tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29895080
Tiểu thuyết
24.04.2009
A. Dumas
Hai mươi năm sau

Rồi anh nói to:


– Và cậu ta đã lấy lại cái tên cũ Du Vallon rồi chứ?


– Còn thêm vào đó tên Bracieux, một khoảnh đất đã được phong nam tước, nói thật đấy!


– Thành thử chúng ta sẽ thấy Porthos là nam tước.


– Tôi không hoài nghi. Bà nam tước Porthos thật tuyệt vời!


Hai người bạn cùng bật cười.


– Như vậy là, – D’Artagnan nói tiếp, – cậu không muốn sang với Mazarin?


– Cậu cũng không muốn sang với các hoàng thân?


– Không. Chúng ta chẳng sang với ai cả, và chúng ta vẫn là bạn, chúng ta sẽ chẳng phải là phe giáo chủ, cũng chẳng là người Fronde.


– Phải đấy, – Aramis nói. – Chúng ta là ngự lâm quân.


– Với cả chiếc áo thầy dòng. – D’Artagnan nói.


– Nhất là với chiếc áo thầy dòng! – Aramis kêu lên. – Có thế mới duyên dáng.


– Vậy thì xin từ biệt nhé, – D’Artagnan nói.


– Tôi không dám giữ cậu, bạn thân mến ạ, vì tôi không biết sẽ để cậu nằm ở đâu, mà tôi không thể thất thố mời cậu chia sẻ một nửa cái nhà kho với Planchet được.


– Với lại đây cách Paris không đầy ba dặm; ngựa nghẽo nghỉ ngơi rồi, và chỉ độ non một tiếng đồng hồ là tôi sẽ về đến nhà.


Và D’Artagnan rót cho mình một cốc rượu vang cuối cùng.


– Chúc mừng thời xưa của chúng ta. – Anh nói.


– Đồng ý, – Aramis nói, – tiếc thay đó là một thời đã qua “fugit irreparabile tempus...” ([1])


– Ô hay, – D’Artagnan nói. – Có thể trở lại. Dù sao, nếu cậu cần đến tôi, xin cứ đến phố Tiquetonne, khách sạn Con Dê Cái Nhỏ.


– Còn tôi, ở tu viện thầy dòng Jésuite: từ sáu giờ sáng đến tám giờ tối qua lối cửa chính, từ tám giờ tối đến sáu giờ sáng qua lối cửa sổ.


– Từ biệt bạn thân mến.


– Ồ! Tôi không từ giã cậu như vậy, để tôi đưa cậu đi.


Và Aramis lấy gươm và áo choàng.


D’Artagnan tự nhủ thầm: “Cậu ấy muốn chắc chắn là ta đi thật”.


Aramis huýt sáo gọi Bazin, nhưng Bazin ngủ ở tiền sảnh trên đống thức ăn thừa của buổi tối, và Aramis buộc phải lắc tai bác để đánh thức dậy.


Bazin dang tay ra, dụi mắt và định ngủ tiếp.


– Này, này, ông trạng ngủ, lấy thang ra mau lên.


Bazin vừa ngáp đến trật quai hàm vừa nói:


– Cái thang vẫn để ở cửa sổ.


– Cái khác vậy, cái thang của bác làm vườn ấy, bác không thấy là D’Artagnan lên thang đã khó, xuống thang còn khó hơn ấy à?


D’Artagnan sắp bảo Aramis rằng anh xuống rất thạo thì một ý nghĩ chợt đến làm anh im bặt.


Bazin thở dài đánh thượt một cái và ra đi tìm thang. Lát sau, một cái thang gỗ tốt và chắc chắn đã được đặt dựa vào cửa sổ.


– Thế chứ, – D’Artagnan nói, – cái gọi là một phương tiện giao thông? Một phụ nữ có lẽ trèo được một cái thang như thế này đấy nhỉ.


Một cái nhìn sắc như dao của Aramis như muốn tìm kiếm ý nghĩ của bạn mình thấu tận đến đáy lòng, nhưng D’Artagnan chịu đựng cái nhìn ấy với vẻ thật thà tuyệt diệu.


Vả lại vừa lúc ấy anh đặt chân lên bậc thang đầu tiên và bước xuống.


Lát sau anh tới đất. Còn Bazin đứng ở cửa sổ.


Aramis bảo bác:


– Cứ ở đấy, tôi về ngay.


Hai người lần đến nhà kho, gần tới nơi thấy Planchet đi ra dắt theo hai con ngựa.


– Vừa hay, – Aramis nói, – thật là một tên hầu năng nổ và chu đáo, chẳng như cái gã lười Bazin, không còn được tích sự gì khi là người nhà thờ. Planchet, đi theo chúng tôi, chúng ta vừa đi vừa trò chuyện đến tận đầu làng.


Quả vậy, hai người đi qua suốt làng, nói những chuyện bâng quơ rồi khi đến mấy ngôi nhà cuối cùng, Aramis nói:


– Thôi, đi nhé, bạn thân mến, cứ theo cái nghề của cậu, vận may đang cười với cậu đấy, đừng có để tuột mất; nên nhớ rằng vận may là một cô gái giang hồ và nên đối xử cho thích hợp; còn về phần tôi, tôi an phận trong cảnh hèn mọn và trong tính lười nhác của tôi, xin vĩnh biệt!


– Thế là dứt khoát hẳn đấy à! – D’Artagnan nói. – Điều tôi đề nghị vơi cậu không hợp ý cậu ư?


– Trái lại, rất hợp ý tôi. – Aramis nói, – nếu như tôi là một người giống như người khác. Nhưng, tôi xin nhắc lại, thật ra tôi là một hỗn hợp những mâu thuẫn: điều hôm nay tôi ghét, ngày mai toi sẽ tôn thờ và vice versa ([2]). Cậu thấy rõ tôi không thể hứa hẹn như cậu chẳng hạn, với những ý nghĩ định đoạt hẳn hoi.


“Tào lao, đồ thâm hiểm, – D’Artagnan tự nhủ thầm, – trái lại mi là người duy nhất biết chọn lấy một mục đích và đi tới đó một cách thầm lặng”.


– Thôi, vĩnh biệt nhé, bạn thân mến, – Aramis nói, – và cảm ơn về những ý đồ tuyệt diệu của cậu, và nhất là về những kỷ niệm tốt đẹp mà sự hiện diện của cậu đã làm thức tỉnh trong tôi.


Họ ôm hôn nhau. Planchet đã lên ngựa. D’Artagnan trèo lên yên, rồi họ còn siết tay nhau lần nữa. Hai kỵ sĩ thúc ngựa và rời xa về phía Paris.


Aramis vẫn đứng yên lặng giữa lòng đường cho đến lúc hai người mất hút.


Nhưng đi được độ hai trăm bước, D’Artagnan dừng phắt lại, nhảy xuống đất, ném cương ngựa vào tay Planchet, rồi lấy mấy khẩu súng ngắn ở bao yên ngựa giắt vào thắt lưng mình.


– Ông ơi, ông làm gì thế? – Planchet hốt hoang nói.


– Dù cho hắn có xảo quyệt đến mấy đi nữa, – D’Artagnan nói, – tôi cũng làm cho người ta không thể bảo rằng tôi đã mắc lừa hắn. Cậu ở đây và chớ có động đậy; nhưng cậu hãy nép xuống vệ đường và đợi tôi nhé.


Nói xong D’Artagnan băng mình sang bên kia đường hào chạy men theo đường cái, đâm thẳng qua cánh đồng để vòng quanh làng. Trước đó anh đã trông thấy một khoảng trống chỉ có một hàng rào che nằm giữa ngôi nhà bà De Longueville và tu viện Jésuite.


Một giờ trước đó có lẽ khó mà tìm lại hàng rào, nhưng trăng vừa mới mọc, và dù rằng chốc chốc lại bị mây che phủ, ngay trong lúc tối tăm, người ta vẫn có thể trông rõ và tìm lại đường đi.


D’Artagnan bèn đi tới hàng rào và nấp mình sau đó. Khi đi qua trước ngôi nhà nơi đã xảy ra cuộc xung đột mà chúng tôi đã kể trên, anh nhận ra vẫn cái cửa sổ lúc này lại sáng lên, anh tin rằng Aramis chưa trở về nhà mình, và khi nào trở về, anh sẽ không về một mình.


Quả nhiên, một lát sau anh nghe thấy tiếng những bước chân đi tới gần và hình như có cả tiếng nói chuyện rầm rì.


Tới đầu hàng rào, những bước chân dừng lại.


D’Artagnan quì một đầu gối xuống đất, tìm chỗ nào dày nhất để nấp.


Vừa lúc đó hai người đàn ông xuất hiện trước sự kinh ngạc hết sức của D’Artagnan. Nhưng nỗi ngạc nhiên của anh đã tan biến khi nghe thấy một giọng nói dịu dàng, du dương, một trong hai người đàn ông ấy là đàn bà cải trang làm kỵ sĩ.


– Cứ yên tâm, ông René thân yêu của tôi, – giọng dịu dàng nói – Việc như thế sẽ không diễn lại nữa đâu; tôi đã phát hiện ra một đường hầm đi qua dưới mặt đường phố và chúng ta chỉ có việc nhấc một trong những viên đá lát ở ngay trước cửa nhà để mở một lối ra cho ông.


– Ồ, thưa bà quận chúa, – một giọng khác cất lên và D’Artagnan nhận ra là của Aramis, – tôi xin thề với bà rằng neu như danh tiếng của chúng ta không phụ thuộc vào tất cả những thứ không đề phòng ấy và tôi chỉ mạo hiểm có tính mạng của tôi thôi...


– Phải, phải, tôi biết, ông dũng cảm và phiêu lưu như một người thuộc xã hội thượng lưu phải thế; nhưng ông không phải chỉ thuộc về một mình tôi đâu, mà ông còn thuộc về tất cả đảng của chúng ta. Vậy ông nên thận trọng, nên khôn ngoan.


– Thưa bà, – Aramis nói, – bao giờ tôi cũng tuân theo khi người ta biết ra lệnh cho tôi bằng một lệnh ngọt ngào đến thế.


Anh cầm lấy tay bà ta mà hôn âu yếm.


– Ấy! – Người kỵ sĩ có giọng dịu dàng kêu lên.


– Sao vậy? – Aramis hỏi.


– Thế ông không trông thấy gió thổi tung mũ của tôi ư?


Và Aramis băng mình theo chiếc mũ bay đi. D’Artagnan lợi dụng hoàn cảnh ấy tìm một chỗ rào thưa thớt để có thể nhận rõ người kỵ sĩ khả nghi. Đúng lúc ấy trăng có lẽ tò mò như viên sĩ quan chui ra khỏi mây và nhờ ánh sáng toc mạch ấy, D’Artagnan nhận ra cặp mắt to xanh biếc, mớ tóc vàng óng và mái đầu thanh cao của bà công tước De Longueville.


Aramis tươi cười trở lại, một cái mũ trên đầu và một cái mũ cầm tay, và cả hai tiếp tục đi về phía tu viện thầy dòng Jésuite.


D’Artagnan vừa đứng lên vừa phủi quần vừa nói: “Hay lắm, bây giờ ta nắm được cu cậu rồi, cu cậu là Frondeur và là tình nhân của bà De Longueville”.


12.

Ông Porthos du Vallon de Bracieux de Pierrefonds


Theo những thông tin lấy ở nơi Aramis, D’Artagnan vốn đã biết rằng Porthos theo tên dòng họ gọi là Vallon, nay từ tên đất đai nên phải được gọi là De Bracieux và do cái đất đai De Bracieux ấy đang kiện tụng với linh mục Noyon.


Như vậy là D’Artagnan phải đi tìm kiếm đất đai ấy ở quanh vùng Noyon, tức là trên biên giới xứ Ile de France và xứ Picardie.


Hành trình của anh được quyết định nhanh chóng, anh sẽ đi đến tận Dammartin nơi tách ra hai con đường, một đi Soissons, một đi Compiègne. Ở đó anh sẽ thăm hỏi về vùng đất đai Bracieux và tùy theo câu trả lời mà anh sẽ đi thẳng hoặc rẽ về bên trái.


Planchet còn chưa thật yên tâm về sự trốn tránh của mình, tuyên bố rằng anh sẽ đi theo D’Artagnan đến cùng trời cuối đất, dù có đi thẳng hay rẽ sang trái.


Tuy nhiên anh van lơn ông chủ cũ là nên đi vào buổi chiều tối vì đêm tối có nhiều bảo đảm hơn. D’Artagnan bèn bảo anh nên báo cho vợ anh biết đe ít ra cũng giúp chị yên tâm về số phận của chồng mình. Nhưng Planchet tỏ ra rất sáng suốt trả lời rằng anh chắc chắn là vợ anh sẽ không chết vì lo ngại không biết anh đi đâu, còn anh vì biết cái miệng của chị mắc bệnh bep xép, nên anh sẽ chết vì lo ngại nếu như chị biết điều đó.


D’Artagnan thấy những lý lẽ ấy là chí lý đến nỗi anh không nài ép thêm, và vào khoảng tám giờ tối, khi sương mù bắt đầu dày đặc trong đường phố, anh khới hành từ quán Con Dê Cái Nhỏ, theo sau là Planchet ra ngoài kinh đô qua cửa ô Saint-Denis.


Nửa đêm, hai lữ khách đến Dammartin.


Không thể hỏi thăm vì muộn quá rồi. Chủ quán Thiên Nga Chữ Thập đã đi nằm.


Sáng hôm sau anh gọi chủ quán đến. Đó là một trong số những người Normand quỉ quyệt chẳng nói có cũng chẳng nói không và lúc nào cũng tưởng mình bị hớ khi trả lời thẳng vào câu người ta hỏi. Tuy nhiên, cho rằng mình đã hiểu là phải đi theo con đường thẳng, D’Artagnan lại lên đường theo lời chỉ dẫn mập mờ ấy. Chín giờ sáng anh đến Nanteuil và dừng ở đó để ăn sáng.


Lần này chủ quán là một người Picard thật thà tốt bụng, lại nhận ra Planchet là người đồng hương, nen anh cần hỏi gì là bác ta chỉ dẫn rất dễ dàng. Lãnh địa Bracieux ở cách Villers-Cotterêts, anh đã hai ba lần đi theo triều đình đến đó, vì hồi ấy đây là một nơi nhà vua ngự. Anh liền đi tới thị trấn ấy và vào cái quán anh thường nghỉ tức là quán Cá Heo Vàng.


Những tin tức thu lượm được ở đây là đáng hài lòng nhất. Anh được biết ấp Bracieux ở cách thị trấn bốn dặm, nhưng không phải tìm Porthos ở đấy. Đúng là Porthos có những chuyện kiện cáo với ông linh mục ở Noyon về khoảnh đất Pierrefonds giáp giới đất của anh, và bực bội rầy rà về cái mớ tố tụng tư pháp mà anh chẳng am hiểu tí gì, để chấm dứt, anh đã mua phăng đất Pierrefonds, thành thử anh đã điền them cái tên mới ấy vào những tên cũ của mình. Bây giờ tên anh gọi là Du Vallon de Bracieux de Pierrefonds và anh ở tại điền sản mới của mình. Không có danh tiếng nào khác, rõ ràng anh đang nhằm danh tiếng của hầu tước De Carabas.


Còn phải đợi đến hôm sau, vì ngựa đã mệt sau một cuốc mười dặm trong ngày. Kể ra cũng có thể lấy ngựa khác, nhưng phải xuyên qua cả một cánh rừng lớn, mà Planchet, ta còn nhớ, chẳng thích thú gì những cánh rừng đêm tối.


Còn một điều nữa Planchet không thích là lên đường khi bụng đói: cho nên khi tỉnh dậy D’Artagnan đã thấy bữa ăn sáng dọn sẵn sàng. Không có cách gì để phàn nàn về một sự chu đáo như vậy, cho nên D’Artagnan ngồi vào bàn chén. Chẳng cần phải nói cũng biết Planchet khi đã nhận lại chức trách cũ thì cũng nhận lại tính khiêm nhường cũ và ăn thừa các thức ăn của D’Artagnan cũng chẳng xấu hổ gì hơn bà De Motteville và bà De Fargis khi dùng các thức ăn thừa của Anne d’Autriche.


Như vậy là không thể khởi hành vào quãng tám giờ. Không còn sợ nhầm lẫn, phải theo đường từ Villers-Cotterêts đi Compiègne và khi ra khỏi rừng thì rẽ bên phải. Buổi sáng mùa xuân đẹp trời, chim hót trên những cây đại cổ thụ, những chùm nắng xuyên qua các khoảnh rừng giống như những tấm màn kim tuyến lóng lánh.


Ở những quãng khác, ánh sáng khó khăn lắm mới lọt qua vòm lá rậm rạp, và mấy chú sóc khi trông thấy người liền thoăn thoắt chuyền dưới những gốc cây sến già vẫn chìm trong bóng tối. Thiên nhiên vào buổi sớm ấy đã toát ra hương thơm ngạt ngào của cỏ cây hoa lá làm khoan khoái lòng người. Chán ngán cái mui vị uế tạp của Paris, D’Artagnan tự nhủ rằng, khi mang ba cái tên đất đai xuyên tiếp vào nhau như que chả, chắc hẳn người ta phải sướng điên trong một thiên đường như thế, rồi anh lắc đầu nói: “Ví phỏng ta là Porthos và D’Artagnan đến nói với ta lời đề nghị mà ta sắp nêu ra với Porthos thì ta chưa biết ta sẽ trả lời D’Artagnan như thế nào”.


Còn Planchet chẳng hề suy nghĩ gì hết, anh đang để cái dạ dày tiêu hóa.


Ra đến ven rừng, D’Artagnan trông thay con đường mà người ta đã chỉ dẫn cho và những ngọn tháp của một tòa lâu đài lãnh địa đồ sộ nằm tại cuối đường.


– A, a! – Anh lẩm bẩm. – Hình như tòa lâu đài này thuộc về dòng họ Orléans xưa; liệu Porthos có điều đình với quận công De Longueville không?


– Ông ơi, – Planchet nói, – thực tình đây là những đất đai rất tốt; và nếu nó thuộc về ông Porthos thì tôi sẽ chúc mừng ông ấy mới được.


– Gớm nhỉ? – D’Artagnan bảo, – cậu chớ có gọi Porthos, gọi Du Vallon cũng không được, phải gọi ông ấy là De Bracieux hoặc De Pierrefonds. Nếu không cậu sẽ làm hỏng chuyện đi sứ của tôi đấy.


Tòa lâu đài thoạt tiên thu hút cặp mắt anh, nhưng đến gần, anh mới hiểu ra là bạn anh không thể ở đấy được, các tháp mặc dầu vững chắc và trông như mới xây, hở toang hoác như bị mổ bụng. Trông như một người khổng lồ nào đó đã băm chém chúng bằng những nhát rìu.


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009 (sắp phát hành).







[1]               Thời gian qua không trở lại. (Tiếng Latin)




[2]               Ngược lại. (Tiếng Latin)



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »