tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29968171
Tiểu thuyết
10.04.2009
A. Dumas
Hai mươi năm sau

D’Artagnan mở một cái hòm nhỏ cũ kỹ nằm ở góc buồng đầy những gỉấy tờ liên quan đến đất đai của D’Artagnan, từ hai trăm năm nay giấy tờ ấy hoàn toàn ra khỏi gia đình anh, và anh thốt ra một tiếng kêu mừng rỡ: anh vừa nhận ra một nét chữ to đùng của Porthos và ở dưới có mấy dòng chữ nhỏ li ti do bàn tay khô héo của bà phu nhân xứng đáng của cậu ta viết.


D’Artagnan không buồn đọc chơi lại lá thư, anh biết nó viết gì, anh xem vội địa chỉ.


Địa chỉ là: ở lâu đài du Vallon.


Porthos đã quên béng một chỉ dẫn khác. Trong niềm kiêu hãnh của mình, anh ta tưởng tất cả thiên hạ đều phải biết cái lâu đài mà anh ta đã lấy tên mình đặt cho nó.


“Quỉ bắt cái thằng huênh hoang này! – D’Artagnan nói, – bao giờ nó cũng vẫn thế! Tuy nhiên mình cần bắt đầu từ cậu ta, chắc nó chẳng cần đến tiền nong, nó đã thừa kế tám trăm nghìn livre của ông Coquenard ([1]). Này, đó là người cần nhất mà mình đang thiếu. Athos uống rượu lắm vào chắc đến đần độn người ra rồi. Còn Aramis hẳn đang chìm ngập trong việc cầu nguyện”.


D’Artagnan lại đưa mắt nhìn bức thư của Porthos.


Dưới thư có một dòng tái bút như sau:


“Cùng với chuyến thư này, tôi viết cho Aramis, anh bạn xứng đáng của chúng ta ở tu viện của anh ta”.


“Ở tu viện của anh ta! Ừ, nhưng mà tu viện nào? Có đến hai trăm tu viện ở Paris và ba nghìn tu viện ở nước Pháp. Lại nữa khi vào tu viện cậu ta có thể đoi tên đến ba lần. A! Ví phỏng mình thông thái về thần học và chỉ cần nhớ cái chủ đề các luận án cậu ta tranh cãi rất hay với với ông linh mục Montdidier ở Crèvecoeur và ông tăng viện trưởng dòng Jésuite, mình sẽ biết cau ta thuộc phái nào và từ đó suy ra cậu ta thờ phụng thánh nào. Kể ra nếu mình đến ông giáo chủ, xin ông ta cấp cho một giấy thông hành có thể vào bất cứ tu viện nào, kể cả tu viện các nữ tu sĩ nhỉ! Đó cũng là một y hay và có khi mình sẽ tìm thấy cậu ta ở đấy giống như Achille... Ô, nhưng mà như thế khác gì thú nhận ngay từ đầu sự bất lực của mình, và ngay từ việc đầu tiên mình đã đi đứt trong tâm trí của giáo chủ.


Những quan to chỉ biết ơn khi nào người ta làm cho họ cái việc không có thể. Họ sẽ bảo chúng ta rằng: “Nếu là việc có thể thì tôi tự làm lấy một mình cũng được”. Và những quan to nói phải. Nhưng hãy đợi tí và xem nào. Mình cũng đã nhận mot bức thư của cậu ta, người bạn thân thiết, đúng thế nên cậu ta mới nhờ mình một việc nhỏ và mình đã giúp. À, đúng rồi, nhưng mình đã nhét cái thư ấy vào đâu chứ?


D’Artagnan ngẫm nghĩ một lát, rồi tiến về phía cái mắc áo treo những áo cũ của anh. Anh tìm chiếc áo khoác ngắn của mình dùng năm 1646, và do là một chàng trai có trật tự ngăn nắp, anh thấy nó được móc ở một cái đinh. Anh móc túi áo ra một mảnh giấy; đúng là thư của Aramis. Thư viết:


“Anh D’Artagnan, xin anh biết cho rằng tôi đang có chuyện xích mích với một người quí tộc, hắn đã hẹn tôi chiều nay đến quảng trường Hoàng cung. Vì tôi là một người tu hành và việc ấy có thể hại cho tôi nếu tôi cho người khác biết, ngoài một người bạn thật tin cậy như anh, nên tôi viết cho anh để nhờ anh làm người trợ thủ cho tôi.


Anh sẽ đến đường Neuve-Sainte-Catherine; tới ngọn đèn thứ hai bên phải, anh sẽ thấy địch thủ của anh. Tôi sẽ cùng địch thủ của tôi ở dưới ngọn đèn thứ ba.


Tận tình với anh, Aramis!”


Lần ấy chẳng có đến lời từ biệt. D’Artagnan cố nhớ lại kỷ niệm ấy. Anh đi đến chỗ hẹn, gặp địch thủ như đã dặn và anh chẳng biết tên, tặng hắn một nhát kiếm nên thân vào cánh tay, rồi anh đến chỗ Aramis thì Aramis cũng đã kết thúc cuộc đấu của mình rồi và đang đi đến với anh. Aramis nói:


– Xong rồi, tôi chắc là đã giết chết tên hỗn láo. Nhưng bạn thân mến ơi, nếu anh cần đến tôi thì anh biết rằng tôi hết lòng tận tụy với anh.


Nói xong Aramis bắt tay anh và biến đi dưới những ô cửa tò vò.


Thế là về chỗ ở của Aramis, D’Artagnan cũng chẳng biết rõ hơn chỗ ở của Porthos và Athos. Vấn đề bắt đầu trở nên rối rắm, thì anh nghe như có tiếng một tấm kính ở phòng anh bị đập vỡ. Lập tức anh nghĩ ngay đến túi tiền ở trong bàn và lao ngay vào phòng.


Anh không lầm: lúc anh vào bằng cửa chính thì có một người vào qua cửa sổ.


– A! Tên khốn nạn! – D’Artagnan kêu lên, anh tưởng đó là một kẻ trộm và vớ lấy thanh kiếm.


– Ấy, thưa ông! – Người kia kêu lên. – Lạy trời, xin ông hãy tra kiếm vào bao và chớ giết tôi mà không nghe tôi nói! Tôi không phải là một tên ăn trộm, trái lại, tôi là một thị dân hẳn hoi, có nhà cửa đàng hoàng. Tôi tên là... Ơ này, nếu tôi không lầm thì ông là ông D’Artagnan.


– Còn cậu, Planchet hả! – Viên trung úy kêu lên.


– Để hầu hạ ông, nếu tôi còn làm được, – Planchet mừng quýnh lên nói.


– Có thể lắm, – D’Artagnan đáp, – nhưng mà làm thế quái nào mà cậu lại chạy trên mái nhà vào lúc bảy giờ sáng giữa tiết tháng Giêng này?


– Thưa ông, ông cần biết rằng – Planchet nói, – nhưng xét ra có lẽ ông không nên biết.


– Ô hay, sao thế! Nhưng trước hết hãy đặt một cái khăn trước ô kính và kéo rèm lại.


Planchet vâng lời và khi làm xong, D’Artagnan hỏi:


– Thế nào?


Tên Planchet khôn ngoan đáp:


– Thưa ông, trước hết, ông đối với ông Rochefort thế nào.


– Rất tốt! Sao vậy? Rochefort ư, cậu có biết rằng ông ta bây giờ là một trong những người tốt nhất của tôi không?


– A, càng hay.


– Nhưng giữa Rochefort với cái cách đột nhập vào phòng tôi thì có liên quan gì với nhau hả?


– Ấy đấy thưa ông? Cần phải thưa với ông rằng ông De Rochefort...


– Mẹ kiếp! – D’Artagnan kêu – Tôi thừa biết ông ấy ở ngục Bastille.


– Nghĩa là ông ta đã ở đó, – Planchet đáp.


– Thế nào! Ông ta đã ở đó! – D’Artagnan kêu lên. – Phải chăng ông ta có diễm phúc thoát rồi?


– A, thưa ông, – đến lượt Planchet kêu lên, – nếu ông gọi đó là diễm phúc, thì mọi sự đều ổn, vậy phải nói với ông rằng, hình như hôm qua người ta cho người đến Bastille đem ông Rochefort đi.


– Mẹ kiếp, ta biết thừa, bởi vì chính ta tới kiếm ông ấy.


– Nhưng không phải ông đã đưa ông ta trở lại đó, thật may cho ông; bởi vì nếu tôi nhận ra ông trong đoàn hộ tống thì ông hãy tin rằng bao giờ tôi cũng kính trọng ông quá.


– Nói nốt đi, con khỉ! Nào, thế rồi sao?


– Ấy! Thế rồi khi đến giữa phố Hàng Sắt, nhân xe chở ông Rochefort đi qua một đám dân chúng và bọn lính áp giải hành hạ những người thị dân, thế là người ta ồn ào lên; người tù nghĩ cơ hội thật là thuận tiện, bèn tự xưng tên và kêu cứu. Lúc ấy tôi đang ở đó, tôi nhận ra tên ông bá tước De Rochefort và nhớ rằng chính ông ấy đã cử tôi làm viên đội trong trung đoàn Piémont, tôi bèn nói to lên rằng người tù này là bạn của quận công De Beaufort. Mọi người liền nổi dậy, chặn ngựa lại, đánh tan đoàn áp giải. Trong khi tôi mở cửa xe, ông Rochefort nhảy xuống đất lẫn vào đám đông. Khốn thay khi ấy một đội tuần tra đi qua, chúng hợp với toán vệ sĩ và tấn công chúng tôi. Tôi vừa đánh vừa rút về phía phố Tiquetonne, tôi bị đuổi riết phải trốn vào một nhà ở cạnh nhà này; bọn chúng đã bao vây, sục sạo nhưng uổng công. Tôi đã gặp ở tầng năm một người tốt bụng giấu tôi giữa hai tấm nệm. Tôi đã nằm lại trong chỗ ẩn nấp của tôi, hoặc gan như thế, cho đến sáng, và nghĩ rằng đến chiều họ lại bắt đầu những cuộc lục soát, tôi đánh liều bò lên ống máng, tìm kiếm một lối vào sau đó một lối ra trong một ngôi nhà nào đó không bị canh gác. Câu chuyện của toi là thế đấy và thưa ông, xin lấy danh dự mà thề rằng tôi sẽ rất thất vọng nếu nó làm ông chán tai.


– Không đâu, – D’Artagnan nói, – thực sự tôi rất mừng là Rochefort đã được tự do, nhưng cậu có biết rõ điều này không: nếu cậu rơi vào tay những người của nhà vua, cậu sẽ bị treo cổ không dung tha.


– Mẹ kiếp, tôi biết lắm chứ! – Planchet nói – Đó chính là điều làm cho tôi sợ hết hồn, và đấy, về sau tôi rất mừng khi gặp lại ông; bởi vì nếu ông mà muốn giấu tôi thì chẳng có ai làm việc đó tốt hơn ông.


– Phải, – D’Artagnan nói, – tôi không đòi hỏi gì hơn, dù rằng tôi chỉ phải hy sinh không hơn không kém cái chức vị của tôi, nếu như người ta biết rằng tôi đã cho một tên phiến loạn ẩn náu.


– Ôi, thưa ông, xin ông biết cho rằng tôi có thể liều mạng vì ông.


– Cậu có thể thêm hẳn vào là cậu liều mạng rồi, Planchet ạ. Tôi chỉ quên những điều tôi cần phải quên, nhưng còn đieu này, tôi muốn nhớ lại: Cậu ngồi xuống đây, bình tĩnh mà ăn đi, bởi vì tôi nhận thấy cậu nhìn những món ăn thừa của bữa ăn của tôi với một cái nhìn biểu hiện cảm xúc nhất.


– Vâng, thưa ông, bởi cái tủ buffet của nha bên cạnh rất hiếm của ngọt, và vì trưa hôm qua tôi mới ăn có một lát bánh với mứt. Mặc dầu tôi chẳng chê các của ngọt khi nó đến đúng nơi đúng chốn, tôi thấy bữa ăn tối hơi nhẹ.


– Khổ thân cậu! – D’Artagnan nói. – Bình tâm lại đi.


– Ôi, ông ơi, ông đã cứu mạng tôi hai lần, – Planchet nói.


Rồi anh ta ngồi xuống bàn và ăn nghiến ngấu như những ngày nào ở phố Phu Đào Huyệt.


D’Artagnan tiếp tục đi đi lại lại, anh cố moi trong óc xem có cách nào tận dụng được Planchet trong những tình huống hiện nay của anh. Trong lúc đó Planchet ra sức hoạt động để bù lại những giờ đã mất.


Cuối cùng anh ta trút một hơi thở phào khoan khoái của một người đói lả báo hiệu rằng sau khi được chén một đợt đầu tiên và chắc dạ, anh ta tạm ngừng một chút.


D’Artagnan nghĩ đến lúc bắt đầu cuộc lục vấn, bèn nói:


– Nào, ta hãy tuần tự: cậu có biết Athos ở đâu không.


– Không, ông ạ, – Planchet đáp.


– Của nợ! Cậu có biết Porthos ở đâu không.


– Cũng không.


– Của nợ! Của nợ! Còn Aramis?


– Cũng không nốt.


– Của nợ! Của nợ! Của nợ!


– Nhưng, – Planchet nói với vẻ láu cá, – tôi biết Bazin ở đâu.


– Sao, cậu biết Bazin ở đau à?


– Thưa vâng.


– Thế hắn ở đâu nào?


– Ở Nhà thờ Đức Bà.


– Làm gì ở Nhà thờ Đức Bà?


– Làm phụ thủ.


– Bazin phụ thủ ở Nhà thờ Đức Bà? Cậu chắc chắn như vậy ư?


– Hoàn toàn chắc chắn, tôi đã trông thấy anh ta, tôi đã nói với anh ta.


– Hẳn là hắn ta phải biết chủ hắn ta ở đâu chứ?


– Chắc thế.


D’Artagnan ngẫm nghĩ, rồi lấy áo choàng và thanh kiếm, anh sửa soạn đi ra.


– Ông ơi, – Planchet với vẻ mặt thiểu não nói, – Ông bỏ rơi tôi thế này ư? Xin ông nhớ rằng, tôi chỉ còn hy vọng ở ông thôi.


– Nhưng người ta sẽ chẳng đến đây tìm cậu đâu, – D’Artagnan bảo.


Anh chàng Planchet thận trọng nói:


– Cuối cùng người ta đến, ông nhớ cho rằng đối với những người trong nhà không trông thấy tôi vào, tôi ắt là một kẻ trộm.


– Đúng đấy, – D’Artagnan nói. – Này, thế cậu có nói được một thổ ngữ nào không?


– Tôi còn biết hơn ấy chứ, thưa ông, – Planchet đáp. – Tôi nói một ngôn ngữ, ngôn ngữ Flamant.


– Cậu học nó ở nơi quái quỉ nào thế?


– Ở Artois, nơi tôi đã dự cuộc chiến tranh hai năm. Ông nghe xem: Goeden morgen, mynheer! Itk ben begeeray te weeten the gesond bects omstand.


– Nghĩa là gì?


– Chào ông! Tôi nóng lòng muốn biết tình trạng sức khỏe của ông thế nào?


– Nó gọi đấy là ngôn ngữ! Nhưng không sao! – D’Artagnan nói, – thế mà tuyệt đấy!


D’Artagnan đi ra cửa gọi một thằng hầu và bảo nó mời bà Madeleine xinh đẹp lên.


– Ông ơi, ông làm gì đấy, – Planchet nói, – Ông định trao cái điều bí mật của chúng ta cho một người đàn bà sao?


– Cứ yên tâm, bà ta sẽ chẳng hé nửa lời.


Lúc ấy bà chủ quán vào. Bà tươi cười chạy đến, tưởng rằng sẽ thấy D’Artagnan một mình, nhưng vừa nhác thấy Planchet, bà kinh ngạc lùi lại.


– Bà chủ thân mến của tôi, – D’Artagnan nói, – tôi xin giới thiệu ông anh của bà từ xứ Flandre đến, tôi nhờ ông ấy đến giúp việc tôi mấy ngày.


– Anh tôi! – Bà chủ nói, giọng mỗi lúc một sửng sốt.


– Hãy chào cô em đi, master Peter.


– Vilkom zueter! – Planchet nói.


– Goeden day, broer! – Bà chủ ngạc nhiên đáp lại.


– Câu chuyện là thế này! – D’Artagnan nói. – Ông đây là anh bà, có thể bà không biết. Ông ấy từ Amsterdam đến. Trong khi tôi đi vắng, bà sẽ sắm sửa quần áo cho ông ấy; khi tôi về, nghĩa là độ một giờ nữa, bà sẽ giới thiệu ông ta với tôi và theo sự gửi gắm của bà. Mặc dầu ông ta sẽ chang nói một tiếng Pháp nào, do tôi chẳng có gì từ chối bà, tôi sẽ nhận ông ta vào giúp việc cho tôi, bà hiểu chứ!


– Nghĩa là tôi đoán ra điều ông mong muốn và chỉ cần có vậy, – Madeleine nói.


– Bà là một người phụ nữ quí hóa, bà chủ xinh đẹp của tôi ạ, và tôi tin cậy ở bà.


Nói xong, D’Artagnan làm hiệu riêng với Planchet, rồi ra để đi đến Nhà thờ Đức Bà.


(còn tiếp)


Nguồn: Hai mươi năm sau. Tiểu thuyết của A. Dumas. Anh Vũ dịch. NXB Văn học in lần thứ ba, 2009 (sắp phát hành).


 







[1]     Chồng cũ đã chết của vợ Porthos.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.
79.
80.
81.
82.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 23.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
xem thêm »