tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29445673
Lý luận phê bình văn học
24.04.2009
Nguyễn Hữu Sơn
Nguyễn Húc và Cưu đài thi tập

Trong suốt mấy chục năm qua, nhiều bộ sách khảo cứu lược truyện tác gia, tìm hiểu kho sách Hán Nôm, thư mục đề yếu Hán Nôm, từ điển văn học, từ điển bách khoa cùng các bộ hợp tuyển, tuyển tập thơ văn và văn học sử đều mặc nhiên ghi nhận tác gia Nguyễn Húc (thế kỷ XV) có Cưu đài tập (Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, A. 2132)(1) và thêm 6 bài thơ được Lê Quý Đôn chép trong Toàn Việt thi lục(2). Với ít nhiều dè dặt: "Điều đáng ngạc nhiên là âm hưởng cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh lại hầu như vắng bóng trong Cưu đài thi tập, thảng hoặc chỉ là những suy tư bất chợt về một thời ly loạn . Phải chăng có thể lý giải hiện tượng này. Theo một vài nguồn tư liệu chưa được kiểm chứng chắc chắn . Mới đọc qua các bài thơ có cảm tưởng như Nguyễn Húc đi bên lề các sự kiện lịch sử lớn lao của đất nước", chúng tôi từng viết cả một tiểu luận với nhan đề Nguyễn Húc và Cưu đài thi tập(3)... Rất tiếc văn bản chữ Hán Cưu đài thi tập nêu trên lại là ngụy tạo, có lẽ do một ai đó đã mạo chép rồi bán cho Trường Viễn Đông bác cổ Pháp vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX...


Trên thực tế, các nguồn thư tịch cổ như Trích diễm thi tập, Toàn Việt thi lục, Hoàng Việt thi tuyển, Lịch triều hiến chương loại chí… thường xếp Nguyễn Húc chung một chiếu với các thi gia thời Thánh Tông Lê Tư Thành (1442-1497). Sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn (1726-1784), dựa vào Trích diễm thi tập của Hoàng Đức Lương (Thế kỷ XV), ghi tên Nguyễn Húc sau Lê Thiếu Dĩnh và Nguyễn Thiên Tích, tức Vĩnh Tích (đầu thế kỷ XV), Phùng Thạch, Doãn Hành, Vương Sư Bá, Trần Khản, Vũ Quỳnh (Thế kỷ XV-XVI), và nói rõ thi tập của các tác gia này, trong đó có Cưu đài thi tập của Nguyễn Húc, “nay đều đã thất truyền” (kim giai thất truyền). Tuy nhiên, đến nay đã có thể xác định được tương đối chính xác chân dung tác gia Nguyễn Húc, còn gọi Nguyễn Đình Húc, tự Di Tân, hiệu Cúc Trai, người thôn Kệ Sơn, tổng Thượng Chiếu, huyện Đông Triều, phủ Kinh Môn, trấn Hải Dương (nay là thôn Cậy Sơn, xã Hoành Sơn, huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương). Về hoạt động xã hội, chỉ biết ông từng làm quan đến chức Tri phủ nhưng không thật rõ ở đâu và cụ thể dưới triều vua nào(4). Trên phương diện sáng tác, ngoại trừ toàn bộ văn bản ngụy tạo Cưu đài thi tập nói trên đã được Phạm Văn Anh giải mã và dựa vào các nguồn thư tịch cổ để xác định Nguyễn Húc chỉ có sáu bài thơ tứ tuyệt còn lại đến ngày nay: Du Trung Nghĩa am (Du ngoạn am Trung Nghĩa), Sơn thôn khiển hoài (Nỗi ưu hoài nơi xóm núi), Nguyệt Sơn kiều dạ bạc (Đêm đỗ thuyền bên cầu Nguyệt Sơn), Ký Nam Hoa xử sĩ (Gửi Nam Hoa xử sĩ), Nguyên nhật du Triệu Khánh tự  (Mồng một Tết đi thăm chùa Triệu Khánh) và bài Chu quá Cầu Quan cảng (Thuyền qua bến Cầu Quan)(5).


Thực tế cho thấy Nguyễn Húc đã sống vào khoảng nửa đầu thế kỷ XV - một giai đoạn có tính bản lề của cuộc chuyển giao thời đại từ hệ tư tưởng Phật giáo Lý - Trần (và vãn Trần)(6) tới những thập kỷ đặt nền móng cho sự thắng thế của Nho giáo đồng thời cùng với sự ra đời triều hậu Lê. Gắn liền với bước chuyển giao này là sự kiện nhà Minh thôn tính nước Đại Việt trong khoảng suốt hai mươi năm (1407-1427) với chính sách đồng hoá văn hoá hết sức hà khắc đã tạo nên những biến động sâu sắc trong tiến trình phát triển chung của lịch sử. Như một xu thế và hệ quả tất yếu, hơn bao giờ hết, đối trọng lại với chính sách đồng hoá của nhà Minh, ý thức dân tộc của nhân dân Đại Việt đã lên cao chưa từng thấy và hội đủ sức mạnh đánh bại mọi âm mưu kẻ xâm lược. Sống trong một thời đại đầy thử thách như thế, chắc chắn Nguyễn Húc không thể không nhìn ra bi kịch dân tộc, không có mối liên hệ nào với cuộc đấu tranh giành độc lập đang diễn ra hết sức sôi động. Điều đáng ngạc nhiên là âm hưởng cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Minh lại hầu như vắng lặng trong cả sáu bài thơ hiện còn. Chiếm phần chủ yếu trong cảm hứng sáng tác của Nguyễn Húc trong những bài thơ này là tình núi sông mây bay gió thổi, con người chan hoà cùng thiên nhiên và cuộc sống thanh bình, ít nhiều thấm đượm tâm sự và phong vị kiểu nhà nho ẩn dật. Khác với tiếng thơ nhiều tác gia đương thời như Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Tấn hay Đỗ Cận, Đàm Văn Lễ,... có thể nói chính nguồn cảm hứng này lại tạo nên một giá trị mới mẻ, một tiếng nói thơ ca giàu âm điệu trữ tình, giàu sắc thái con người cá nhân đời thường, khác biệt với dòng chảy thơ ca chiến trận yêu nước đương thời. Có thể khẳng định thêm rằng, chỉ với sáu bài thơ tứ tuyệt còn lại nhưng Nguyễn Húc đã xác lập được một mảng đề tài riêng, một nguồn cảm hứng in đậm sắc thái đời thường thanh bình và giữ một vị trí không thể thay thế trong đời sống thi ca đương thời.


Nhìn nhận trên phương diện nội dung, thơ Nguyễn Húc tập trung khắc họa vẻ đẹp thiên nhiên và những cảm nhận về thời gian, về sự biến chuyển xuân qua thu tới hay diễn tả những suy tư cá nhân trong một lần đến thăm cảnh chùa, một buổi sớm mai, một bóng chiều tà, một đêm trăng cô lẻ... Trong niềm vui hoà đồng cùng thiên nhiên thanh sạch, dường như Nguyễn Húc thường đặt mình trong tư cách một cư sĩ, một đệ tử mến chuộng cảnh chùa và thân thuộc với sư tăng. Đến thăm chùa, ông thấy vui với cảnh mùa xuân và nhớ về nhà sư như một người bạn trong cuộc đời thường nhật:


Tam phân thi tứ nhất phân xuân,


Túy ngã quang phong tễ nguyệt xuân.


Khứ tuế bạn tăng đồng thắng thưởng,


Ư kim thảo hựu lục như nhân.


(Nguyên nhật du Triệu Khánh sơn)


(Ba phần thi tứ một phần xuân,


Khiến cho ta say sưa với trời xuân khi mưa qua trăng sáng.


Năm ngoái cùng làm bạn với nhà sư để thưởng thức phong cảnh,


Năm nay cỏ lại xanh mướt như tấm thảm)


(Mồng một Tết đi thăm chùa Triệu Khánh)


Dịch thơ:


Ba phần thi tứ một phần xuân,


Khiến lão say sưa cảnh tuyệt trần.


Năm trước cùng sư đi thưởng lãm,


Năm nay cỏ mượt vẻ thanh tân(7).


Trong một buổi chiều tà, Nguyễn Húc vui trong việc gặp nhà sư, cảm nhận cuộc sống trở nên sinh động trong từng bóng hoa in trên áo và man mác trước cảnh hoàng hôn, khi bóng chim cũng mất hút về phía cánh rừng, nhường chỗ màn đêm dần buông xuống:


Sơn lộ phùng tăng tự hữu kỳ,


Tọa di hoa ảnh thướng nhân y.


Điểu am lâm mậu phi hoàn tảo,


Đới đắc toàn thôn minh sắc quy.


(Du Trung Nghĩa am)


(Gặp nhà sư trên con đường núi tựa như đã có hẹn từ trước,


Lúc ngồi hay đi bóng hoa đều in lên áo.


Chim kia biết rừng rậm rạp nên bay về sớm,


Mang theo bóng tối về phủ lên toàn thôn)


(Du ngoạn am Trung Nghĩa)


Cũng lại trong một chiều, thi nhân bâng khuâng trên cánh đồng lúa vào thu và cảm nhận cuộc đời bình dị:


Lạc điền hòa thử chính biêu biêu,


Mục tống lưu quang lý vãn triều.


Điểm xuyết tân thu ngâm dã sắc,


Hành nhân ẩn ước lộ biên kiều.


(Chu quá Cầu Quan cảng)


(Lúa mùa liền bờ đương khi tươi tốt,


Đưa mắt nhìn nước thủy triều tuôn chảy trong buổi chiều tối.


Ngâm nga giữa cảnh đồng nội điểm xuyết


cảnh mùa thu vừa chớm,


Bên chiếc cầu thấp thoáng bóng người đi)


(Thuyền qua bến Cầu Quan)


Dịch thơ:


Lúa mùa xanh tốt trải bao la,


Mắt dõi dòng trôi lúc xế tà.


Cất tiếng ngâm nga, thu vừa chớm,


Bên cầu thấp thoáng bóng người qua.


Khi khác là cảm giác thanh thản an nhàn của một du khách đang tận hưởng từng giây lát cuộc sống bình yên trên cõi đời và xao xuyến chính vì vẻ đẹp của sự sống, thao thức cùng một ánh trăng, một tiếng sáo thuyền chài:


Dã thôn sơ hiết mộ thiên chung,


Nhàn bạng khê kiều yểm khách bồng.


Dạ khí tiệm thanh hồn bất mị,


Sổ thanh ngư địch nguyệt minh trung.


(Nguyệt Sơn kiều dạ bạc)


(Vừa dừng thuyền bên thôn bỗng nghe tiếng chuông chiều,


Khép cửa sổ thuyền khách, thảnh thơi đậu lại bên chiếc cầu


bắc qua con suối.


Khí trời ban đêm dần mát nhưng không sao ngủ được,


Mấy tiếng sáo nhà chài vang lên trong đêm trăng sáng)


(Đêm đỗ thuyền bên cầu Nguyệt Sơn)


Trong tư cách một người thoát tục, Nguyễn Húc đồng cảm với lối sống ẩn dật, khắc họa sắc nét hình ảnh một ngôi nhà cỏ, một tiếng đàn cô quạnh, một bóng hoa đào và tất cả khuất lấp trong làn mây trắng hư ảo:


Mao hiên trúc hạm bạng yên sầm,


Hàn vận thanh linh động để cầm.


Viễn tập u nhân kham mịch xứ,


Bích đào hoa hạ bạch vân thâm.


(Ký Nam Hoa xử sĩ)


(Hiên cỏ tranh, lan can bằng tre bên núi tỏa khói,


Tiếng đàn dưới động vang lên thanh âm lạnh lẽo và trong trẻo.


Lùa vào con người u nhàn từ nơi xa tìm đến,


Dưới hoa bích đào mây trắng dày đặc)


(Gửi Nam Hoa xử sĩ)


Nhất quán với chí hướng và lối sống nhàn dật, thi nhân thăng hoa trong cảm xúc để thấy mặt ao chứa đựng cả bầu trời và làn sóng nước lung linh hư ảo chiếu rọi lên mái hiên. Trong cảm hứng thi vị của bậc "nhàn nhân", Nguyễn Húc đặt mình sống ngoài vòng danh lợi, thậm chí coi nhẹ cả lý tưởng Nho giáo. Ông thấy ngay cả Chu Công, chú Thành Vương nhà Chu, người có công lớn trong việc gây dựng nên cơ nghiệp nhà Chu, tương truyền từng đặt ra lễ nhạc và các thiết chế triều chính, được Khổng Tử ngưỡng mộ, tôn sùng nhưng cũng không thể làm vương vấn tâm chí thi nhân. Trên tất cả, Nguyễn Húc nhập hồn cùng bông hoa sen và làn gió nhẹ:


Nhất kính hàm thiên bán mẫu đường,


Tiểu hiên chẩm điệm thướng ba quang.


Chu Công bất nhập nhàn nhân mộng,


Bạch ngẫu hoa khai xuy vãn lương.


(Sơn thôn khiển hoài)


(Chiếc ao nửa mẫu tựa chiếc gương chứa cả bầu trời,


ánh sáng từ sóng nước hắt lên gối đệm nơi hiên nhỏ.


Chu Công không đi vào giấc mộng của người an nhàn,


Sen trắng nở hoa thổi làn gió mát lúc ngả về chiều)


(Nỗi ưu hoài nơi xóm núi)


Trở đi trở lại trong thơ Nguyễn Húc là hình ảnh những ngôi chùa, những sư tăng quen thuộc. Không phải là điều ngẫu nhiên khi Nguyễn Húc thường nói đến cảnh chùa và môi trường thiên nhiên thôn dã. Cảnh chùa luôn gắn với cảnh quê, cuộc sống và thiên nhiên đồng quê bình dị. Khác với tinh thần Nho giáo vốn mang lý tưởng hành đạo, dấn thân nhập cuộc, riêng Nguyễn Húc lại bộc lộ chí hướng một nhà nho nhàn dật, biết dung hoà trong cảnh thôn quê, biết bâng khuâng với bóng chiều tà, biết vui với cánh đồng lúa vào thu, với tiếng chuông chiều, với ánh trăng, với tiếng sáo đêm khuya... Đặt trong tương quan chung, có thể khẳng định Nguyễn Húc đã góp thêm một tiếng nói thơ ca, bên cạnh những Nguyễn Bảo, Thái Thuận, để hình thành nên dòng thơ làng cảnh có một địa vị thật đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc.


Nguyễn Hữu Sơn


Viện Văn học


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


______________________


(1) Trần Văn Giáp:  - Lược truyện các tác gia Việt Nam, Tập I. Nxb Sử học, H, 1962, tr. 74.


- Tìm hiểu kho sách Hán Nôm Việt Nam, Tập II. Nxb. Khoa học xã hội, H, 1990, tr. 83.


(2) Lê Quý Đôn: Phần Thiên chương, trong sách Kiến văn tiểu lục, Tập II (Phạm Trọng Điềm dịch). Nxb. KHXH, H, 1977, tr. 209.


(3) Nguyễn Hữu Sơn: Nguyễn Húc và Cưu đài thi tập. Tạp chí Văn học, số 10 - 2003, tr. 51-64.


(4) Bùi Duy Tân: Nguyễn Húc, trong sách Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb. Thế giới, H, 2004, tr. 1147-1148.


(5) Phạm Văn Ánh: Về Nguyễn Húc và bộ Cưu đài thi tập hiện còn. Nghiên cứu Văn học, số 2 - 2006, tr.33 - 54.


(6) Trần Quốc Vượng: Xứ Bắc - Huyền Quang - thịnh vãn Trần. Tạp chí Văn học, số 8 - 1996, tr. 23-26. In trong Huyền Quang - Cuộc đời, Thơ và Đạo. Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 2001, tr. 11-20.
             - Xem thêm O. W. Wolters: Khách tha hương trên chính quê mình: Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi viết trong thời kỳ Minh thuộc. Tạp chí Văn học, số 10 - 2002, tr. 36-44.


(7) Hợp tuyển văn học trung đại Việt Nam (Thế kỷ X-XIX), Tập Một (Bùi Duy Tân chủ biên). Tái bản lần thứ nhất. Nxb. Giáo dục, H, 2006, tr.333-335. Các trích dẫn thơ đều theo sách này.


 


 


 


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sóng lừng – Một tác phẩm tốt (Lật lại Hồ sơ vụ tiểu thuyết Sóng lừng - VN. Mafia bị thu hồi năm 1991) - Xuân Thiều 13.09.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 13.09.2019
Ở Việt Nam có Mafia không? - Đỗ Ngọc Thạch 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của Triệu Xuân - Lê Phú Khải 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Đâu là Lời phán xét cuối cùng” - Trần Bảo Hưng 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết "Cõi mê" của Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Cõi mê - Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái - Hoài Anh 12.09.2019
Cuộc sống kinh tế năng động trong “Giấy trắng” - Ngọc Trai 12.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Bình Nguyên Lộc, một nhân sỹ trong làng văn - Võ Phiến 22.08.2019
xem thêm »