông nói với cái giọng như vậy: mỗi lời ông nói ra đều giá băng và rít lên giữa hai hàm răng. Bà đứng vội lên và nói:


- Ông chưa đi chứ? Hãy khoan, đợi mẹ con tôi cùng đi. Tôi đã bảo con Ecna rồi.


Nhưng ông lắc đầu quầy quậy:


- Không... không... khỏi phiền bà.


Và không ngoái lại, ông lần từng bước ra phía cửa. Muốn xoay núm cửa, ông phải đặt vali xuống sàn nhà một lúc. Trong giây lát rung động ấy, ông nhớ lại có đến hàng ngàn lần, ông đã phải đặt vali hàng mẫu xuống như thế này ở cửa nhà người ta trước khi đi ra, vồn vã cúi gập người chào khách hàng, khúm núm đề nghị lần sau khách cần gì xin cứ vời đến mình. Nhưng ở đây, không có gì phải cầu xin và cũng không cần phải chào ai cả. Không nhìn lại, không nói một lời, ông nhắc cái túi du lịch lên, kéo cánh cửa như kéo tấm rào ngăn cách giữa ông và quãng đời quá khứ của mình.


*


*           *


Bà mẹ và cô con gái không hiểu hết sự tình, nhưng việc ông lão bỏ đi đột ngột, lạ kỳ như vậy, làm cả hai mẹ con lo ngại. Liền sau đó, họ viết cho ông những bức thư thanh minh dài dòng, cho rằng có sự hiểu lầm, lời lẽ trong thư khá là âu yếm; họ ân cần hỏi han ông đi ra sao, về đến nhà thế nào, và đột nhiên họ ngỏ ý sẵn sàng trở về bất cứ lúc nào. Ông không trả lời. Họ lại viết tha thiết hơn, họ đánh điện cho ông: vẫn tuyệt nhiên không có hồi âm. Họ chỉ được phòng giấy của ông gửi đến cho số tiền mà họ hỏi xin trong một bức thư: đó là một ngân phiếu đóng dấu của hãng buôn, không một lời giải thích, không một câu thăm hỏi nào kèm theo.


Tình thế khó hiểu và nhục nhã như vậy khiến cả hai nhanh chóng trở về. Mặc dầu họ đã đánh điện báo tin ngày về, nhưng chẳng ai ra ga đón họ, ngay cả tại nhà cũng chẳng chuẩn bị gì để đón họ cả. Theo gia nhân kể lại, ông lão lơ đãng để bức điện trên bàn và bỏ đi không lời dặn lại.


Buổi tối, hai mẹ con đã ngồi vào bàn ăn thì có tiếng cửa mở. Cả hai nhảy bổ đến trước mặt ông. Ông ngạc nhiên nhìn họ, rõ ràng là ông đã quên khuấy bức điện, nhưng vẻ mặt ông không biểu lộ chút tình cảm đặc biệt nào. Ông dửng dưng để con gái hôn và đưa ông sang phòng ăn, tại đấy, ông mặc cho họ nói, không hỏi lại câu nào. Ông yên lặng hút thuốc, đôi khi trả lời nhát gừng, nhưng thường không để ý đến câu hỏi của họ, cũng không để tâm đến lời họ nói: có thể cho rằng ông ngủ trong khi mắt vẫn mở. Rồi ông ì ạch đứng dậy, đi về buồng riêng. Những ngày sau đó, cũng vẫn như vậy.


Bà vợ lo ngại tìm cách bắt chuyện với ông, nhưng vô ích, bà càng gợi chuyện thì ông càng lảng tránh. Có cái gì trong ông đã khép kín lại rồi, không có cách nào mở được. Nẻo đường dẫn vào tâm hồn ông đã bị chặn lấp. Ông vẫn tiếp tục ăn uống với vợ con. Khi có khách đến chơi, ông vẫn ngồi đó một lát, đắm chìm trong suy tưởng. Ông không quan tâm gì hết và giữa câu chuyện, bất chợt có người nhìn vào mắt ông, họ cảm thấy bứt rứt khi bắt gặp cái nhìn đờ đẫn như mắt người chết của ông lướt qua họ mà có vẻ không nhận ra ai.


Ngay cả những người xa lạ nhất cũng nhận thấy ông lão mỗi ngày một thêm kỳ quặc. Những người quen biết ông khi gặp ông ngoài đường phố đã bắt đầu kín đáo huých tay nhau: ông già, một trong những người giàu nhất thành phố, đi dọc theo bờ tường như thằng ăn mày, mũ nhàu nát, đội lệch, áo khoác đầy tàn thuốc lá lần từng bước loạng choạng đến lạ kỳ và thường thì lẩm bẩm một mình. Có ai chào, ông ngước nhìn hoảng hốt, có ai hỏi, ông nhìn trừng vào mắt họ như không hiểu người ta nói gì với mình và ông quên giơ tay ra bắt. Lúc đầu có người cho rằng ông lão bị điếc và họ gào to, nhắc lại lời họ vừa nói. Nhưng không phải ông điếc, bao giờ ông cũng mất một lúc để ra khỏi giấc ngủ nội tâm mà ông đang triền miên trong đó, và nhiều khi ngay cả lúc đang nói chuyện, ông lại rơi vào trạng thái ngây dại đặc biệt. Lúc đó, đột nhiên ánh mắt ông tắt lịm, ông vội vàng cắt đứt câu chuyện và lảo đảo bỏ đi không để ý đến sự chưng hửng của người đối thoại với mình. Lúc nào ông cũng như vừa thoát khỏi giấc mơ mịt mù hoặc vừa dứt ra khỏi nỗi bận tâm u ám của riêng mình. Người ta thấy đối với ông, mọi người xung quanh không còn tồn tại nữa. Ông không hỏi thăm tin tức của ai hết. Ngay trong nhà ông, ông không để tâm đến sự thất vọng rầu rĩ của bà vợ, cũng không quan tâm đến những câu hỏi băn khoăn của cô con gái. Ông không hề đọc bất cứ tờ báo nào, không để tai nghe bất kỳ câu chuyện nào. Không một lời nói, không một câu hỏi nào có thể phá tan tấm màn rầu rĩ của sự thờ ơ bao phủ quanh ông, dù chỉ trong chốc lát. Ngay cả cái giới xã hội mà ông quan tâm nhất - giới thương mại - đối với ông cũng trở nên xa lạ. Đôi khi ông còn đến ngồi bàn giấy lãnh đạm ký giấy tờ. Nhưng một giờ sau, khi người thư ký vào nhận lại giấy tờ giao dịch, anh ta vẫn thấy ông lão ngồi đúng tư thế như lúc anh đi ra, đang mơ màng, với cái nhìn trống rỗng bên trên đống giấy mà ông không buồn đọc. Cuối cùng, ông tự thấy mình là người hoàn toàn vô ích và ông không tới làm việc nữa.


Nhưng điều lạ lùng nhất, làm cả thành phố ngạc nhiên: ông lão chưa bao giờ là tín đồ ngoan đạo của giáo khu, bỗng trở nên con người sùng tín. Trong khi ông tỏ ra thờ ơ với mọi sự đời và luôn luôn sai giờ ăn, trễ giờ hẹn, thì ông lại không hề vắng mặt buổi nào ở nhà thờ vào giờ nhất định. Ở đó, đội mũ lụa đen, khoác trên vai áo choàng cầu nguyện, bao giờ ông cũng ngồi ở một chỗ nhất định, đúng chiếc ghế, vừa lắc lư, vừa tụng Thánh kinh. Tại đây, ở cái nơi nửa hoang vắng này, nơi mà những lời cầu nguyện vang lên dị thường và u buồn quanh ông. Ông cảm thấy dễ chịu hơn cả một mình với chính mình và những lúc đó sự bằng an tỏa xuống tâm trí rối loạn của ông, hòa hợp tốt lành với bóng tối trong lồng ngực của chính ông. Nhưng nếu người ta đọc kinh cầu hồn cho người chết, và khi ông trông thấy cha mẹ, con cái, bạn bè thân thích của người quá cố xúc động vì trách nhiệm mình đã làm tròn với người đã khuất, và họ nghiêng mình làm lễ cầu xin Thượng đế khoan dung cho người xấu số, mắt ông thường tối sầm lại: ông tự biết ông là người cuối cùng. Sẽ không có ai cầu nguyện cho ông một lời. Và thế là ông thầm thì cầu kinh một cách sùng kính cùng mọi người, nhưng vừa làm ông vừa nghĩ đến bản thân như nghĩ đến người đã chết.


Có lần, đã khuya, ông vừa đi lang thang đâu về, trời bắt đầu mưa. Như mọi ngày, ông quên không mang ô. Chỉ cần ít tiền là ông có thể thuê xe về, hoặc chỉ cần đứng trú chân dưới một cánh cổng hay một mái che nào đó, chờ cơn mưa rào tạnh hẳn, nhưng ông lão kỳ quặc này vẫn thản nhiên tiếp tục chân nam đá chân chiêu bước đi dưới trời mưa. Trên chiếc mũ dúm dó đọng lại một vũng nước chảy xuống, còn từ cánh tay áo ướt đẫm, nước xối xuống chân như suối. Ông không để ý, cứ tiếp tục lật bật bước đi một mình trên đường phố vắng tanh. Toàn thân ông ướt sũng, nước chảy ròng ròng, giống như một tên du đãng hơn là chủ nhân một biệt thự đồ sộ, nơi ông sắp trở về. Vừa đến cổng nhà thì đúng lúc một chiếc ô tô rọi chùm ánh sáng đèn pha ra phía trước, dừng lại ngay cạnh ông và lùi lại, làm bắn tóe nước bùn vào người khách bộ hành lơ đễnh.


Cửa xe bật mở và từ trong xe có điện sáng, bà vợ ông nhanh nhẹn bước xuống, theo sau là ông khách sang trọng cầm dù che cho bà, rồi đến một ông nữa. Họ chạm trán nhau đứng trước cửa nhà. Bà vợ nhận ra ông và hoảng sợ khi thấy quần áo ông sũng nước, trông không còn ra hình thù gì nữa, giống như một gói đồ vừa vớt dưới sông lên. Bất giác bà quay đi. Ông lão hiểu ngay: bà ta xấu hổ vì ông trước mặt bọn khách. Và không xúc động, không một chút đắng cay, lại muốn tránh cho bà khỏi phải giới thiệu ông với khách, ông dấn thêm mấy bước như một người lạ, đi lối cửa phụ([1]) và lặng lẽ vào nhà.


Từ hôm ấy ngay trong nhà mình, ông lão chỉ đi lại bằng cửa phụ: ở đấy, ông chắc chắn là không gặp ai; ở đấy ông không làm phiền ai, mà cũng không ai làm phiền ông cả. Ông cũng thôi không ăn ở bàn ăn chung nữa. Đến bữa, một bà giúp việc mang đồ ăn đến buồng riêng cho ông. Một vài lần, khi bà vợ hoặc cô con gái thử lân la vào gần ông, ông cằn nhằn, đẩy họ ra bằng những cử chỉ lúng túng nhưng kiên quyết. Cuối cùng, họ để mặc ông một mình. Họ mất cả thói quen chăm sóc ông, ông cũng không bận tâm gì đến mọi việc xảy ra trong nhà nữa. Thường thường qua cái vách ngăn, tiếng ồn của những chuỗi cười và đàn địch từ các căn buồng vẫn lọt đến tai ông, nhưng bây giờ đã trở nên xa lạ đối với ông. Ông nghe thấy ở bên ngoài tiếng xe tiến đến trước cửa, rồi lại ầm ĩ kéo đi, cứ như thế cho đến tận một giờ sáng. Nhưng ông dửng dưng với tất cả mọi chuyện, chẳng buồn ngó qua cửa sổ bao giờ. Điều đó có quan hệ gì đến ông nữa! Chỉ có con chó đôi khi còn đến gần ông và nằm ngay trước giường của con người bị bỏ quên.


*


*           *


Trái tim đã chết của ông không còn cảm thấy gì đau đớn nữa. Nhưng trong cơ thể ông, con chuột chũi đen thui vẫn tiếp tục đào bới và cắn xé hung dữ làn da thịt còn máy động của ông. Những cơn đau cứ nhiều thêm từ tuần này sang tuần khác. Cuối cùng cực hình trở nên quá lớn đến nỗi ông phải nghe lời năn nỉ của thầy thuốc mời một bác sĩ chuyên khoa thăm bệnh cho ông. Sau khi thăm bệnh, vị giáo sư giữ vẻ mặt nghiêm trọng. Với thái độ dè dặt khôn khéo, giáo sư tuyên bố cần phải giải phẫu. Nhưng ông lão không hề hoảng sợ. Ông chỉ buồn bã mỉm cười: ơn trời, đã đến lúc sắp sửa kết thúc, kết thúc cơn hấp hối. Bây giờ, giải pháp tốt nhất đã đến: cái chết. Ông yêu cầu thầy thuốc không nói gì cho gia đình ông biết. Ông hỏi ngày giờ và sửa soạn sẵn sàng.


Một lần cuối cùng, ông đến phòng giấy (ở đây không ai đợi chờ ông nữa và mọi người đã coi ông như một người xa lạ). Ông ngồi một lần nữa vào chiếc ghế bành cao, cũ kỹ, bọc da đen, mà trong ba mươi năm qua ông đã ngồi hàng nghìn, hàng nghìn giờ, ông bảo lấy quyển ngân phiếu và viết vào một trang. Ông mang tờ ngân phiếu đến ông thị trưởng làm ông ta phát hoảng vì tổng số tiền quá lớn. Số tiền này dành cho công việc từ thiện và cho việc xây mộ ông. Để tránh mọi lời cảm ơn, ông vội vã cáo lui, bước loạng choạng đến nỗi đánh rơi cả mũ, nhưng ông cũng chẳng buồn cúi xuống nhặt nữa. Và đầu để trần, mắt nhìn buồn bã, khuôn mặt nhăn nhúm và vàng vọt vì bệnh tật, ông lật đật (mọi người ngạc nhiên nhìn ông) đi đến nghĩa trang, nơi có mộ cha mẹ ông. Tại đây, một vài kẻ ăn không ngồi rồi lại ngạc nhiên lần nữa: ông thầm thì thật lâu với những phiến đá trên mộ đã bị xói mòn như nói chuyện với người đang sống. Không biết ông báo tin cho song thân ông biết ông sắp đi theo họ, hay là ông cầu xin các người phù hộ cho ông... Không ai nghe rõ ông nói gì: chỉ thấy trong lúc ông cầu nguyện, cặp môi mấp máy không thành tiếng, và đầu ông đung đưa, cúi gằm mãi xuống. Khi đi ra, những người ăn xin vốn biết rõ ông, chạy vội đến xúm xít quanh ông. Ông vội vàng móc túi lấy ra những đồng tiền và những tờ giấy bạc cho họ. Vừa lúc ông đã phân phát hết tiền thì một bà già mặt mũi nhăn nheo cũng đến xin ông. Bà ta đến chậm vì chân đi khập khiễng. Bối rối, ông lục hết các túi mà không còn gì. Nhưng ở ngón tay ông còn cảm thấy vướng víu một vật lạ, nằng nặng: chiếc nhẫn cưới của ông. Một kỷ niệm thoáng qua. Ông vội vàng tháo nhẫn và đưa cho người đàn bà làm bà ta sững sờ.


Thế là, không còn lại chút gì trong bản thân mình, hoàn toàn trắng tay và trơ trọi một mình, ông lão bước lên bàn mổ.


*


*           *


Khi ông lão tỉnh lại lần cuối, thoát khỏi tình trạng gây mê, các thầy thuốc thấy tình hình nghiêm trọng, cho gọi vợ con ông đến. Lúc ấy, vợ và con gái ông cũng đã biết tin. Con mắt ông khó nhọc lắm mới nhấc nổi cặp mi viền quầng xanh.


- Tôi ở đâu thế này? - hình như ông nói vậy, mắt đăm đăm nhìn thẳng vào màu trắng xa lạ của căn phòng mà ông chưa thấy bao giờ.


Lúc ấy con gái ông cúi xuống toan đưa tay vuốt ve khuôn mặt tàn tạ đáng thương của ông thì bỗng nhiên đồng tử lờ đờ như mắt người mù động đậy, dường như nó nhận ra con người đứng đó. Có ánh sáng, một chút ánh sáng hé lên trong con ngươi. Đúng là nó đấy, con gái ông, đứa con yêu quý vô vàn, đúng là nó đấy. Ecna, đứa con gái dịu dàng và xinh đẹp. Từ từ, rất từ từ, cặp môi cay đắng của ông hé ra: một nụ cười, một nụ cười rất nhỏ nhẹ rụt rè thoáng hiện trên cái miệng mím chặt của ông đã mất thói quen cười từ lâu. Và thực sự xúc động trước nỗi vui mừng cực nhọc đó, Ecna cúi nữa xuống để hôn cặp má nhợt nhạt của cha.


Nhưng bỗng nhiên - không biết vì múi thơm nhàn nhạt của nước hoa làm ông nhớ lại, hay là bộ óc đã gần tê liệt làm ông nhớ lại cái giờ phút phũ phàng mà ông đã lãng quên - nét mặt ông một lát trước đó còn rạng lên niềm hạnh phúc, đột nhiên biến đổi một cách đáng sợ. Đôi môi nhợt nhạt co dúm lại đầy hận thù dữ dội trong khi bàn tay ở dưới chăn đang cố gắng nhấc mạnh lên như để xua đuổi một vật gì ghê tởm và toàn thân bị thương tổn của ông run lên vì giận dữ:


- Lùi ra... lùi ra... - cặp môi nhợt nhạt của ông lão lắp bắp những âm thanh rời rạc nhưng rõ ràng.


Và nỗi ghê tởm biểu lộ dữ dằn trên nét mặt co giật của ông lão mà ông không kìm giữ được nữa đến nỗi thầy thuốc lo ngại phải gạt hai người đàn bà ra.


- Ông già mê sảng rồi - thầy thuốc nói nhỏ nhẹ - và bây giờ tốt hơn hết các bà để ông ấy nằm một mình!


Hai người đàn bà vừa ra khỏi thì nét mặt co dúm của ông bỗng giãn ra, bất động trong trạng thái đờ đẫn vô hồn. Vẫn còn tiếng thở, tiếng thở khò khè, mỗi lúc một sâu hơn hắt ra từ lồng ngực, đang tìm cách hút lấy cái không khí nặng nề của sự sống. Nhưng chẳng bao lâu tiếng thở ấy cũng chán cả việc hút lấy cái thức ăn cay đắng của loài người.


Và khi người thầy thuốc thận trọng đặt tay lên thi thể ông, trái tim tan nát của ông đã ngừng đập, giải thoát cho ông lão khỏi đau khổ.


 


S.Z


Nguồn: Bức thư của người đàn bà không quen. Tập truyện của Stefan Zweig. Dương Tường dịch. Rút từ Hợp tuyển Văn học Đức, tập 3. Chủ biên: Lương Văn Hồng & Triệu Xuân. NXB Văn học sắp xuất bản.







([1]) Cửa ra vào của người giúp việc. ND.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
Cô gái làm ren Nachia/ Pautopsky ở Trà My - Konstantin Georgiyevich Paustovsky 01.06.2019
Kẻ ở nhờ - Phạm Thanh Khương 01.06.2019
Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều 16.05.2019
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
xem thêm »