tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27827689
Tiểu thuyết
04.10.2008
Triệu Xuân
Nổi chìm trong dòng xoáy
Chương 2

CHƯƠNG HAI


Phùng Bắc bị bắt trong một chiều mưa khi hắn đang tận hưởng lạc thú với cô gái bằng tuổi con gái đầu của hắn. Bố cô ta là trung úy dù đã chết trận năm 1972 ở Quảng Trị. Mẹ cô bốn mươi tuổi mà vẫn phây phây, vừa chắp nối với một người giàu có, đã già, để được xuất cảnh. Cô ở lại một mình, và trong thời gian chờ đợi để được bảo lãnh ra đi theo mẹ. Diễm Trinh đã đưa cô đến với Bắc. Bắc bỏ ra hai cây vàng cho con mồi mới. Đều đặn mỗi tuần một lần, hắn tới ân ái với cô.


Việc Phùng Bắc bị bắt, lúc đầu còn được ít người biết tới. Đến khi, cùng với hắn, số kẻ phạm tội bị bắt lên tới hơn một trăm thì sự việc gây chấn động dư luận.


Biết đây là vụ án lớn, tòa soạn cử Dũng đi tìm hiểu để viết điều tra. Nhưng đến đâu, nhà báo cũng bị từ chối. Vốn là một phóng viên có đức tính kiên nhẫn, anh không bỏ cuộc. Anh đến gõ cửa nhà riêng của Tám Đông, người phụ trách bảo vệ cảng Một. Đây là khu vực cảng sông lớn nhất thành phố.


Dũng bấm chuông liên tục, lúc đầu còn bấm một hồi, sau bấm ba bốn hồi dài. Trong nhà vẫn vắng lặng. Đột ngột, con chó bẹcgiê nhảy xổ ra. Nếu không có cánh cổng sắt vô cùng kiên cố thì có lẽ nó xơi tái nhà báo rồi. Nhìn con chó sủa một lúc, Dũng đành quay về. Về đến nhà, Dũng ngồi bên máy điện thoại nửa giờ liền mới biết tin: Đông vừa bị bắt đêm qua! Thêm một kẻ có quyền nữa sa lưới. Dũng thấy lạnh người. Ai ngờ con người có bộ mặt liêm chính là thế, lại là kẻ tòng phạm với Phùng Bắc. Dũng có làm việc với Đông vài lần. Khi tiếp xúc, y tỏ ra rất đạo đức, trong bài trả lời phỏng vấn mà y nhờ thư ký thảo sẵn theo ý của y, những từ được lặp lại nhiều nhất là “quan điểm cách mạng”, “trung thành tuyệt đối với Tổ quốc”, “kiên quyết chống và xóa bỏ tiêu cực v.v…”. Đúng là giả dối cực kỳ!


Ở phòng cảnh sát kinh tế, nhà báo Dũng được nghe một cách chi tiết và toàn diện vụ án. Người cung cấp tư liệu cho anh, một thiếu tá còn trẻ, vốn là bạn của Dũng, hỏi:


- Nghe lại đầu đuôi sự kiện, nhà báo thấy sao? Tính viết theo thể loại nào?


- Tôi thấy thất vọng anh ạ. - Dũng thành thật - Đúng ra, sau khi tường tận sự việc, tôi sẽ phanh phui vụ này ra trước dư luận. Nhưng có lẽ chuyện đó chưa cần thiết. Kể lại những thủ đoạn và tội trạng của một bọn đã bị tống giam là chuyện cần lắm, nhưng chưa phải là vấn đề bức xúc lúc này. Điều tôi quan tâm hiện nay là: sau vụ đó, cuộc sống của những người còn lại ở xí nghiệp Đại Dương rồi sẽ ra sao, đi tới đâu? Và làm cách nào để đổi thay được hiện trạng của xí nghiệp Đại Dương?


- Nhưng… sao anh không viết theo kiểu kể chuyện vụ án. Loại sách này hiện ăn khách lắm mà!


- Anh yên tâm, thế nào cũng có người viết theo kiểu đó! Nhưng tôi thì không. Có lẽ vì thế mà đã ngoài bốn mươi tuổi rồi, hai chục năm làm nghề viết văn, viết báo rồi, tôi vẫn nghèo… Dũng cười thật tươi. Nụ cười làm gương mặt có nhiều nếp nhăn, má hóp lại, sáng bừng lên. Họ chia tay nhau.


*


*   *


- Đêm hôm qua, bọn nó lại gọi điện tới dọa giết tôi.


- Vẫn giọng con gái như lần đầu? - Dũng hỏi.


- Không. Lần này là một phụ nữ đã lớn tuổi. Giọng trầm.


- Nó nói sao?


- Chúng nó yêu cầu tôi bãi bỏ ngay những biện pháp mà tôi đã tiến hành.


- Anh cho rằng một trong những kẻ bị anh sa thải hoặc cách chức đang đe dọa trả thù?


- Tôi không thể kết luận ngay bây giờ. Có điều rõ ràng là: Có một nhóm đang muốn Đại Dương mãi mãi là Đại Dương của thời Phùng Bắc - Đại Dương tiêu cực.


- Anh có báo cho công an…


- Chưa. Tôi thấy chưa cần thiết. Tôi tin rằng đa số anh em công nhân trong xí nghiệp rồi sẽ ủng hộ tôi.


- Dựa trên cơ sở nào?


- Tôi hiểu họ. Họ là những con người bình dị. Họ mong được yên ổn làm ăn, được sống no đủ bằng chính sức lao động của mình.


- Vậy tại sao những năm qua…


- Tôi không muốn phán xét họ mà để họ tự phán xét. Không thể nhân danh giám đốc mà phán xét người khác. Nếu thật sự anh là một giám đốc xí nghiệp của đất nước theo Xã hội Chủ nghĩa thì trước hết anh phải biết thương người, thương công nhân của mình. Quyền lực chỉ có sức mạnh khi bắt nguồn từ nhân ái. Tôi nghĩ, tôi sẽ chẳng làm nên cơm cháo gì nếu tôi không có biện pháp nào đấy, chăm lo cho một ngàn con người ở đây. Tôi muốn nói: biện pháp trước nhất là chăm lo cho con người, tin yêu vào con người…


Trưởng phòng tài vụ Bùi Văn Thông bước vào. Thấy giám đốc đang tiếp khách, Thông tính quay ra thì Thắng gọi:


- Vào đây anh Thông. Đồng chí Dũng, nhà báo - Thắng giới thiệu.


Thông hơi cúi đầu chào rồi bắt tay Dũng. Thắng tiếp:


- Anh cứ tự nhiên trình bày phương thức hạch toán kinh tế mới. Có thể coi nhà báo như người nhà.


Dũng hào hứng ra mặt. Anh lắng nghe Thông nói và quan sát viên kế toán trưởng. Một người chắc ngoài năm mươi rồi. Mặt vuông, cằm bạnh, râu cạo nhẵn. Đôi mắt mang kiếng lão nhưng phải nhận là rất tinh nhạy. Mỗi khi nhìn Thắng hay nhìn Dũng, đôi mắt ấy lại lóe lên những tia sáng của sự thông minh và khôn ngoan:


- Báo cáo thật với đồng chí giám đốc. - Thông bày tỏ sự tôn trọng thành thật đối với người giám đốc nhỏ tuổi hơn mình - Tôi đã chấp hành ý kiến của đồng chí và coi đó là mệnh lệnh. Tôi đã tính toán mọi thứ theo đúng tinh thần của sự đổi mới cơ chế quản lý. Mặc dù Bộ chưa có văn bản hướng dẫn thực hiện cụ thể, mặc dù hàng loạt vật tư nhập ngoại chưa biết tính giá theo tỷ giá như thế nào. Thí dụ: một tấn xăng nhập khẩu mất 350 đôla. Phải tính theo tỷ giá nào? Một đôla ăn 100 đồng, 200 đồng hay như giá chợ đen 750 đồng Việt Nam? Tôi vẫn làm vì chờ thì có đến Tết. Và đây - Thông đưa cho Thắng một bản đánh máy bằng giấy trắng, sạch sẽ, khá dày - Đây chính là “công trình” của tôi. Thú thật với đồng chí giám đốc và đồng chí nhà báo, tôi được đào tạo nghề kế toán từ năm 1957, đến nay được đúng hai mươi tám năm. Nhưng đến hôm nay, khi tôi sắp về hưu rồi, tôi mới tìm lại được hứng thú mê say nghề nghiệp.


Uống một ngụm nước trà, Thông tiếp: làm nghề tính toán lời lỗ, thu chi cho Nhà nước, tôi thực sự đau lòng khi thấy hàng chục năm qua, tôi luôn luôn phải sống với những con số là biểu hiện của sự lừa dối. Mỗi năm, tôi được giám đốc vời đến hai lần, và chỉ có hai lần đó, tôi mới cảm thấy giám đốc cần đến mình. Một lần sơ kết sáu tháng đầu năm và lần sau là báo cáo quyết toán cả năm. Tôi là người có duyên nợ với nghề kế toán. Vậy mà chưa khi nào tôi được thỏa sức hành nghề. Mọi thứ trói tay, phong tỏa đầu óc tôi. Tôi không hơn gì cái máy. Người ta bảo tôi thực hiện đúng nguyên tắc, chế độ, chính sách. Tôi nhắm mắt làm như một người máy thực thụ. Giám đốc bảo tôi “hóa phép” cho chứng từ này, chứng từ kia trở thành hợp lệ, tôi làm. Giám đốc bảo tôi biến lời thành lỗ, và biến lỗ thành lời, tôi làm tuốt. Phục tùng! Phục tùng để yên thân! Báo cáo thật với các anh, nhưng mà nhục lắm. Những năm còn ở ngoài Bắc, tôi không hề phải thuyên chuyển đi cơ quan nào. Tôi đến một xí nghiệp khi ra trường và tôi chỉ rời khỏi xí nghiệp ấy khi Đại Dương được thành lập, cấp trên điều tôi vào Sài Gòn. Giám đốc thay nhiều đời nhưng kế toán trưởng vẫn là tôi. Tôi làm mọi cách để được lòng tất cả các đời giám đốc. Tuy thế, mấy năm sau này, giữa tôi và Phùng Bắc không có sự hòa thuận. Lương tâm nghề nghiệp, lương tâm một con người không cho phép tôi nhắm mắt làm theo bất cứ điều gì mà Bắc sai khiến. Nhờ giời tôi vẫn là tôi! Phải chăng, vì thế mà đồng chí vẫn tin dùng tôi. Đúng vậy không đồng chí Thắng?


Quay sang Dũng, Thông tiếp: Xin lỗi nhà báo nhé. Tôi đã trót mở miệng rồi, hãy để tôi dốc hết bầu tâm sự. Bấy lâu nay ngậm bồ hòn hoài, nay tôi mới được nói, nói cho lòng thanh thản. Không có sự thanh thản trong lòng, người ta sẽ mau già, mau chết lắm. Không có sự thanh thản trong lòng, dù có sống trên đống vàng, cũng vẫn khổ như thường. Tôi đã khổ như thế bốn năm nay…


Báo cáo thật với đồng chí. Tôi bắt đầu nhận của lót tay từ năm 1980. Khi đó tôi cực quá. Năm mươi tuổi đầu, tóc bạc gần hết rồi, có cháu nội, cháu ngoại rồi mà căn nhà riêng không có. Vợ tôi là một phụ nữ tuyệt vời. Đúng vậy. Mấy chục năm ở với nhau, tôi chưa hề nghe vợ than một tiếng “nghèo”. Phải nói rằng tôi sống trong sạch được là nhờ vợ tôi. Vợ tôi là người rửa sạch cho tôi bao phiền muộn, là người làm cho gia đình tôi êm ấm, hạnh phúc mặc dù quá nghèo. Bao nhiêu bận, tụi nó lót tay cho tôi, khi thì tiền, khi thì vàng, khi thì xe Honda, cả ti vi màu nữa. Nhờ vợ mà tôi từ chối được hết. Suốt từ năm 1976, khi thành lập Đại Dương, tôi từ Bắc vào làm kế toán trưởng đến năm 1980, tôi không bị cuốn theo dòng nước đục. Đến năm 1980, tôi phải lo cho thằng con trai độc nhất vào đại học, phải lo cho đứa con gái út lấy chồng. Cả hai việc ấy đều cần tiền, cần rất nhiều tiền. Mà tiền thì vợ chồng tôi không có. Có bốn đứa con. Hai trai, hai gái. Đứa trai đầu học hết lớp bảy, đi bộ đội, bị thương, thương binh hạng sáu, chuyển ngành; hai vợ chồng nó, năm đứa con mà sống toàn bằng đồng lương giáo viên của vợ và trợ cấp thương tật. Vợ chồng nó vẫn ở chung với tôi. Đứa con gái thứ hai cũng hết lớp bảy([1]) thì đi thanh niên xung phong. Những năm Sáu bảy, Sáu tám, tuổi trẻ tụi nó anh hùng thật! Trai gái đều bỏ học tình nguyện ra mặt trận. Hồi đó tôi tự hào bao nhiêu thì vào năm 1980 tôi buồn và lo bấy nhiêu. Nó đi thanh niên xung phong được năm năm rồi cũng bị thương, về làm công nhân đường sắt. Chồng nó cũng cùng cơ quan. Hai vợ chồng làm nghề theo tàu trên tuyến đường Bắc - Nam, lẽ ra phải kiếm tiền như nước mới phải. Nhưng khổ nỗi, nó lại giống bố, thành ra nghèo. Nghèo đến thảm hại. Đẻ bốn đứa con, toàn gửi ông bà ngoại chăm nom. Nó biết, chỉ cần buôn một chuyến hay lờ đi cho con buôn một chuyến là nó giàu liền. Nhưng, nhờ giời, vợ chồng nó không làm thế! Vào năm 1980 khi mà vợ chồng tôi tiến đến sự thử thách cao nhất: đời sống quá thiếu thốn trong khi xung quanh khu cư xá xí nghiệp, người ta sống phè phỡn, khi mà cần có tiền ngay để lo cho con trai vào đại học và tổ chức cho con gái út lấy chồng thì tôi, một mình tôi thôi, đã bị dòng nước lũ cuốn mất. Việc tôi nhúng tay vào tội lỗi lại diễn ra thật ngọt ngào! Giám đốc Bắc quyết định cấp cho tôi căn nhà riêng bấy lâu nay làm trạm xá của xí nghiệp. Căn nhà này trước kia chủ tư sản Soái Kình dùng làm nơi tiếp “khách riêng”, tức là các cô gái đẹp. Khi tiếp quản, xí nghiệp dùng biệt thự đó làm bệnh xá. Nó ở xa xí nghiệp, nên Bắc lấy đó làm lý do để dọn bệnh xá về ngay khu vực văn phòng xí nghiệp này. Không biết tại sao Bắc lại chọn đúng thời điểm ấy để cấp nhà cho tôi? Mãi sau này tôi mới rõ. Tôi nhận nhà mới được một ngày. Báo cáo thật, tôi mừng lắm. Cả nhà tôi như đám hội, cái vui đó còn đang tràn trề thì Bắc, đến thăm gia đình tôi. Cậu lái xe của Bắc lễ mễ khuân từ trên xe xuống: hai chai rượu Tây, hai két bia, một két nước ngọt, một con heo quay, và nhiều thứ lắm. Bắc nói: xí nghiệp lo nhà cho tôi còn được, một bữa ăn mừng tân gia có nghĩa gì! Trong bữa tiệc vào lúc tôi say sưa, cao hứng nhất, Bắc đã lồng vào tay tôi một chiếc khâu hai chỉ vàng và đút cho tôi ba chục ngàn đồng. Bắc nói nhỏ với tôi, không để vợ con tôi biết: “Đây là quà của anh em bạn bè trong xí nghiệp giúp anh để anh lo những việc lớn của gia đình. Cả đời đi làm cách mạng, anh phải được đãi ngộ xứng đáng chứ. Không lẽ có bốn đứa con, anh không lo cho một đứa nào vào đại học sao? Có hai chỉ vàng này là êm hết. Đám cưới của cháu gái út. Anh phải làm cho ra trò. Thiếu gì, cứ nói tôi…”.


- Báo cáo thật với đồng chí! Ngay lúc ấy, tôi đã biết mình bị mua rồi. Tôi đâu còn ngây thơ nữa. Nhưng tôi tặc lưỡi “lỡ rồi, làm một lần này thôi!”. Ngay hôm sau, tôi phải trả giá liền. Tôi phải ký vào chứng từ mua hai chiếc tàu của tư nhân với giá gấp đôi giá trị thật sự của nó, rồi một tuần sau nữa, tôi lại phải ký vào hai chứng từ sửa chữa hai chiếc tàu kéo khác. Tôi thừa biết là tiền sửa chữa hai chiếc tàu ấy chỉ tốn năm chục ngàn, thế mà tôi phải ký phiếu chi một trăm năm chục ngàn. Tôi tính phản đối, nhưng không kịp nữa rồi. Người chủ cơ sở sửa chữa tàu đã dúi cho tôi năm chỉ vàng. Nửa cây lúc đó khoảng mười ngàn đồng, vậy số tiền một trăm ngàn dôi ra ấy, Bắc được chia bao nhiêu? Thế rồi tiếp theo những ngày tôi bị lương tâm phán xét. Tôi tự xỉ vả tôi. Vợ tôi gằn hắt tôi. Con gái tôi nặng lời với tôi. Trước, tôi ăn rau, ở nhà tập thể mà gia đình êm ấm. Nay tôi ăn uống ngon lành, ở nhà riêng, có tủ lạnh, ti vi, mà sao không đêm nào ngủ ngon được. Mỗi chuyến tàu đi về, có kẻ lại dúi cho tôi vài ngàn đồng: “Biếu chú Ba hút thuốc”. Mãi đến năm 1982, khi đến thăm đồng chí. (Thông nhìn thẳng vào mặt Thắng), phải mãi đến ngày đó, tôi mới có đủ can đảm dừng lại. Không để trượt dốc hoài nữa. Tôi quyết định, tôi sẽ không nhận bất cứ thứ gì nữa. Nhưng tôi chỉ can đảm nửa vời. Trước năm 1980 tôi đã liêm khiết nửa vời, trong sạch nửa vời. Nay tính ra, tôi dừng lại, nhưng cũng chỉ là sự can đảm nửa vời! Không nhận của đút, tôi vẫn chưa đủ can đảm để lật tẩy Bắc. Tôi mũ ni che tai, giả đui giả điếc, cốt để yên bề mình… Ngẫm lại, lỗi ở tôi một phần, nhưng quả thực cái không khí lúc đó, cơ chế quản lý hồi đó nó làm con người hèn hạ, nó khiến cho mình ù lì, ỷ lại và chẳng muốn làm chi cả.


Tự đáy lòng mình, tôi không bao giờ tha thứ cho mình. Tôi đã tự làm bản kiểm thảo với Đảng. Tôi viết kín mười trang giấy, viết rồi đọc cho vợ tôi nghe và cất vào tủ, nghĩ thế nào cũng có dịp trình bày với Đảng (Thông mở cặp lấy ra tập giấy viết tay đưa cho Thắng). Báo cáo thật với đồng chí. Đây, nó được viết ngày 2 tháng 9 năm 1982. Nay tôi xin gửi đồng chí giám đốc, coi như gửi cho Đảng. Đồng chí là phó bí thư chi bộ, nay bí thư chưa có, đồng chí là bí thư của tôi…


Mắt kính lão của Thông nhòa đi. Dũng thấy rõ cánh tay ông nổi da gà. Bàn tay ông run run. Đầu ngón giữa của bàn tay phải vẹt đi vì cầm bút nhiều. Tự nhiên, Dũng thấy tin con người này. Anh nghĩ: người ngoài cuộc dễ nói hay, nói mạnh. Có nhào vô rồi mới biết đâu là vàng đâu là thau. Làm nghề viết văn, viết báo anh dễ coi mình là trong sạch, vì anh có bao giờ gần với tiền và hàng. Đến khi ném anh vào môi trường toàn là tiền, hàng, của cải tự nhiên có chân bò tới nhà anh, liệu anh có từ chối được chăng? Rồi, khi đã ăn của đút, liệu anh có dừng lại được, có tự thú được như ông kế toán trưởng này không? Phải can đảm lắm, phải chính trực lắm mới làm như vậy được. Không dễ chút nào đâu! Dũng thấy ghê sợ cái môi trường mà những người như Thắng, như Thông đang sống: Hoặc là anh chết ngay (nếu anh tố cáo tôi ăn cắp) hoặc là anh chết lần chết mòn (nếu anh đồng lõa). Trong hai cái chết đó, có nhiều kẻ đã nhắm mắt mà nhận lấy cái chết thứ hai. Thế còn Thắng? Thắng đã sống như người thừa ở xí nghiệp này suốt chín năm qua. Nay anh là “ông chủ” mới của xí nghiệp. Hoàn cảnh mới đã trả lại cho anh dũng khí của một chiến sĩ. Dũng hy vọng là xí nghiệp Đại Dương sẽ đổi khác. Nhiệt tình và bản lĩnh của Thắng giúp anh tin như thế. Nhưng chỉ có nhiệt tình không thôi có đủ không? Thắng đang cần những phương pháp hay nhất cho con đường đi của xí nghiệp. Thắng dựa vào Thông, vào thuyền trưởng Thành. Thắng tham khảo những kinh nghiệm của các xí nghiệp khác đã trải qua. Thắng lại có thuận lợi lớn nhất là những đổi mới cơ chế quản lý vừa ban hành. Dũng thấy như mình hòa vào với niềm vui và nỗi lo của những người đang ở trước mặt anh…


Trưởng phòng tài vụ Ba Thông nén xúc động. Uống cạn tách trà Thắng vừa rót ra, Ba Thông tiếp, vẫn mở đầu bằng câu quen miệng: Báo cáo thật với…


- Báo cáo thật với đồng chí. Chuyện gì đã qua, hãy để nó qua. Nay đồng chí đã tin tôi, giữ nguyên vị trí của tôi trong xí nghiệp mà lẽ ra tôi phải bị cách chức mới phải. Điều đó làm cho tôi rất cảm động. Đời người thật ngắn, quá ngắn! Vèo trông lá rụng ngoài sân…! Khi ta ngộ ra được chân lý thì quá trễ mất rồi! Còn gì đáng sợ hơn khi ta bị mất niềm tin của những người xung quanh! Đồng chí tin tôi, tức là tin vào cái tính bản thiện ở mỗi con người. Không thành kiến, tức là đồng chí đã tôn trọng, một sự tôn trọng thực sự chứ không phải màu mè, mị dân. Điều này khiến cho mọi người ở Đại Dương rồi sẽ đoàn kết lại quanh đồng chí.


- Cám ơn anh về những lời động viên tôi. Tôi đã không lầm khi dựa vào những người như anh, như cậu Thành. Tuy nhiên, anh Ba bớt dùng chữ “báo cáo thật” đi được không? - Thắng mỉm cười nhìn Ba Thông - Bây giờ ta bàn chuyện hiện tại nhé. Đúng như anh nói, cái gì đã qua, hãy để nó qua. Không thể cứ đổ lỗi mãi cho quá khứ. Kẻ nào phạm tội đã bị luật pháp trừng trị. Còn hiện tại, chúng ta phải làm việc. Làm việc hết mình. Thời gian không chờ chúng ta. Và chúng ta cũng nhất quyết không chờ ai. Ngày 17 tháng 6, Ban chấp Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết Tám - Thắng quay qua Dũng - tôi đã có rất sớm toàn văn nghị quyết. Rồi báo Nhân Dân đăng loạt bài hướng dẫn thực hiện. Tôi đã tìm ra điều cần tìm. Mấu chốt của vấn đề đã được tìm ra. Đã đến lúc trong sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay, mọi chuyện phải đi vào thực chất, vào cốt lõi. Làm theo đường lối của Đảng chúng ta sẽ bỏ hẳn cơ chế quản lý cũ, lỗi thời, không hợp với quy luật đời sống, kinh tế hiện tại, đồng thời chúng ta sẽ hạch toán kinh tế một cách thực sự. Theo cách tính toán trong này, (Thắng lật từng trang đánh máy), cái anh Ba Thông coi là công trình của mình, còn theo tôi anh gọi nó là bản luận chứng kinh tế kỹ thuật cũng được, thì giá cước vận chuyển tăng gấp nhiều lần hiện tại. Điều này có cơ sở của nó. Nhưng phải tỉnh táo nhận ra rằng giá cước giao thông vận tải tăng sẽ tác động rất mạnh vào mặt bằng giá, làm cho giá cả sẽ đội khung hàng loạt. Vì thế nguyên tắc cao nhất là phải làm sao để hạ giá thành. Chúng ta đưa toàn bộ chi phí hợp lý vào giá thành. Trong khi tính đúng, tính đủ mọi chi phí vào giá thành, cần phải loại bỏ những chi phí bất hợp lý…


- Báo cáo thật với đồng chí, - Ba Thông sôi nổi hẳn lên - tất cả các loại định mức đều được rà xét lại. Có nhiều định mức quá cao so với thực tế. Ví dụ xăng dầu cho tàu manơ([2]) tại bến, dây cáp cho các tàu kéo v.v… Trong khi đó, tiền lương thực tế của công nhân lại quá thấp. Lao động của thủy thủ thuộc loại lao động nặng nhọc mà tiền lương lại không hơn mức lương của khu vực hành chính sự nghiệp. Có “bồi dưỡng sông nước” cũng không đủ uống cà phê!


- Vấn đề là ở đó. Ngay cả khi ta đẩy thu nhập của một người đảm bảo nuôi đủ người đó thì còn gia đình họ? Sau khi thực hiện bù giá vào lương, đời sống của công nhân không những không tăng lên được chút nào mà còn có phần giảm sút. Vì sao? Vì sản xuất vẫn trì trệ, hàng hóa ít. Vì giá cả chưa có mặt bằng ổn định. Kỷ luật giá lỏng lẻo, giá tăng tức là lạm phát rồi. Trả lương bằng tiền là chuyện hợp quy luật nhưng sức mua của đồng tiền giảm sút thì gay quá. Chống tiêu cực bằng cách nào khi mà người thủy thủ lãnh lương ra không đủ nuôi bản thân mình? Anh Ba đã nghĩ tới vấn đề hóc búa này chưa?


- Rồi, thưa đồng chí giám đốc. Báo cáo thật với đồng chí! Tôi thấy trên cơ sở giá cước vận chuyển tăng lên đúng với giá trị thực tế, xí nghiệp chúng ta sẽ huy động hết năng lực vận tải hiện có để chuyên chở. Tận dụng cả hai chiều phương tiện, đó là cách tốt nhất để tăng doanh số. Khi doanh số tăng, thu nhập của công nhân sẽ tăng. Tất nhiên, lại phải xóa bỏ hàng loạt chế độ, nguyên tắc cũ đã lỗi thời. Thưa đồng chí! Trong hai mươi tám năm làm công tác kế toán, tôi đã phải đọc, phải nhớ và thi hành gần tám vạn chế độ, nguyên tắc, thông tư, chỉ thị… Có những nguyên tắc, thông tư ra đời từ khi tôi mới ra trường, đến nay vẫn còn hiệu lực! Bởi vậy, làm theo cách mới, đòi hỏi chúng ta phải mạnh dạn xóa bỏ cái lỗi thời… Những điều đồng chí gợi ý với tôi hôm qua về việc khoán gọn chuyến tàu, khoán tỷ lệ hao hụt có thưởng và phạt v.v… tôi đã tính toán kỹ và có trình bày trong này. Đề nghị đồng chí duyệt lại, nếu được, ta thực hiện ngay từ chuyến vận tải của tháng bảy này.


- Rât hay. Tôi đọc ngay bây giờ, và ngay chiều nay sẽ cho phổ biến.


*


*   *


Ngày nào giám đốc Thắng cũng nhận được một cú điện thoại đe dọa. Ngày hôm nay, khi anh vừa đi làm với VOSA Sài Gòn([3]) về đến phòng thì chuông điện thoại reo vang. Một giọng nam nói rất nhanh:


- A lô. Ông Thắng đấy hả. Tôi nói để ông hiểu: chúng tôi không cho phép ông muốn làm gì cũng được đâu. Hãy viết sẵn chúc thư đi, nếu ông cứ tiếp tục như vậy!


Thắng cúp máy. Anh quá nhàm tai về những lời như vậy. Công việc đang cuốn hút anh. Buổi làm việc với Tổng giám đốc đại lý tàu biển và trưởng phòng đại lý Lash đã khiến anh yên tâm. Sơ hở lớn nhất trong vận tải đường sông những năm qua là không gắn trách nhiệm của chủ phương tiện với hàng hóa trên phương tiện đó. Không liên kết chặt chẽ giữa hai đầu bến với chủ phương tiện. Điều này thể hiện rõ nhất trong khâu vận chuyển sà lan Lash của công ty Interlighter. Người giao hàng – Công ty Interlighter thông qua đại lý của mình là VOSA Sài Gòn, với người vận chuyển sà lan (từ tàu mẹ đến các nơi nhận hàng) là xí nghiệp Đại Dương, và người nhận hàng, xưa nay hầu như không có sự phối hợp chặt chẽ nhằm quản lý tài sản hàng hóa. Vì thế, người kéo sà lan tự coi mình chỉ là người kéo thuê, hàng hóa trong sà lan đã được niêm chì, lúc giao, chỉ căn cứ vào các dấu niêm chì còn đủ là xong việc. Ở trong ruột sà lan, hàng mất, người chuyên chở không chịu trách nhiệm, đổ thừa cho hai đầu bến. Hai đầu bến thì đổ riệt cho chủ phương tiện! Đây là sơ hở dẫn đến tình trạng hàng hóa không cánh mà bay, làm thiệt hại cho Nhà nước hàng trăm triệu đồng, làm giàu cho Phùng Bắc và phe lũ của hắn. Mấy năm qua, sơ hở nghiêm trọng trong công tác quản lý không được khắc phục. Bọn Phùng Bắc đục nước thả câu, khai thác tối đa sơ hở đó. Giám đốc Thắng đề nghị với Chính, giám đốc VOSA một biện pháp cụ thể:


- Trước khi sà lan Lash rời tàu mẹ, chúng ta cho mở nắp hầm, kiểm tra lại hàng hóa rồi mới giao cho chủ phương tiện tức là công nhân xí nghiệp Đại Dương chúng tôi. Chỉ khi nào đã kiểm lại hàng hóa rồi niêm chì thì dấu niêm chì mới có hiệu lực.


- Rất đúng! - Chính cùng tuổi với Thắng, là một giám đốc hiểu biết rộng và rất thực tế. Anh thường xuyên được đi nước ngoài nên có tác phong làm việc khoa học, thiết thực - Riêng về phía VOSA, chúng tôi đã đề nghị công ty Interlighter thưởng cho các chuyến vận tải không bị mất cắp. Mức thưởng tối thiểu bằng toàn bộ tiền ăn uống của công nhân trong chuyến đi, đảm bảo đủ 2000 calo một ngày một người.


- Thật vậy sao? - Thắng hỏi lại, lộ vẻ mừng rỡ. Chính cười:


- Tôi biết các đồng chí sẽ rất vui. Đây là kết quả cuộc hội đàm mới đây của chúng tôi với ông tổng giám đốc công ty tại văn phòng trung tâm công ty Interlighter ở Budapest. Trong cuộc hội đàm này, phía bạn đã đồng ý thực hiện chi phí cho đại lý theo mức mới, sát với thực tế là mười ngàn rúp một chuyến. Vì thế, để bảo quản tốt hàng hóa trên đường từ tàu mẹ đến nơi nhận, chúng tôi đề xuất biện pháp thưởng nêu trên. Tất nhiên, đấy chỉ là biện pháp nhằm góp phần chăm sóc sức khỏe cho công nhân xí nghiệp, xóa bỏ cái cớ làm nảy sinh các vụ ăn cắp hàng hóa, chứ không thể thay thế toàn bộ công tác ổn định đời sống cho cả gia đình họ. Mà việc bồi dưỡng kiểu đó chỉ là chữa cháy. Cơ bản nhất vẫn là con người. Một khi người ta tự giác thì… Anh Thắng biết không, ở VOSA Sài Gòn, tôi cho anh em đi học, bắt buộc đi học. Ai đi học có thưởng. Việc học hành sẽ nâng đầu óc con người ta lên. Thời gian rảnh đi học sẽ bớt ăn nhậu, bớt chơi bời, nguồn gốc sinh ra tiêu cực… Anh đang đối diện với một thực tế phức tạp, tôi mong anh dùng những biện pháp tổng hợp, đừng thiên về kinh tế, mặc dù biện pháp kinh tế lúc này có ý nghĩa quyết định số một.


- Tôi hiểu. Rất cám ơn lời khuyên của anh! Các anh đã quan tâm đến đời sống anh em công nhân vận tải, điều đó khiến chúng tôi rất cảm động. - Thắng chuyển cách xưng hô, giọng tâm tình - Anh Chính biết đấy, lao động trên sông nước chẳng phải nhẹ nhàng. Suốt ngày phơi nắng phơi mưa, lênh đênh rày đây mai đó. Nếu là sà lan thường thì còn có phòng ngủ, sà lan Lash thì đâu có. Mỗi sà lan có ba hay bốn công nhân vận hành. Anh em phải căng lều bạt làm nơi ăn ngủ. Những ngày nắng còn chịu được, những ngày mưa thì cơ cực vô cùng. Tôi đã đi cùng anh em nhiều chuyến. Thật buồn anh Chính ạ! Đúng là điều kiện làm việc, ăn ở của anh em quá vất vả.


- Anh nên đầu tư vốn cho việc chế tạo những khung nhà lưu động cho công nhân. Mọi chi phí tính đủ vào giá thành kia mà! - Chính cười - Tất nhiên, phải là những chi phí hợp lý. Nhưng xin nói thẳng anh Thắng nhé, khi chúng tôi áp dụng chế độ thưởng cho công nhân tương ứng với 2000 calo một ngày, chúng tôi có quyền phạt rất nặng nếu như hàng hóa còn bị mất cắp. Chúng ta nên ký một giao ước: khi hàng hóa bị mất, bên Đại Dương phải bồi thường.


- Đồng ý. Chúng tôi sẽ có những giao kèo tương tự với công nhân xí nghiệp.


- Hy vọng rằng Đại Dương sẽ yên bình trở lại.


- Cảm ơn anh. Tôi về.


Chính tiễn Thắng ra cầu thang, nắm tay Thắng:


- Nghe nói anh chưa xây dựng lại gia đình. Có lẽ phải tính đến chuyện đó Thắng ạ. Đôi khi, có vợ, công việc dù bận cách mấy, ta cũng thấy dễ thở hơn.


- Cảm ơn. Tôi đang lo nhiều chuyện quá! Khó mà tính chuyện vợ con lúc này Chính ạ.


*


*   *


Câu chuyện với Chính khiến Thắng suy nghĩ nhiều.


Như vậy là mỗi chuyến đi, công nhân xí nghiệp anh sẽ được một khoản phụ cấp mới: thưởng bảo quản hàng hóa. Thắng hiểu, đây là một biện pháp mạnh nhằm xóa bỏ nạn ăn cắp hàng diễn ra liên tục suốt ba mươi sáu chuyến tàu Interlighter cập cảng Sài Gòn; kể từ khi công ty này chính thức mở luồng vận tải đến Việt Nam. Anh phải giải thích cho công nhân của anh hiểu điều đó. Tự trong lòng, anh luôn dành tình cảm thương mến đặc biệt cho công nhân Đại Dương. Anh biết họ rất khổ. Những gian khổ trong đời người lính anh đã trải, những thiếu thốn, cơ cực mà gia đình anh đã trải khiến anh dễ đồng cảm với sự khổ của người khác. Thắng biết rằng chỉ riêng các biện pháp hành chính không thôi, chưa đủ thay đổi tình hình xí nghiệp. Và ngay cả khi đã áp dụng các biện pháp kinh tế nữa, chưa thể xóa bỏ tận gốc vấn đề tiêu cực. Anh rất đồng ý với ý kiến của Chính. Con người ta bị đồng tiền tha hóa. Một nhà triết học phương Tây nào đó đã nói: “Còn xã hội, còn loài người thì còn vấn đề tha hóa”. Thắng công nhận có biểu hiện tha hóa, nhưng anh không chịu cái lý thuyết cho rằng còn loài người thì còn vấn đề tha hóa. Anh tin rằng khi tất cả con người ta đều có đủ điều kiện vật chất, tinh thần để sống, làm việc, hướng theo quy luật của cái đẹp thì vấn đề tha hóa đâu có thể tồn tại mãi?


Đúng là không thể chỉ dừng lại ở những biện pháp kinh tế. Những biện pháp này giúp cho thu nhập của công nhân tăng, nhưng so với những khoản thu của bọn ăn cắp, buôn lậu thì đáng là bao! Chỉ riêng biện pháp kinh tế không giải quyết được tận gốc vấn đề. Làm thế nào để lương tâm mỗi người trở thành quan tòa luôn phán xét họ? Thắng nghĩ: giáo dục, hướng dẫn cho công nhân trong xí nghiệp sống và lao động có nhân cách, có lương tâm mới là vấn đề đáng lưu tâm nhất. Nếu có nhân cách, có lương tâm thì “đói mà sạch, rách mà thơm”. Nếu mất nhân cách, vô lương tâm thì dù có cả bạc triệu, vẫn đi ăn cắp như thường.


Những vụ ăn cắp hàng trên sà lan Lash quả là táo bạo và trắng trợn. Mỗi sà lan Lash có bảy nắp hầm bằng thép hợp kim, mỗi nắp nặng một ngàn sáu trăm ký lô. Sau khi dùng kỹ xảo gỡ niêm chì, bọn ăn cắp đã lấy hai con đội ôtô kích nắp hầm lên. Thế là bọn chúng tha hồ lấy cắp. Trên trời, dưới nước, chính giữa là bọn ăn cắp mà! Mặc sức lấy hàng. Trong những chuyến kéo sà lan Lash hàng quá cảnh cho Campuchia, bọn chúng đã lấy không biết cơ man nào là hàng hóa đủ loại. Lấy cắp xong, chúng chẳng thèm xóa bỏ dấu vết. Dưới hầm chứa hàng bừa bãi vỏ bao thuốc “Mai”, “Đà Lạt” và những vết chân. Công an đã điều tra ra vụ này. Bọn phạm tội đã bị trừng trị đích đáng.


Điều làm Thắng vô cùng căm phẫn là những con sâu mọt của xã hội lại làm tha hóa nhiều cán bộ cấp huyện,  cấp tỉnh nơi chúng đi qua, và số cán bộ này đã đồng lõa với chúng để tẩu tán hàng ăn cắp. Có địa phương chặn một khúc sông lại, cho canh gác hẳn hoi để bọn ăn cắp tẩu tán hàng! Sau khi Phùng Bắc bị bắt, ở các địa phương hai bên dòng sông lớn, có hàng trăm kẻ đồng lõa phạm tội bị bắt theo. Chuyện ấy qua rồi hay còn tái diễn? Nếu còn tái diễn thì sao?


*


*   *


Giám đốc Thắng xuống tàu Trường Giang, chiếc tàu kéo có công suất lớn. Thắng hỏi lần lượt từng người:


- Đồng chí thuyền phó, đồng chí nghĩ thế nào khi tỷ lệ hao hụt lúa tới 4,04%, gạo là 1,98%, phân urê là 4,36%.


Hưng nhìn giám đốc, nói thẳng:


- Thưa thủ trưởng, em không bao giờ tin là mức hao hụt lại cao đến thế. Vượt quá xa tỷ lệ cho phép. Đó chỉ là sự khai báo nhằm lấp liếm tội lấy cắp.


Ba Chành, sà lan trưởng lừ mắt nhìn Hưng. Nhận ra ánh mắt ấy, Thắng hỏi Ba Chành:


- Thế nào anh Ba Chành? Cậu Hưng nói trúng hay trật?


Giọng Ba Chành lè nhè, sặc mùi rượu:


- Ờ, ờ… tôi cũng chẳng biết nữa! Tôi chỉ biết giữ cho sà lan khỏi chìm, đến bến, đến bờ an toàn. Vậy thôi!


- Anh biết chứ anh Ba? - Thuyền trưởng Thành đốp luôn - Anh còn biết cách làm tăng thêm độ thủy phân trong lúa gạo kia mà!


Tùng, máy trưởng, 28 tuổi nhanh nhảu:


- Báo cáo giám đốc, lẽ ra em chờ được hỏi mới trả lời, nhưng nghe anh Ba Chành nói vậy, em cứ ngỡ là em ngủ mê. Ai chứ Ba Chành thì rành vụ đó lắm. Muốn hạ tỷ lệ hao hụt ấy à, cứ hỏi anh Ba Chành. Ảnh mà quyết thì đố mất đi hạt lúa nào.


- Đó. Ba Chành thấy chưa? - Thắng nghiêm mặt nhìn Ba Chành - Anh thấy là anh em có thiện chí đó chớ?


- Hừ. Thiện chí. Liệu có đổi cái thiện chí ấy thành tiền mang về cho tám cái tàu há mồm ở nhà không? - Ba Chành ngang ngạnh, không thèm nhìn Thắng - “Có thực mới vực được đạo”. Đói bụng mà nói chuyện liêm khiết! Rõ dớ dẩn!


Thắng kiên nhẫn:


- Tôi biết anh Ba Chành quê ở Bắc Ninh kia đấy. Không rõ anh có nhớ câu tục ngữ của bà con mình ngoài đó: Đói cho sạch, rách cho thơm”?


Ba Chành im lặng không nói gì, cũng không tỏ ra phớt lờ như trước nữa. Thắng tiếp:


- Tôi đã cho áp dụng một số biện pháp nhằm tăng thu nhập cho anh em. Từ nay, nếu chở hàng nội địa thì lượt về, khi không tải, anh em có quyền khai thác nguồn hàng. Cước vận chuyển thu được, sau khi trừ khấu hao và tiền xăng dầu, anh em được hưởng năm chục phần trăm. Mặt khác, về chuyện buôn bán, trừ những hàng quốc cấm, còn lại anh em không bị hạn chế. Trong khi Nhà nước gặp nhiều khó khăn trong khâu lưu thông phân phối, bọn thương lái đường dài đang vớ bẫm, thì tại sao chúng ta không để cho công nhân sử dụng phương tiện có sẵn, tham gia vào việc điều tiết hàng hóa? Tất nhiên là không được quá tải. (Ba Chành quay hẳn người lại, lắng nghe Thắng nói). Về tỷ lệ hao hụt: từ nay, tỷ lệ hao hụt quy định là kỷ luật sắt. Ai vượt quá sẽ bị phạt 100%. Ai giảm được dưới tỷ lệ, sẽ được thưởng 100%, bằng tiền, theo giá thị trường. Riêng sà lan Lash, nếu bảo quản hàng hóa an toàn đầy đủ đến nơi giao hàng thì được thưởng mỗi ngày một số tiền tương đương với 2000 calo cho ba bữa ăn. Ngược lại, nếu mất mát, bị phạt gấp đôi. Đây là hàng nhập khẩu, là quan hệ quốc tế, không thể để mất cắp hoài như mấy năm rồi. Các đồng chí thấy thế nào?


Không ai nói gì. Thắng nhìn Thành. Thành lại nhìn Thắng. Anh biết anh em chưa dám bày tỏ thái độ. Họ không thể nào nói trước được về một thói quen đã thành phổ biến, thành đặc tính của giới giang hồ sông nước. Đó là: ăn cắp – buôn lậu – gái và rượu. Tuổi trẻ bao giờ cũng dễ thanh thản hơn với quá khứ. Nhưng họ lại chưa đủ tự tin. Còn những người như Ba Chành, quá khứ thật nặng nề. Nó níu kéo người ta, bám víu chặt người ta. Mười năm qua, Thắng hiểu rõ Ba Chành là người thế nào. Vốn là một thuyền trưởng giỏi, năm 1978, Chành bị bắt về tội để một sà lan chở dầu bị cháy. Ra tù, Chành được Phùng Bắc bố trí cho làm tổ trưởng một tổ sà lan. Từ đó, Ba Chành không bỏ lỡ một cơ hội nào, liên tục xoáy hàng hóa của Nhà nước đem bán, tiền thu được quay vòng ngay bằng cách mua thuốc lá ngoại từ chợ trời biên giới về Sài Gòn. Gia đình Ba Chành từ Bắc Ninh đi phu cao su từ năm 1937. Chành có bố là công nhân cao su. Ông tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền ở Lộc Ninh năm 1945. Năm 1954, ông không tập kết mà ở lại bám phong trào công nhân cao su hoạt động chống Mỹ – Diệm. Tháng 3 năm 1955, sau khi dẹp yên các giáo phái, Mỹ – Diệm quay sang đàn áp phong trào công nhân cao su, chúng mở chiến dịch Trương Tấn Bửu, càn lên vùng cao su miền Đông, do tên Mai Hữu Xuân chỉ huy. Ngay trong ngày đầu của trận càn, bọn Diệm đã bắt đi nhiều cán bộ lãnh đạo của công nhân cao su, trong đó có bố của Chành và đem đi thủ tiêu. Sau khi ông bị bắt, gia đình ông bị giặc khủng bố, vợ ông dắt bốn đứa con trong đó có đứa con trai độc nhất là Ba Chành về Sài Gòn. Năm đó Ba Chành mới mười bốn tuổi. Cuộc sống ở thành phố bị Mỹ hóa xô đẩy Ba Chành vào con đường kiếm tiền bằng mọi giá. Chành không bị bắt lính, nhờ vào làm ở hãng tàu Soái Kình Lâm. Chành lấy vợ, một người đàn bà chỉ giỏi đẻ như máy và thúc ép chồng kiếm tiền về cho mình. Bao nhiêu cũng thiếu, nhiều mấy cũng xài hết liền. Vợ chồng Ba Chành có tám đứa con thì bốn đứa đã được liệt vào dân “anh chị”, hành nghề khuân vác và chụp giựt ở bến cảng số Một, là cảng sông lớn nhất thành phố. Thắng tự nhủ: Làm thay đổi nếp nghĩ, phong cách sống và làm việc của những người như Ba Chành không dễ. Nhưng việc đó mà làm được thì không còn việc gì ở xí nghiệp này khó cả!


*


*   *


Từ đầu tháng sáu, tàu Đồng Tâm kéo hai sà lan chở gạch cho một công trình đang xây dựng ở Hậu Giang. Theo kế hoạch, sau khi bốc dỡ gạch lên, tàu Đồng Tâm đi Rạch Giá để chở lương thực về thành phố. Thế nhưng thuyền trưởng Bài và đồng đội của anh đã phải nằm chờ ở Rạch Sỏi hai mươi hai ngày, vẫn chưa có hàng để về. Kế hoạch vận tải lương thực sáu tháng đầu năm nay chỉ đạt 20% là cao. Bài biết thế. Vấn đề tắc ở khâu thu mua và vận chuyển từ các ấp, xã ra bến lớn, bến đầu mối của tỉnh. Những ngày nằm chờ hàng thật buồn. Bài không uống được rượu nên trong những bữa nhậu triền miên trên tàu, anh như người mất hồn. Người ta uống và nói, uống càng nhiều, nói càng nhiều. Trong khi đó, anh chỉ ngồi, buồn, nhớ vợ. Bài mới cưới vợ được sáu tháng. Ba mươi tuổi anh mới lấy vợ. Vợ Bài là cô giáo của nhà trẻ quận, nơi gia đình anh ở. Lấy nhau được một tuần, một đêm, Lan – cô vợ trẻ mà anh rất cưng, nói với anh:


- Anh à, có thể chuyển ngành được không anh?


- Ai?


- Anh chứ ai. Em thấy anh không hợp với nghề sông nước đâu…


- Vì sao? Em không thích nghề đó à?


- Em nói anh đừng buồn, anh hứa đi.


- Ừ. Em nói đi. Anh mà buồn em?


- Em thấy anh rất hiền, lại thẳng thắn nữa. Má nói, nghề lái tàu thì không thể hiền được. Ở với quỷ rồi mình cũng thành ma.


- Anh đã thành ma đâu nào? - Bài ôm chặt vợ, áp mặt vợ vào ngực mình, anh hôn lên mái tóc vợ rồi tiếp - Anh ra trường đã sáu năm. Khi tay thuyền trưởng cũ của Đồng Tâm bị vào tù, anh được đề bạt. Từ đó đến nay, ba năm làm thuyền trưởng rồi, anh vẫn là anh đấy chứ.


- Nhưng em sợ. Em sợ anh ạ. Vợ chồng mình nghèo, em vẫn thấy vui. Chúng mình thương nhau. Mỗi lần anh đi một chuyến dài ngày, em nhớ vô cùng. Em làm gì anh biết không? Khi nhớ anh, em dành tất cả tình thương yêu cho lũ trẻ ở trường. Các cháu rất cưng cô Lan. Mai mốt, chúng mình sẽ có một đứa con anh nhỉ.


- Chứ sao! Mong ước của anh đó.


- Nếu có con, em chỉ xin anh chuyển qua làm việc khác, đừng lái tàu. Nghề đó không hợp với vợ chồng mình. Anh thấy đó, cặp vợ chồng ở đối diện với nhà mình, chồng là thủy thủ tàu viễn dương đó. Trong nhà đó thứ gì cũng có, cũng nhiều. Quạt, tivi màu, xe Honda Cub, tủ lạnh, salon, giường, tủ, quần áo… cái gì cũng mốt nhất, sang nhất, đẹp nhất. Nhưng họ cãi nhau cũng nhiều nhất! Còn đánh nhau nữa. Cô vợ chửi ông chồng có mèo. Ông chồng chửi vợ phá nhà phá cửa, chỉ biết ăn diện mà không biết nuôi dạy con. Đó, giàu mà như vậy thì giàu làm gì? Mỗi khi ra đường, trong xóm này, ai cũng nói vợ chồng nhà ấy coi người như rác. Có tiền, họ khinh tất cả. Đồng tiền làm lóa mắt họ.


- Thôi mà em. Chuyện của người đời, hơi đâu mình để ý cho mệt?


- Thấy người lại nghĩ đến ta. Em lo cho anh lắm. Tàu viễn dương buôn bán làm ăn theo kiểu của họ. Tàu nội địa làm ăn theo kiểu của xí nghiệp anh. Em biết cả. Anh không giấu được em đâu.


- Sao em biết?


- Anh Thắng kể em nghe chứ ai. Anh Thắng là một người sạch sẽ đó.


- Ừ…


Bài thấy vợ mình có lý. Anh nghe vợ nói tiếp nhưng Lan không nói gì thêm. Cô lo chồng mình buồn.


- Em không thích anh lái tàu?


- Em có thể xa anh lâu bao nhiêu cũng được. Không phải vì anh đi tàu, xa nhà thường mà em nói anh chuyển công tác đâu. Em lo mất anh. Nhiều khi thể xác còn đấy, mập mạp, hồng hào đấy mà lại mất cả rồi! Chỉ là giá áo túi cơm. Nhiều khi, để giữ được nhân cách thì mất mạng. Em lo sợ. Hằng đêm em lo sợ mất anh. Lan khóc nấc lên.


- Lan! - Bài dỗ ngọt - Nín đi mà. Để từ từ rồi anh tính.


- Anh hiểu em chứ?


- Hiểu. Nín nghe cưng!


Từ đêm ấy, mỗi khi xa vợ, nằm ngủ trên tàu nghe tiếng máy nổ đều trên mặt sông, Bài càng nhớ và thương vợ anh. Phụ nữ có những linh cảm riêng, khá chính xác mà đàn ông ít khi lường trước được. Ở dưới tàu Đồng Tâm này, anh chưa thấy có sự đồng tâm nhất trí. Từ Lô, thuyền trưởng đến Hai Độ, sà lan trưởng, Chỉnh, máy trưởng và các thủy thủ khác, đều là những môn đệ nồng nhiệt của chủ nghĩa tiền - rượu - gái. Bài là người ít tuổi nhất của đoàn tàu Đồng Tâm, lại không uống rượu. Mỗi lần tàu cập bến, mọi người đổ lên bờ giải trí, còn anh, tha thẩn trên tàu và hướng tâm tưởng về người vợ trẻ, đang chờ anh.


Sáng nay là ngày thứ hai mươi sáu từ khi nhổ neo rời Sài Gòn. Bài đã xa vợ gần một tháng rồi. Anh nhớ quá.


*


*   *


Trong một quán ăn ở sâu trong vườn cây xanh um tùm, thuyền phó Lô, sà lan trưởng Hai Độ và máy trưởng Chỉnh đang kề môi áp má với ba cô gái ở bàn rượu thì một phụ nữ bước vào:


- Xin lỗi, tôi cần gặp anh Lô.


- Tôi đây. - Giọng Lô lè nhè - Có chi vậy cô em? Ngồi uống chút nào.


- Không. Việc gấp. Anh Tư nhắn.


Lô bật dậy:


- Vậy hả?


Hai người đi ra ngoài, cô gái vừa từ Sài Gòn xuống nói:


- Phùng Bắc bị bắt. Bể tùm lum. Đến nay hơn một trăm người vô tù rồi! Cả Đông ở cảng Một nữa. Ở xí nghiệp Đại Dương, phó giám đốc Thắng lên thế. Mọi chuyện đang căng lắm. Anh Tư nói các anh dưới này liệu đường mà…


- Có vậy thôi hả? - Lô tái mặt, môi lắp bắp - Ảnh còn nhắn gì thêm không?


- Không. - Cô gái ngần ngừ một lát - À, có đây. Anh Tư gửi cho các anh ít tiền. Ả đưa cho Lô.


- Bao nhiêu đây?


- Không biết. Tôi đâu có hỏi. Thôi, tôi đi.


- Cám ơn cô. Cô tên chi?


- Khỏi hỏi. Tôi đã xong nhiệm vụ. Chào anh. - Nói rồi cô ả quay ra liền. Ngoài đường, có tiếng Honda rồ máy vọt đi.


*


*   *


Lô bàn với Hai Độ và Chỉnh:


- Tuyệt đối không để lộ điều gì khiến thằng Bài nghi ngờ. Hôm nay sà lan đang ăn hàng, chỉ ngày mai là xong. Phải hành động ngay đêm nay.


- Tôi lo cho má sắp nhỏ ở nhà. Nó đang bệnh - Chỉnh nói. Trong ba người, Chỉnh ít tuổi nhất. Vợ Chỉnh vừa sinh đứa con thứ năm, nhưng đứa bé bị chết yểu, vợ bị băng huyết. Bỏ đi lúc này, Chỉnh không nỡ.


- Mày bàn ra thì tùy mày. Đã giao ước rồi, cắt máu ăn thề rồi. Tùy mày. - Hai Độ gằn giọng.


- Qua bển, bảo lãnh cho cả nhà qua. - Lô an ủi Chỉnh - Cho dù chưa bảo lãnh được thì tháng tháng gửi đồ về còn hơn ở lại cả tao, mày, Hai Độ vô ngồi tù xé vài cuốn lịch, gông mọt cũng chưa được ra. Mày không ngán à?


Chỉnh cúi gằm mặt xuống. Hắn bị điểm trúng huyệt. Hắn biết, tội của bộ ba hắn, Lô và Độ là không phải thường: Ăn cắp, chiếm đoạt tài sản Nhà nước, khi bị phát hiện ngăn cản thì giết người để phi tang chạy trốn. Chuyện xảy ra đã hơn năm rồi, nhưng biết đâu, hàng trăm thằng bị bắt, tụi nó khai ra thì sao?


Thế là bọn chúng nhất trí giờ hành động. Theo đúng kế hoạch, đêm nay, Lô xin phép Bài cho lái tàu về Rạch Giá chơi, sáng mai ra sớm để kéo sà lan về. Số công nhân sà lan vừa nhận hàng cả ngày, mệt, chỉ mong tối là ăn rồi lăn ra ngủ, chả ai thiết đi đâu nữa. Bài đồng ý cho Lô và Độ, Chỉnh đi Rạch Giá. Đến giờ chót, hai thủy thủ và cả máy phó Hà cũng xin đi. Nghĩ thế nào, chắc là nhớ vợ quá, Bài cũng leo lên giường trong cabin nằm. Tàu Đồng Tâm chạy về Rạch Giá.


Mười hai giờ đêm, Độ, Chỉnh và Lô mới về tàu. Chúng dùng số tiền Tư Phú gửi để ăn nhậu cho đã và sắm một cây vàng, đổi được một ít đô la. Trong người mỗi thằng có sẵn vài ba chỉ nữa. Chúng yên trí qua đất mới, có đô la, có vàng xài đỡ những ngày đầu. Kế hoạch đối phó với Bài đã được chuẩn bị.


… Lô nhẹ nhàng đặt chiếc khăn đã thấm thuốc mê vào mũi Bài. Chỉnh và Độ cũng làm như thế với Hà. Họ ngủ ngon. Giấc ngủ thật hòa vào giấc ngủ vì thuốc mê. Bọn chúng yên trí có thể chạy suốt đêm nay Bài và Hà cũng chưa dậy. Khi tỉnh dậy rồi, chúng sẽ xử lý tiếp. Hoặc là Bài phải theo chúng. Hoặc là làm mồi cho cá mập.







([1]) Hệ 10 năm.




([2]) Manoeuvre: di chuyển vận động theo đội hình, kế hoạch.




([3]) Đại lý tàu biển thành phố Hồ Chí Minh. VOSA là chữ viết tắt bằng tiếng Anh: Vietnam Ocean Shipping Agency: Đại lý tàu biển Việt Nam.



Mục lục:
1.Chương 3
2.Chương 2
3.Chương 1
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 26.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »