tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28856547
Tiểu thuyết
30.09.2008
FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX
Nghìn lẻ một ngày
Lời Giới thiệu

 


HAI ANH EM SINH ĐÔI


Bộ truyện A Rập Nghìn lẻ một đêm và bộ truyện Ba Tư Nghìn lẻ một ngày có thể coi như hai anh em sinh đôi. Không chỉ bởi tên sách và thời gian ra đời của chúng: Mười tập Nghìn lẻ một đêm do nhà Đông phương học Antoine Galland chuyển từ tiếng A Rập sang tiếng Pháp ra mắt bạn đọc từ năm 1704 đến năm 1711 tại Paris- sau khi ông mất, còn ra thêm hai tập nữa. Năm tập của Nghìn lẻ một ngày do một nhà Đông phương lỗi lạc khác là Francois Pétis de La Croix thực hiện từ nguyên bản tiếng Ba Tư, được xuất bản cũng tại Paris từ năm 1710 đến năm 1712.


Cấu trúc hai bộ truyện giống nhau: Có một truyện mở đầu làm khung cảnh để từ đấy nhìn ra một khoảng trời và lung linh muôn vàn vì sao cổ tích, ở đó người trần thế và thần linh chung sống với nhau, thực hư trộn lẫn, trí tưởng tượng bay bổng lên thiên đàng, xuống địa ngục rồi trở về trái đất, bên cạnh nhiều chi tiết huyễn hoặc là cuộc sống thực tại được miêu tả bằng những nét bút tả chân... Truyện mở đầu xác lập vị trí của người dẫn chuyện và ấn định chủ đề. Ở bộ truyện trước: Nghìn lẻ một đêm, một cô gái trinh kể chuyện nhằm làm vui tai một tên bạo chúa. Tên này để trả thù bà hoàng hậu thất tiết, đã quyết định cứ mỗi đêm bắt một cô gái trẻ vào thoả mãn dục vọng rồi sáng hôm sau sai chém đầu ngay, cho người đàn bà ấy không còn có cơ hội ngoại tình nữa. Câu chuyện cô kể do đó bắt buộc phải hấp dẫn, truyện trước mở nút kéo truyện sau nhập cuộc; truyện sau phải hay, phải mới hơn truyện trước; và bao giờ câu chuyện cũng phải ngưng lại nửa chừng ở đoạn gay cấn nhất, để vua bằng lòng chờ đến sáng hôm sau- có nghĩa hoãn bản án tử hình thêm một ngày.


Ở bộ truyện sau: Nghìn lẻ một ngày, một bà vú nuôi theo yêu cầu của một vua cha. Bà tự nguyện làm người kể chuyện hầu nàng công chúa mắc một chứng bệnh điên khùng: ghét đàn ông tới mức bày cách hãm hại những chàng hoàng tử bất hạnh đam mê sắc đẹp của nàng dám cả gan đến ngỏ lời cầu hôn. Bà nhũ mẫu tự đề ra nhiệm vụ: qua các chuyện kể của mình, chứng minh người trần mắt thịt cũng như các vị thần linh có phép màu biến hoá, không thiếu những mối tình chung thủy; không thiếu những chàng trai bất chấp thăng trầm một lòng thủy chung với người tình: "trong đời chỉ nên yêu một lần, song đã yêu thì yêu đến trọn đời". Bà phải kể sao cho chuyện sau hấp dẫn hơn chuyện trước, để nàng công chúa cưng không chán, tiếp tục nghe kỳ đến lúc khỏi bệnh và chịu đi tìm người làm chồng mới thôi.


Các truyện kể trong hai bộ truyện do đó độc lập với nhau, mỗi truyện là một thể hoàn chỉnh song đều có quan hệ chằng chịt, thậm chí có chung một nhân vật chính, được gắn kết lại theo cách móc xích, móc nào cũng có thể coi là móc chính. Hoặc theo lối ngăn kéo: chuyện trước chứa chuyện sau, chuyện sau đựng chuyện sau nữa, cứ thế kéo dài tưởng như vô hồi kỳ trận, cho đến sau một nghìn lẻ một đêm (hoặc một nghìn lẻ một ngày) mới thắt nút lại và kết thúc.


Kết thúc chuyện nào cũng có hậu: ở bộ truyện trên, sau nghìn lẻ một đêm, người kể chuyện sinh hạ cho nhà vua ba hoàng tử xinh như mộng, không những được tha tội chết mà còn được phong làm hoàng hậu. Ở bộ truyện dưới, sau nghìn lẻ một ngày, nàng công chúa điên khùng rời hoàng cung bôn ba đi tìm chàng trai làm mình say đắm- một hoàng tử, đương nhiên- để rồi khi hoàng tử lên nối ngôi cha, sẽ trở thành hoàng hậu.


Hai bộ truyện còn giống nhau ở sự thành công vang dội. Thành công của bộ Nghìn lẻ một đêm, theo các nhà nghiên cứu, chưa từng có ở Pháp hoặc bất kỳ một nước nào trước đó. Trong vòng bảy mươi tám năm, từ khi tập I đến với bạn đọc (năm 1704) cho đến năm 1782, nó được tái bản 70 lần. Từ tiếng Pháp, bộ truyện A Rập được dịch sang hầu hết các ngôn ngữ chính ở châu Âu, đi vòng quanh thế giới, và được dịch trở lại tiếng A Rập. Nó gợi đề tài và cảm hứng cho người đời sau sáng tạo nên nhiều không kể xiết những vở kịch thoại, kịch ca, kịch nhạc, điện ảnh, hội hoạ... lừng danh trên thế giới.


Đề tựa bản dịch hoàn chỉnh xuất bản bằng tiếng Nga, đại văn hào Maxime Gorki đánh giá bộ sách là "di sản tuyệt diệu và đồ sộ nhất của sáng tác truyền khẩu dân gian", là "một công trình dệt gấm bằng từ ngữ, phủ lên trái đất một tấm thảm đẹp lạ lùng". Một điều thú vị nữa, một văn hào khác sáng tác bằng tiếng Tây Ban Nha là Gabriel Marquez, Giải thưởng Nobel về văn chương, trong cuốn đầu bộ hồi ký ba tập mới công bố năm nay (2003) cho biết, cuốn sách tập đọc đầu tiên của cậu bé Gabriel học trường Montessori ở một làng quê mất hút một nơi nào đấy giữa nước Colombia xa xôi bên kia bờ Đại Tây Dương chính là truyện... Nghìn lẻ một đêm.


Thành công của bộ Nghìn lẻ một ngày, ít nhất trong hơn một trăm năm đầu, không mấy kém. Từ tiếng Pháp bộ truyện được dịch ra các tiếng Đức, Anh, Hà Lan, Đan Mạch, Ý, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và... Ba Tư. Thế kỷ 18, riêng ở Pháp, Nghìn lẻ một ngày được tái bản mười tám lần, thế kỷ 19 mười lăm lần... Cũng như Nghìn lẻ một đêm, bộ Nghìn lẻ một ngày được đưa vào giáo trình văn học bậc trung học phổ thông ở Pháp từ thế kỷ 18, và gợi đề tài, cảm hứng cho nhiều bậc tài danh sáng tạo những công trình văn học, nghệ thuật xuất sắc. Chỉ một trường đoạn trong chuyện Hoàng tử Calap và công chúa nước Trung Hoa đã gợi hứng để các tác gia nước Ý sáng tạo nên hai tác phẩm công diễn: kịch nói Turandot của bá tước Gozzi (1720-1806) và nhạc kịch cùng tên của nhạc sĩ tên tuổi Giacomo Puccini (1858-1924). Puccini là tác giả tài hoa về nhiều loại hình âm nhạc: giao hưởng, nhạc thính phòng, nhạc tôn giáo... Ông là người chuyển thể thành công nhiều tác phẩm văn học sang nhạc phẩm, trong đó có Manon Lescaut (1893), La Bohême (1896), Madame Butterfly (1904)... Vẫn như Nghìn lẻ một đêm, bộ Nghìn lẻ một ngày cũng được biên tập để xuất bản cho độc giả trẻ tuổi. Nổi tiếng nhất ở Pháp là bộ sách của Nhà xuất bản Delagrave, Paris, tuy đã lược bớt một số truyện vẫn dày tới 813 trang và 500 minh họa. Truyện nàng Repxima đức hạnh, truyện cuối cùng của bộ Nghìn lẻ một ngày, không rõ từ bao giờ trở thành một câu chuyện dân gian phổ biến nhất tại Thụy Điển.


Bộ Nghìn lẻ một ngày tuy ra đời sau khi bộ Nghìn lẻ một đêm toả sáng chói lọi, vẫn được nhiều nhà văn và học giả đương thời đánh giá cao. Văn hào và triết gia đi tiên phong Thế kỷ Ánh sáng: Voltaire (1694-1778), người mà người ta đồn có lần cho rằng trong số các tác gia lỗi lạc cùng thời với ông như Jean Jacques Rousseau, Diderot, Montesquieu, Bernadin de Saint Pierre... chỉ mỗi một Lesage có thể sánh ngang văn tài của mình, đã đánh giá cao bộ Nghìn lẻ một ngày. Voltaire viết trong bộ Thời đại vua Louis XIV của ông như sau: "... Người ta đọc được của F. Pétis de la Croix Chuyện Thành Cát Tư Hãn Chuyện Tamerlan (tức Timour-I Lang) dựa theo các tác gia cổ người A Rập, cùng nhiều tác phẩm có ích khác; tuy nhiên bản dịch bộ Nghìn lẻ một ngày của ông là cuốn sách có nhiều người đọc hơn cả..." Tại một bài khác, Voltaire lại viết: "Nghìn lẻ Một đêm hay Nghìn lẻ Một ngày đều giống như nhau thôi, đều cùng là Nghìn lẻ Một"- ý nhà văn muốn nói cả hai tác phẩm cùng hấp dẫn, phong phú tuyệt vời không mấy khác nhau.


Tu sĩ J. P.Nicéron (1685-1738), một tác gia chuyên về tiểu sử các nhà văn Pháp thế kỷ 18 bình: "Các truyện trong Nghìn lẻ một đêm do A. Galland dịch thường có nhược điểm là không mấy giống thực tế. Các truyện trong Nghìn lẻ một ngày, do F. P. De la Croix dịch một phần từ tiếng Ba Tư tài tình hơn nhiều và gần thực tại hơn nhiều, tuy không phải sự thần kỳ không ngự trị trong nhiều truyện, đúng như sở thích của những người phương Đông".


R. F. Burton (1821-1890) là dịch giả thành công nhất trong số người dịch bộ Nghìn lẻ một đêm của A. Galland ra tiếng Anh, khẳng định: Nghìn lẻ một ngày trên thực tế là một sáng tác. Trong phần lớn trường hợp, nhiều truyện kể trong bộ ấy là nhứng sáng tác tài tình bắt nguồn từ chỗ vay mượn (các truyện dân gian) rồi diễn tả lại một cách rất tự do".


MỘT VỤ ÁN VĂN CHƯƠNG


Hai bộ truyện sinh đôi ấy, đúng như lời mở đầu câu chuyện nổi tiếng Ali Baba và bốn mươi tên cướp viết, "những tưởng số phận hai người rồi cũng sẽ giống nhau, ai ngờ sự tình xui nên khác". Sau gần hai thế kỷ lừng lẫy không mấy kém người anh, bộ Nghìn lẻ một ngày bị thất sủng trước bạn đọc. Phải chờ cả trăm năm, đến cuối thế kỷ 20, công bằng mới tái lập, Nghìn lẻ một ngày mới có dịp tái xuất giang hồ.


Trong Lời giới thiệu do chính F.P. De la Croix viết năm 1710 và in ở đầu tập I, ông khẳng định bộ sách của mình được dịch từ tác phẩm của tu sĩ Mocles mà ông có dịp giao du năm 1675 khi đang làm việc ở thành phố Ispahan (Ba Tư). Tác phẩm ấy được tu sĩ Mocles dịch từ một bản tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, nhan đề Al-farage bad Al-shida, có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn, mà "Thư viện Hoàng gia của ta (Pháp) cũng có lưu trữ một bản". Tại Lời thưa trước I in đầu tập II và Lời thưa trước II, De La Croix hai lần khẳng định điều ấy. Vấn đề đặt ra đối với người đời sau là có tu sĩ Mocles- tác gia thật hay không (mặc dù tên ông ấy đã được đưa vào bộ Từ điển thư mục thế giới, cổ đại và hiện đại của Michaud /1811-1828), và có thật nguyên bản Niềm vui sau nỗi buồn lưu trữ ở Thư viện Hoàng gia (Paris) hay không.


Ngay từ cuối thế kỷ 18, đã có ý kiên nghi ngờ lời giới thiệu của De La Croix. Trong một chuyến sang Pháp, nhà Đông phương học người áo là J. de Hammer (1774-1856) thân hành đến Thư viện Hoàng gia đào bới. Ông tuyệt nhiên không nhìn thấy nguyên bản Niềm vui sau nỗi buồn của tu sĩ Mocles. Ông đi tới kết luận Lời nói đầu của De la Croix cũng là một "truyện kể". Theo chân ông, nhà Đông phương học người Pháp A. Loiseleur Deslongchamps (1805-1840) cũng cho đấy một "chuyện ngụ ngôn". Người ta còn nhấn mạnh, trong các cuốn sách ghi chép về những chuyến đi của ông sang các nước Trung Á, tuy De La Croix có thuật lại khá chi tiết việc gặp tu sĩ Mocles tại thành phố Ispahan năm 1675, và sau đấy giữa hai người có mối quan hệ thầy trò, song tuyệt nhiên trong nhật ký ông không đả động đến bộ sách Hezaryec (Nghìn lẻ một ngày) mà ông nói "được tu sĩ cho phép sao giữ một bản". Rõ ràng người làm nên bộ truyện Nghìn lẻ một ngày không phải tu sĩ Ba Tư Mocles mà chính là nhà Đông phương học người Pháp F. P. De la Croix.


Câu chuyện trở thành một vụ án văn chương. F.P. De la Croix bị các nhà nghiên cứu văn học cổ đại phê phán nặng nề về sự không trung thực. Lý do? Chắc hẳn, như lời nhà nghiên cứu J.A.S. Collin de Plancy nói trong lời nói đầu bộ Nghìn lẻ một ngày tái bản năm 1826, "De la Croix sợ nếu nói thật mình là tác giả, có thể ảnh hưởng đến thành công của các truyện kể trước bạn đọc, vì người Pháp xưa nay vẫn chuộng các bản dịch từ tiếng nước ngoài hơn các kiệt tác của nước mình".


Tuy nhiên, ngay thời bấy giờ, đã có không ít người lên tiếng bênh vực De La Croix, khẳng định giá trị độc đáo của bộ Nghìn lẻ một ngày. Nhà văn La Harpe, trong cuốn Giáo trình văn học cổ đại và hiện đại (xin lưu ý: Giáo trình) đánh giá đúng mực: "Các truyện kể Ba Tư trong Nghìn lẻ một ngày có cơ sở vững chãi hơn các truyện trong Nghìn lẻ một đêm. Chủ đề chính là thuyết phục một nàng công chúa từ chỗ nặng định kiến về đàn ông, đi đến tin rằng trong giới mày râu chẳng thiếu gì người yêu chung thủy (...) Chúng ta cùng biết ơn Antoine Galland và Pétis de La Croix- biết ơn thật sự hai ông đã có công giới thiệu với chúng ta các truyện kể A Rập và truyện kể Ba Tư. Antoine Galland viết văn cẩu thả, Pétis de La Croix viết chuẩn mực hơn, văn cả hai ông đều rất tự nhiên". Nhà nghiên cứu Collin de Plancy còn dứt khoát hơn: "Dù thế nào, nếu lòng biết ơn của chúng ta đối với Pétis de La Croix với tư cách nhà dịch thuật có kém đi (sau khi phát hiện đấy không phải là một bộ truyện dịch), thì chúng ta càng biết ơn ông nhiều hơn với tư cách nhà sáng tác. Quang vinh của ông vì vậy chẳng giảm chút nào".


Ngày nay, sau bao công trình nghiên cứu, nhà Đông phương học Pal Sebag đã có đủ cơ sở để khẳng định: phần lớn các truyện kể trong bộ Nghìn lẻ một ngày dựa vào bản cuốn sách viết tay bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ nhan đề Al-Faraj bad al-shidda có nghĩa Niềm vui sau nỗi buồn. Đây là một tập gồm bốn mươi truyện kể, dịch từ tiếng Ba Tư sang. Những bản viết tay ấy, vào cuối thế kỷ XVII có ở Thư viện Hoàng gia Pháp, và De la Croix có thể tìm đọc bộ sách ở đấy.


Ngày nay, sau tròn ba thế kỷ, có lẽ đến lúc có thể quả quyết như Paul Sebag: "Bộ sách Nghìn lẻ một ngày là một công trình hoàn hảo nhất của nghệ thuật kể chuyện theo phong cách thế kỷ 18... Độc giả nào chưa đọc bộ sách ấy, chưa thể nói mình đã thông hiểu mọi tuyệt tác của nền văn học nước nhà". Gần đây, trên nguyệt san Thế giới ngoại giao số ra tháng 10-2003 vừa qua, nhà phê bình văn học Pierre Lepape viết: "Phải chăng thời điểm của Nghìn lẻ một ngày cuối cùng đã trở lại? Có phải cuối cùng người ta thôi không coi F.P. De La Croix như một người làm đồ giả về tác phẩm hư cấu nữa, mà đánh giá ông thật sự là một nhà bác học dành thời giờ sáng tác trong những giờ thư giãn? Bộ sách ấy xứng đáng giành lại chỗ nó đã có đúng như vào thời cuối triều đại vua Louis XIV, sát cánh bên bộ Nghìn lẻ một đêm của A. Galland. Ông này so với De La Croix có thể là nhà phiên dịch trung thành hơn, song lại là nhà văn không được trau chuốt bằng".


Về dung lượng, bộ Nghìn lẻ một ngày dài chỉ bằng một nửa người anh sinh đôi của nó: Nghìn lẻ một đêm. Có phải nguồn truyện cổ Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ không phong phú bằng nguồn truyện cổ A Rập? Hay nhà Đông phương học của chúng ta cạn tư liệu? Các nhà nghiên cứu về F.P. De la Croix vừa phát hiện thêm một chi tiết thú vị. Tại Lời thưa trước I, tác giả cho biết "mặc dù bận trăm công nghìn việc khác, người dịch vẫn tiếp tục công việc của mình vào những giờ phút rỗi rãi, và hy vọng sẽ cung cấp cho người đọc mỗi tháng một tập Nghìn lẻ một ngày". Hoá ra, ngoài hiệu ứng của thành công vang dội của bộ Nghìn lẻ một đêm, còn có một động lực cá nhân khác nữa thôi thúc De la Croix cố dành những giờ phút rỗi rãi để làm bộ sách, là nhằm mua vui cho một "người đọc" hào hoa: nàng Marie-Adélaide de Savoie1, quận chúa xứ Bourgogne. Vẫn nhà nghiên cứu Paul Sebag cung cấp cho chúng ta tư liệu mới. Ông viết trong phần Cuộc đời và tác phẩm của F.P.De la Croix:


"1710-1712. Xuất bản bộ Nghìn lẻ một ngày, truyện kể Ba Tư do F.P. De la Croix dịch ra tiếng Pháp, Paris 1710-1712, năm tập. Căn cứ và một tư liệu chúng tôi vừa phát hiện, hoá ra De la Croix biên soạn bộ sách ấy vào những giờ rỗi rãi của ông, nhằm giải trí cho Marie-Adélaide de Savoie, quận chúa xứ Bourgogne, và chính "sự qua đời của nàng quận chúa ấy" mất vì bệnh ngày 12 tháng 2 năm 1712 ở tuổi hai mươi sáu, đã khiến tác giả ngưng một công trình đáng ra còn có thể "đi xa hơn nữa" (Theo tư liệu lưu trữ tại Thư viện L'Arsenal, Paris2, hồ sơ 5495, tập 75).


"4-12-1713. F.P. De la Croix, bị kiệt lực sớm vì làm việc quá sức, mất tại Paris và được an táng trong khuôn viên nhà thờ Saint Sulpitre. Báo La Gazette de Paris đưa tin về sự qua đời của nhà Đông phương học như sau: Ngài Francois Pétis de La Croix, thư ký- phiên dịch của nhà vua và giáo sư ngôn ngữ và văn chương A Rập tại Đại học hoàng gia, một người có năng lực phi thường và rất đáng tin cậy về các ngôn ngữ : A Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Armêni, vừa qua đời ngay 4-12, thọ sáu mươi tuổi.


"Ông để lại trong tình trạng bản viết tay một số lượng rất đáng ngạc nhiên nhiều tác phẩm dịch từ tiếng A Rập, Thổ Nhĩ Kỳ, Ba Tư và Armêni, nhiều từ điển song ngữ và sách bình chú về nhiều chủ đề khác nhau, con trai ông, Alexandre Louis Marie và linh mục Goujat, trong hai công trình tiến hành độc lập, đã thống kê và bổ sung đầy đủ".


NHÀ ĐÔNG PHƯƠNG HỌC LỖI LẠC


Francois Pétis De la Croix là người cùng thời với Antoine Galland, kém ông này bảy tuổi nhưng lại ra đi trước hai năm, người ta bảo do kiệt sức vì làm việc quá nhiều. Khi ông mất, Antoine Galland ghi vào Nhật ký của mình: "Sáng nay (ngày 9-12-1713), đọc báo La Gazette, tôi mới hay tin ông Francois Pétis de La Croix, thư ký- phiên dịch của Nhà Vua về ba thứ tiếng phương Đông: A Rập, Ba Tư và Thổ Nhĩ Kỳ, giáo sư Đại học Hoàng gia môn ngôn ngữ A Rập, đồng nghiệp của tôi, đã qua đời ngày 4 tháng này, thọ sáu mươi tuổi. Cho đến nay, chưa có một người châu Âu nào nắm vững cả ba ngôn ngữ ấy hoàn hảo như ông, không chỉ trong việc dịch xuôi hay nói chuyện mà cả trong sáng tác. Ngoài ba thứ tiếng ấy, gần đây do nhu cầu của Triều đình có một số văn bản tiếng Armêni cần dịch (ra tiếng Pháp), ông còn học và thông thạo thêm tiếng Armêni. Ông để lại nhiều tác phẩm dịch từ tiếng A Rập và tiếng Ba Tư, đặc biệt cuốn Cuộc đời Tamerlan, nguyên tác tiếng Ba Tư của Sherfeddin, mà ông vừa chỉnh lý lại để đưa in".


De la Croix là một trong những người châu Âu đi tiên phong trong môn Đông phương học. Ông sinh năm 1653, con trai một viên chức làm thư ký và phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ và A Rập. Ngay từ nhỏ, cậu Francois đã được quan tâm đào tạo nhằm nối nghiệp cha sau này. Cậu không chỉ học các ngôn ngữ phương Đông, mà còn tỏ ra xuất sắc các môn toán, thiên văn, địa lý, hội họa và âm nhạc. Chưa đến mười bảy tuổi, ông đã được Colbert hồi bấy giờ là thủ tướng của vua Louis XIV (còn được người đương thời tôn vinh là Ông vua toả sáng như Mặt trời) gửi sang Trung Đông để bổ tức về ngôn ngữ, văn học, nghiên cứu phong tục tập quán cũng như các môn khoa học, nghệ thuật và tôn giáo các dân tộc phương đông.


Trong suốt mười năm, từ 1670 đến 1680, chàng thanh niên chu du qua các nước Xyri, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ, lưu trú một thời gian dài tại các thành phố Alep, Ispahan và Constantinop (nay là Istanbun) để học thêm ngôn ngữ văn học cũng như khẩu ngữ của người A Rập, người Ba Tư và người Thổ Nhĩ Kỳ. Thời gian lưu học ở Alep, mặc dù chưa đến hai mươi tuổi ông đã viết trực tiếp bằng tiếng A Rập một cuốn sách về tiểu sử vua Louis XIV và chiến dịch đánh Hà Lan do nhà vua ấy tiến hành. Khi nước Pháp lần đầu thiết lập quan hệ ngoại giao với đế quốc Ôtôman và cử đại sứ đặc mệnh toàn quyền đến Thổ Nhĩ Kỳ, De La Croix làm trợ lý cho hai đại sứ liên tiếp.


Đọc các nhật ký và ghi chép ông để lại, người ta thấy ông đã đặt chân đến nhiều thành phố và vùng nông thôn sau này sẽ được nhà văn miêu tả khá chân thực sinh hoạt của người dân trong bộ Nghìn lẻ một ngày. Có thể kể: Alep, Batđa, Điabêkia, Muxen (hoặc Muxun), Ispahan, Constantinop, Smiêc, Livuanơ, rồi thời gian sau Maroc, Algiê, Cairo... Là người ham mê sưu tầm sách cổ Đông phương, ông mang về làm giàu cho Thư viện Hoàng gia Pháp rất nhiều bản sách in và sách chép tay bằng tiếng A Rập, Ba Tư hoặc Thổ Nhĩ Kỳ.


Sau đây là một đoạn nhật ký của chàng trai hiếu học về cuộc gặp gỡ tu sĩ Mocles ở Ispahan- Mocles là người gần bốn mươi năm sau được ông giới thiệu với độc giả Pháp là tác giả bộ Nghìn lẻ một ngày bằng tiếng Ba Tư: "Thời gian này tôi còn phải học thêm một cuốn sách rất khó về thần học nhan đề là Mesnevi gồm ít nhất chín vạn câu văn vần. Tôi muốn tìm một người thuộc lòng bộ sách ấy để học, nhưng vì thiếu tiền không thể tìm ra, đành phải xin gặp vị Tu sĩ Bề trên dòng tu Mewlevis. Nhờ một người bạn giới thiệu, tôi được gặp vị tu sĩ ấy. Tôi vừa ngỏ lời chúc tụng xong, ông đã đồng ý cho phép tôi trong khoảng thời gian năm, sáu tháng tới, được nhiều lần gặp ông để ông dạy bảo cho. Tôi học thành công cuốn sách ấy. Vị tu sĩ ấy đâu phải là người sẽ đồng ý nhận tiền công, tôi tặng ông ba cái âu sứ lớn, và được ông vui lòng nhận cho. Tên ông là tu sĩ Mocles. Thời gian này ông đang cùng mười hai môn đệ chuẩn bị sáng lập một giáo phái mới..."


Cuối năm 1680, trở về Paris, De La Croix được cử vào chức vụ làm thư ký phiên dịch cho nhà vua về các ngôn ngữ Trung Đông, mà thân sinh ông vẫn giữ từ trước. Năm 1692, được phong làm giáo sư thực thụ dạy ngôn ngữ và văn học A Rập ở Đại học Hoàng gia, đồng thời vẫn tiếp tục làm thư ký- phiên dịch cho Triều đình. Ông tập trung công sức vào việc trước tác và phiên dịch sách tiếng A Rập, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và Armêni. Ông để lại một thư mục dày dặn về các công trình của mình.


Việc đầu tiên của F.P. De La Croix về trước tác là chỉnh lý và cho xuất bản cuốn Lịch sử Thành cát tư Hãn mà người cha khi qua đời chưa kịp hoàn thành. Sau đấy, xuất bản cuốn Truyện bà hoàng Ba Tư và các vị tể tướng, gồm bốn mươi truyện kể gốc Thổ Nhĩ Kỳ (1707) và bộ Nghìn lẻ một ngày (1710-1712). Sau khi ông qua đời, con trai ông cho xuất bản cuốn Chuyện Timua-Bec (còn gọi là Tamerlan) do ông biên soạn. Thật ra, số lượng những tác phẩm đã được in của De La Croix chẳng nghĩa lý so với toàn bộ các công trình hết sức đồ sộ gồm trước tác, biên dịch, ghi chép, nhật ký... rất cần thiết cho những ai thời ấy muốn đi sâu nghiên cứu phương Đông. Cuối bộ sách Thế kỷ của Louis XIV, phụ lục về Danh mục các nhà văn Pháp dưới triều đại của ông vua ấy, nhà văn và triết gia Voltaire dành cho De La Croix những dòng sau: "Ông là một trong những người được vị thủ tướng vĩ đại Colbert khuyến khích và thưởng công xứng đáng. Vua Louis XIV đã cử ông sang Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư từ năm mười sáu tuổi để học các ngôn ngữ phương Đông. Có mấy ai ngờ ông đã biên soạn một cuốn sách bằng tiếng A Rập được đánh giá rất cao ở phương Đông về cuộc đời vua Louis XIV? Ông còn viết cuốn Lịch sử Thành cát tư HãnLịch sử Tamerlan, dựa trên các tác gia A Rập thời cổ, và nhiều cuốn sách có ích khác. Nhưng bản dịch Nghìn lẻ một ngày là cuốn sách có nhiều người đọc hơn cả. Chẳng là: Con người là băng giá trước sự thật/ Nhưng lại là lửa hồng trước những điều tưởng tượng ra (La Fontaine, IX, 6)"


Sau nhiều chục năm nghiên cứu, nhà Đông phương học Paul Sebag không ngần ngại gọi tác giả Nghìn lẻ một ngày là một nhà bác học.


ĐẠO HỒI, A RẬP, BA TƯ, THỔ NHĨ KỲ...


Người đọc Nghìn lẻ một ngày cũng như Nghìn lẻ một đêm thường gặp những khái niệm lịch sử, địa lý, tôn giáo... Trên thực tế, đất nước của các vị hoàng đế Ba Tư trong truyện không phải nước Ba Tư như chúng ta thường hiểu, càng không đồng nhất với Cộng hoà Hồi giáo Iran ngày nay. Cũng như vậy, nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại chỉ là một phần nhỏ còn lại của đế quốc Ôtôman do các sultan3 ngày xưa trị vì. Và giữa đế quốc Ba Tư huyền thoại và đế quốc Ôtôman Thổ Nhĩ Kỳ có khoảng cách chừng... hai ngàn năm lịch sử.


Ba Tư là một trong những dân tộc và quốc gia cổ nhất hành tinh. Nước Ba Tư thời thượng cổ có một nền văn minh tồn tại gần hai nghìn năm, từ khoảng năm 2500 đến năm 640 trước kỷ nguyên công giáo (quen gọi là công nguyên- C.N.). Đấy là nền văn minh Êlamit, di sản văn hoá lâu đời nhất của người Ba Tư, dù trên thực tế những người tạo dựng nên nền văn minh ấy không phải tổ tiên đích thực của người Iran hiện nay. Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IV trước C.N. là đế quốc Ba Tư của người Mêdet và ngườ Acsênêit. Dưới triều các hoàng đế Xurut và Đariut, đế quốc Ba Tư trải rộng khắp vùng Trung Cận Đông. Phía Nam, từ phần đất dọc bờ nam Địa trung hải, qua toàn bộ lưu vực sông Nin, phần bắc lục địa A Rập, đến vùng Lưỡng Hà, rồi đi dọc theo vịnh Ba Tư đến tận toàn bộ lưu vực sông Inđut của ấn Độ. Phía Bắc từ Maxêđoan thuộc châu Âu, theo bờ nam Hắc Hải tới bờ nam biển Caspi, vươn sang vùng nam biển Aran và đi quá kinh đô Xamacan (nay thuộc Uzbêkistan) rất xa về phía đông.


Với cuộc chinh phục của vua Alêchxan Đại đế, đế quốc Ba Tư bước vào thời kỳ Hi Lạp hoá, chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn minh cổ đại Hy Lap. Dĩ nhiên nền văn minh Hy Lạp gặp sức đối kháng mãnh liệt của người Ba Tư mong muốn trở lại thời hoàng kim của mình thời trước. Đế quốc Ba Tư sau cùng là triều đại các hoàng đế thuộc dòng Xaxanit (từ thế kỷ III đến thế kỷ VI sau C.N.).


Nhà sử học Philippe Gignoux viết về thời kỳ này như sau: "Dưới triều đại của đại đế Xosro Anusiavan (531-579) và cháu ông, đại đế Xosro Paviz (591-628), sự huy hoàng tráng lệ của các triều đình Ba Tư đạt tới đỉnh cao và lưu vào huyền thoại cho đến ngày nay. Hoàng đế Anusiavan là một điển hình nhà vua công minh, hào hiệp theo truyền thống A Rập. Ông duy trì được hoà bình, tiến hành nhiều cuộc cải cách, xây dựng nhiều thành phố. Riêng vùng Xtêsiphon đã là một tổng thể gồm bảy thành phố liên hoàn. Đây là một thời kỳ rực rỡ của văn học và triết học. Giới tăng lữ nắm trong tay toàn bộ nền giáo dục. ảnh hưởng của Hy Lạp về y học, của ấn Độ về văn học rất đậm nét"4.


Với sự ra đời của đạo Hồi do Mahomêt sáng lập và thế kỷ thứ VII, đặc biệt sau các cuộc chinh phục của các Calip (hoàng đế và thống lĩnh tín đồ hồi giáo) kế vị Mahômêt, đế quốc Ba Tư bước vào thời kỳ Hồi giáo hóa. Kinh đô được chuyển sang Batđa nay là thủ đô Irăc. Xuất hiện một nền văn minh mới, hệ quả giao thoa giữa hai nền văn minh lớn: Ba Tư và A Rập (còn có tên Văn minh A Rập- Ba Tư). Chói lọi nhất (và cũng nhiều rối rắm nhất) thời kỳ này là vương triều của hoàng đế Harun-an-Rasit (766-809), một nhân vật lịch sử xuất hiện thường xuyên trong hai bộ Nghìn lẻ một đêm Nghìn lẻ một ngày. Dưới triều đại của ông, kinh thành Batđa được coi như một trung tâm chính trị văn hoá huy hoàng tráng lệ nhất thời bấy giờ.


Đế chế Calip suy đồi và tan rã trước cuộc xâm lược và đô hộ của người Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy nhiên, thế kỷ XI-XII vẫn còn là một thời đại hoàng kim của nước Ba Tư Hồi giáo về chính trị, văn học, triết học, nghệ thuật, kiến trúc... Các cuộc xâm lăng liên tiếp của người Mông Cổ (Thành Cát Tư Hãn), người Timua (Tamerlan), người Tuôcmen... là những biến động cự kỳ lớn, vừa làm xáo trộn vừa làm phong phú thêm nền văn hóa Ba Tư Hồi giáo vốn đã rất đặc sắc.


Đế quốc Ôtôman của người Thổ Nhĩ Kỳ manh nha từ thế kỷ XII, hình thành vào thế kỷ XV và đạt tời cực thịnh và thế kỷ XV-XVI cũng hết sức rộng lớn. Biên giới phía nam của nó trải dài suốt cả vùng Bắc Phi sang tậnn vịnh Ba Tư. Phía bắc, tất cả vùng Lưỡng Hà sang một phần các nước Đông Âu. Qua nhiều bước thăng trầm và đổi thay địa giới, đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ tồn tại mãi đến năm 1923 mới chấm dứt, và thay bằng sự ra đời của nước Thổ Nhĩ Kỳ hiện đại.


Khoảng đầu thế kỷ XVIII, thời Antoine Galland bắt tay dịch bộ Nghìn lẻ một đêm và F.P. De La Croix soạn bộ Nghìn lẻ một ngày, đế quốc Thổ tuy đã qua thời cực thịnh vẫn còn là một lực lượng hùng cường và đầy bí ẩn trước con mắt phương tây. Những truyện có nguồn gốc Thổ Nhĩ Kỳ trong hai bộ truyện nói trên đã hình thành rất sớm, có thể vào thời kỳ sơ khai hoặc cực thịnh của đế quốc Ôtôman.


Đạo Hồi do Mahomêt (còn gọi là Môhamêt hoặc Muhammat 570-632) sáng lập vào thế kỷ thứ VII, và ngày nay ai cũng biết đã trở thành một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới. Mahomêt được người Hồi giáo suy tôn là đấng Đại tiên tri. Nền tảng là đạo Hồi là Kinh Coran, tương truyền đấy là tập hợp những lời giáo huấn của Mahomêt do các môn đệ của ông ghi chép lại. Những lời giáo huấn ấy, bản thân Mahomêt cho rằng được Thượng đế trực tiếp truyền đạt cho ông.


Đặc trưng nổi bật của đạo Hồi là nhất thần giáo (tin rằng chỉ có một Đấng Sáng Thế duy nhất, tiếng A Rập là Alah- Thượng đế tối cao) đối lập với đa thần giáo được lưu truyền rộng rãi hồi bấy giờ. Người theo đạo Hồi phải thề chỉ tin vào Alah và Mahomêt, có bổn phận cầu nguyện hằng ngày, nhịn ăn ban ngày trong tháng Ramadan, ai có điều kiện về kinh tế phải hành hương về thánh địa Mecca nơi sinh ra Đấng đại tiên tri ít nhất một lần trong đời. Theo giáo lý đạo Hồi, phụ nữ không có quyền tự do cá nhân. Đàn bà hoàn toàn phụ thuộc vào đàn ông, trong khi đàn ông có quyền lấy đến bốn vợ chính thức... Những ràng buộc truyền thống ấy càng làm bật rõ những đòi hỏi về "nữ quyền" trong hai bộ truyện, đặc biệt trong bộ Nghìn lẻ một ngày. Nhiều chuyện kể trong hai bộ truyện nói trên ra đời vào thời kỳ đạo Hồi bắt đầu bành trướng mạnh mẽ, dần dần lấn át và thay chân các tôn giáo đa thần đã có cho đến lúc bấy giờ. Rất dễ hiểu tại sao độc giả sẽ có nhiều dịp chứng kiến các phép thần kỳ của Đấng đại tiên tri Mahômêt không ngoài mục đích cổ vũ nhân dân từ bỏ các tín ngưỡng khác và cùng nhau quy theo đạo Hồi. Nhiều nhân vật trong các truyện cổ luôn miệng nhấn mạnh "trên đời chỉ có một đấng tối cao, ấy là Thượng đế" là do vậy. Nói theo ngôn ngữ ngày nay, khuynh hướng "tuyên truyền" cho đạo Hồi rất rõ nét trong nhiều truyện cổ.


CẤU TRÚC NGHÌN LẺ MỘT NGÀY


Như đã nói, bộ Nghìn lẻ một ngày bắt đầu bằng một truyện dẫn. Nàng công chúa nước Casơmia, sau một cơn ác mộng, đâm ra thù hận đàn ông và dứt khoát không chịu lấy chồng. Bà nhũ mẫu Xutlumêmê hằng ngày kể cho nàng nghe nhiều câu chuyện nhằm mục đích chữa cho nàng khỏi sự ám ảnh bởi định kiến sâu sắc. Qua các truyện kể, bà cố thuyết phục nàng công chúa, trên đời không thiếu những người đàn ông hào hiệp và chung thủy, trước sau rồi nàng cũng sẽ gặp được một chàng trai yêu nàng tha thiết, để nàng yêu lại hết lòng, không sợ bị người ấy lừa dối. Chuyện kể từng đoạn, khớp với thời gian nàng công chúa ở trong nhà tắm, và sao cho thật lôi cuốn, dừng lại ở chỗ gay cấn nhất, để những người nghe không bỏ dở chừng. Sau đợt "tâm lý trị liệu" dài suốt một nghìn lẻ một ngày, nàng công chúa đỏng đảnh và tàn nhẫn của chúng ta được giải thoát khỏi cơn trầm uất vô căn cứ, rồi đồng ý kết hôn với chàng hoàng tử trẻ tuổi, đẹp trai nước Ba Tư.


Độc giả không thể không liên hệ công chúa nước Casơmia với tiểu thư Sêhêrazat trong Nghìn lẻ một đêm. Cô gái trẻ ấy buộc phải nghĩ ra những truyện thật hay, thật hấp dẫn để tránh cái chết đang chờ, để được sống thêm một ngày và kể tiếp câu chuyện dang dở. Nỗi lo trước hết cho tính mạng của mình là một động lực kích thích trí tưởng tượng vốn dĩ phong phú của cô gái chưa đến tuổi đôi mươi. Trường hợp bà nhũ mẫu Xutlumêmê có hơi khác. Động lực của bà là tình thương đối với cô con gái bà cho bú từ ngày mới sinh bằng dòng sữa của mình. Bà biết rõ cô gái quá nhạy cảm này chỉ mắc bệnh tâm lý và tinh thần chứ chẳng ốm đau gì về thể chất. Chủ đề mọi câu chuyện kể của bà tập trung vào một cái đích, và cuối cùng phát huy hiệu lực thần kỳ đúng như bà tiên đoán.


Ngay trong Lời tựa của mình, F.P. De la Croix đã so sánh ý đồ của hai người kể chuyện. Ông không mấy thích nàng Sêhêrazat bởi cho nàng kể chuyện nhằm giữ mạng sống của mình hơn tìm cách thuyết phục bạo chúa Saria, giúp ông nhận ra các đức tính của người phụ nữ. Ông nói rõ mình quý bà nhũ mẫu hơn do tính nhân văn đậm đà ở bà. Thật ra, không hoàn toàn như vậy. Tác động của các truyện cổ thông qua những tình tiết phong phú và bất ngờ không nhất thiết lúc nào cũng bộc lộ cho người nghe thấy rõ mục đích bên trong của chuyện. Dù sao, hiệu quả hai người kể chuyện mang lại đều tốt đẹp như nhau. Nhiều nhà nghiên cứu còn chứng minh việc nàng công chúa nước Casơmia qua khỏi cơn stress là có cơ sở y học và lịch sử. Thời trung cổ ở Ba Tư vốn lưu truyền khá rộng rãi cách chữa bệnh bằng tâm lý, từ nền y học cổ truyền Ấn Độ truyền sang.


Cấu trúc của bộ Nghìn lẻ một đêm dường như có phần chặt chẽ và nhất quán hơn bộ Nghìn lẻ một ngày. Các truyện kể xen kẽ nhau rất biến hoá, đưa người nghe từ thành phố Cairo bên bờ sông Nin và kinh đô Batđa bên dòng Tigris trên vùng châu thổ phì nhiêu giữa hai con sông (Lưỡng Hà) ngược lên sa mạc khô cằn Trung Á, sang lục địa Trung Hoa mênh mông và bờ biển Inđônêxia cách trở, có khi xuống tận âm ti. Tựu trung có thể phân thành ba chùm rõ rệt:


Chùm đầu gồm các truyện Abucaxem Basri, Ruvansat và Sêhêristani, tể tướng Caversa, vua Tây Tạng và công chúa Naiman, Culip và Đilara, hoàng tử Fađala, Calap và Turanđoc. Những chuyện ấy xen kẽ vào nhau và sau mỗi truyện những người nghe có cuộc trao đổi về những đức tính cũng như khiếm khuyết của các nhân vật.


Chùm thứ hai có các truyện vua Bêrêtđin-Lôlô và tể tướng, Antamuc và Zêlica, Sêyp-en-Muluc và Bêđy-an-Giêman, Malec và Sirin, Nhà vua không phiền não, Avixen, cùng hai Chuyến phiêu lưu của người du hành vĩ đại Abunphauari. Chùm này xoay quanh ba nhân vật trung tâm; quốc vương Đamat cùng vị tể tướng và quan đại thần tin cẩn của mình. Quây quần chung quanh là nhiều nhân vật khác họ gặp trên đời. Chùm truyện này ngoài ý nhấn mạnh tính thủy chung trong tình yêu, còn có một ý tứ quán xuyến nữa là, người đời chẳng có ai đạt được hạnh phúc lâu dài và trọn vẹn bao giờ.


Chùm thứ ba gồm các truyện hai anh em thần linh Ađi và Đahi, Nerisatđôlê, Abđeraman và Zainep, và truyện nàng Repxima. Chùm truyện này được trình bày dưới dạng mấy nhân vật kể chuyện hầu hoàng đế Harun-an-Rasit và nàng cung phi sủng ái của ông.


Các truyện trong Nghìn lẻ một ngày đều toát lên tính nhất quán về mục tiêu mà tác giả thông qua người dẫn chuyện, bà nhũ mẫu Xutlumêmê, đặt ra từ đầu.


Các câu chuyện được phân ra nhiều ngày, thường ngắt đoạn ở nơi đang hấp dẫn, buộc người nghe phải nín thở chờ "hạ hồi phân giải". Cũng như số đêm trong bộ Nghìn lẻ một đêm còn lâu mới đi đến số nghìn, toàn bộ Nghìn lẻ một ngày chỉ có hai trăm ba mươi hai ngày. Như F.P. De la Croix đã thưa trước và giải thích lý do ở đầu tập cuối cùng của bộ truyện, người kể sẽ từ ngày 190 đột ngột chuyển sang ngày 960, để mọi truyện kịp kết thúc đúng ngày 1001. Cũng có thể suy đoán thêm, nếu De La Croix không "bận trăm công nghìn việc khác" và nhất là không có cái chết khá đột ngột của nàng quận chúa Marie-Adélaide vào cữ hai mươi sáu xuân xanh, tác giả có thể sẽ kéo bộ truyện của mình dài gấp đôi, ít nhất thành mười tập, cho tương ứng người anh sinh đôi Nghìn lẻ một đêm. Điều này người đọc có thể thấy thêm qua việc chia ngày: ở mấy truyện cuối, nội dung được kể trong một ngày ngắn hơn nhiều so với các truyện đầu trong bộ sách.


Còn có một cách lý giải khác. Cụm từ "nghìn lẻ một" xưa kia cũng như ngày nay không phải là một con số cụ thể. Nó là một đại lượng nói lên cái nhiều, cái phong phú, đa dạng, lung linh, huyền ảo... Bởi vậy chớ nên buồn, bắt bẻ người dịch và người viết sao Nghìn lẻ một đêm thực tế chỉ có 252 đêm, và Nghìn lẻ một ngày có 232 ngày mà thôi.


HẠNH PHÚC, NHÂN DUYÊN VÀ ĐỊNH MỆNH


Khác với phần lớn các chuyện cổ tích phổ biến ở phương Tây, nhân vật chính trong truyện thường là trẻ em, hầu hết các nhân vật trong hai bộ Nghìn lẻ một đêmNghìn lẻ một ngày là những chàng trai, cô gái mới bước vào đời. Có thể đấy là nhà vua đầy quyền uy hay thương gia giàu có, công chúa cành vàng lá ngọc hoặc cô thôn nữ thật thà, tất cả đều được trời phú cho trí thông minh, đức hạnh và lòng dũng cảm. Con gái xinh đẹp tuyệt trần, con trai tuấn tú khôi ngô... không mấy ai không chịu trớ trêu của duyên số. Cuộc sống của bất kỳ ai đều là những chuỗi ngày xen kẽ hạnh phúc và ưu phiền.


Bất hạnh đâu có chừa một ai. Quốc vương Timuatat bị quân xâm lược đánh đuổi khỏi bờ cõi. Chàng trai Culup phải trốn khỏi triều đình nơi chàng đang giữ trọng trách bởi bị nhà vua ngờ vực bất công. Công tử Abuncaxem thừa kế một gia tài giàu có là thế, vì tiêu pha hoang phí chẳng bao lâu trở thành người bần cùng. Cậu Haxan bị những người chung vốn làm ăn nửa đêm đang tâm ném xuống biển cả. Người đẹp Đacđanê đang tuổi lớn đã bị người mẹ độc ác bán cho phường buôn nô lệ. Vừa lên ngôi báu thay cha, công chúa Naiman bị một âm mưu thoán đạt gạt khỏi ngai vàng, buộc phải trốn ra nước ngoài. Nàng Repxima đức hạnh nức tiếng gần xa vẫn bị vu oan cho tội ngoại tình đến nỗi bị chôn sống... Như lời nhân vật trong truyện than thở: "Cuộc đời con người khác nào một cây sậy không ngừng bị lay động trước cơn gió phương bắc lạnh buốt".


Hạnh phúc thường đến giữa lúc người ta ít chờ đợi nhất. Truyện nào cũng có hậu. Hoàng tử Calap khôi phục lại đất nước bị xâm lăng thời vua cha trị vì. Chàng Abuncaxem đang phải ăn xin sống qua ngày, bỗng dưng gặp một thương gia rất giàu có nhận làm con nuôi và cho kế thừa toàn bộ gia sản. Chàng Haxan trong cơn tuyệt vọng, dự định tự kết thúc cuộc đời lại phát hiện một kho tàng vô giá ngay ở cành cây cổ thụ chàng buộc dây thắt cổ. Từ thân phận nô tì, nàng Đacđanê trở thành cung phi được sủng ái nhất của hoàng đế Ai Cập. Vào lúc tưởng phải chết tới nơi, công chúa Zêlica được một ông vua hào hiệp cứu sống. Nhờ bị đắm tàu, trôi dạt vào một hòn đảo xa lạ, nàng Repxima oan ức mới trở thành nữ hoàng được ngưỡng vọng của đảo quốc.


Trong đời người, hạnh phúc và hoạn nạn kế tục, xen kẽ vào nhau. Khổ tận cam lai, hết lúc gian nan ngày vui lại đến. Ngược lại, khi hạnh phúc đạt đến cực điểm, hãy coi chừng, tai họa sắp ập xuống đầu anh đấy. Dù gặp gian nan cùng cực đến đâu, con người vẫn không được phép sa vào tuyệt vọng. Hãy tin chắc hết ngày mưa trời lại nắng lên thôi. Quan niệm biện chứng ấy về cuộc sống thường được giải thích dưới góc độ tín ngưỡng: có một đấng tối cao ở đâu đó cầm cân nảy mực, chuyên ban phúc, họa cho con người. Theo những người Hồi giáo, đấng tối cáo ấy không thể ai khác Thánh Alah.


Không khuôn vào riêng cuộc đời trần tục, ngay cả ở thế giới thần linh, không ai tránh khỏi hoạ, không ai chỉ gặp phúc. Và dường như mọi sự đã được xếp đặt trước ở chốn thiên tào. Tương tự câu đầu miệng của người phương Đông: vạn sự giai do tiền định- muôn sự đều định trước cả rồi. Tuy nhiên, dù tin vào định mệnh, người không được buông mình phó mặc định mệnh. Con người phải có lòng dũng cảm, dám nghiến răng vượt qua hoạn nạn trong bất cứ trường hợp nào. Niềm tin giúp con người đứng vững trước sóng gió. Niềm tin ấy dù được nhiều nhân vật trong truyện giải thích là niềm tin vào Thượng đế, vào Đấng tối cao, chúng ta có thể hiểu thực chất đấy chính là niềm tin vào cuộc sống, vào sức vượt khó của chính mình. Ai có niềm tin vào cuộc sống, vào con người, sớm muộn sẽ thoát khỏi tai ương, đi tới hạnh phúc. Chung cuộc, sớm hay muộn người lành được thưởng công, kẻ ác phải đền tội.


Niềm lạc quan đậm tính nhân văn quán xuyến toàn thể Nghìn lẻ một ngày.


TIẾNG SÉT VÀ SÓNG GIÓ TÌNH YÊU


Tình yêu say đắm là chủ đề nổi trội qua bộ Nghìn lẻ một ngày. Tình yêu là nguyên cớ làm nên hạnh phúc hoặc đưa đến gian truân cho các nhân vật chính trong bộ truyện.


Sắc đẹp người phụ nữ thường được tác giả trình bày dưới hai dạng: hoặc miêu tả chi tiết hoặc chỉ khẳng định bằng đôi lời ngắn gọn. Dù dưới dạng nào, sắc đẹp người đàn bà đều có sức hấp dẫn không thể nào cưỡng lại. Tình yêu thường đến bắt chợt, ngay lần gặp gỡ đầu tiên, gây nên tiếng sét ái tình.


Vấn đề thú vị là trong xã hội trung cổ theo đạo Hồi, sự phân biệt nam nữ đạt đỉnh cao, người phụ nữ khi bước ra khỏi nhà hoặc đứng trước mặt đàn ông- trừ trường hợp đấy là cha, chồng hoặc anh em trai của mình- buộc phải luôn luôn đội chiếc khăn xùm xụp trên đầu và mang một tấm mạng dày che mặt, làm sao nàng tạo nên tiếng sét đối với chàng trai? Sự tài tình của dân gian thể hiện qua những tình huống khá bất ngờ. Có những sắc đẹp dữ dội, đưa đến cái chết hoặc điên khùng cho những chàng trai nào chẳng may nhìn thấy: công chúa nước Casơmia bỏ mạng che mặt ra những buổi đi săn bắn; công chúa nước Carim qua những buổi ở sân chơi cầu; cô con gái cưng duy nhất của hoàng đế nước Trung Hoa hấp dẫn bao nhiêu hoàng tử nước ngoài lũ lượt đến Bắc Kinh tự nguyện tìm nguy cơ mất mạng, chỉ thông qua một bức họa truyền thần và lời đồn đại về sắc đẹp cá lặn chim sa của nàng; thậm chí di ảnh một bà vợ của đại đế Xalomon thời thượng cổ làm vẫn một vị hoàng tử trẻ đời sau mê mẩn đến mức bôn ba qua bốn biển năm châu mong tìm gặp cho bằng được.


Tiếng sét ái tình thường hay xảy ra trong tình huống hết sức ngẫu nhiên. Chàng Abuncaxem nhìn thấy dung nhan người đẹp Đilara trong dinh cơ thâm nghiêm của ngài thống đốc nhờ ngọn gió vô tình một lần vén bức rèm che cửa sổ phòng nàng. Cậu hầu phòng Haxan nếu không mải vì buồn rầu mà thơ thẩn quá muộn trong vườn ngự uyển, làm sao gặp được công chúa Zêlica giữa đêm khuya thanh vắng. Quốc vương Narixađôlê đi đến phải lòng nàng Zainep chỉ do tội của ông bạn Abđeraman quá khoe khoang sắc đẹp của người yêu mình.


Để cuốn hút người đọc (hoặc người nghe chuyện), phần còn lại do tài năng người kể chuyện quyết định, nhờ nhiều chi tiết khá bất ngờ. Chàng Malec cậy một chiếc hòm gỗ biết bay để chở chàng đến đáp xuống trên nóc biệt thự nàng công chúa được canh phòng cẩn mật không kém một pháo đài. Hoàng tử Hocmô cải trang thành một cậu giúp việc làm vườn bị bệnh chốc đầu thì mới nhìn thấy mặt công chúa nước Carim. Cũng có những trường hợp "đời thường" hơn, như mua chuộc một cô hầu gái, nhờ một viên hoạn nô mang thư từ trao đổi, cải trang thành đàn bà để thâm nhập nơi cung cấm... Giữa bao nhiêu cô gái, cô nào cũng được tác giả mô tả rất đẹp rất xinh, tưởng không còn ai có thể đẹp xinh hơn nữa, bỗng ngôi sao chính xuất hiện. Và chỉ cần nàng cất tấm mạng che mặt, đủ gây nên tiếng sét ái tình. Tấm mạng che mặt hạn chế quyền tự do của người phụ nữ, nhưng nó lại là công cụ hữu hiệu gây nên cú sốc cho các chàng trai khi người đẹp vô tình hoặc cố ý bỏ mạng ra. Tiếng sét đầu tiên tai hại thật đấy, song dù sao cũng mới gây cú sốc ban đầu. Để cho các chàng trai thật sự mê mẩn, người đẹp còn cần có duyên ngầm, giỏi cách ứng xử, có đức hạnh, đầy thông minh trí tuệ, thậm chí học vấn giỏi giang hơn cả những vị đại học sĩ uyên thâm nhất ở triều đình hoàng đế nước Trung Hoa.


Cuối cùng, cũng như truyện dân gian ở tất cả mọi nơi, tình tiết nàng Kiều tái hồi Kim Trọng không thể nào thiếu. Những người yêu sở dĩ phải trải qua bao gian nan, cách trở ấy là vì duyên số thử thách sự kiên định và lòng chung thủy đối với người mình trót yêu, "trên đời chỉ nên yêu một lần, và đã yêu thì yêu đến trọn đời", như lời khúc hát của nàng Zêlica. Người xưa vốn ưa chuộng các truyện tình kết thúc có hậu.


PHÉP THẦN


Người xưa đều tin có thần linh. Thần linh tồn tại song song với con người, chen vào cuộc sống con người, mang đến cho người bất hạnh hoặc mừng vui. Đấy là đặc điểm của mọi đa thần giáo. Đạo Hồi được xây dựng trên nền tảng nhất thần, chỉ tin vào một Thượng đế tối cao, vẫn chấp nhận mọi thần linh do lịch sử để lại hoặc mới được trí tưởng tượng sáng tạo thêm. Nhưng họ đặt mọi thần linh ác cũng như hiền dưới quyền uy của Đấng tối cao, như thể mọi chư hầu, quan lại ở bất kỳ đâu đâu đều phải chịu quy về khuất phục trước uy vũ một đức hoàng đế độc đoán chuyên quyền.


Thần linh có quyền năng vượt quá sức người trần thế song lại sống không mấy khác con người. Thần linh cũng yêu thương giận ghét, cũng thù hận hoặc biết ơn người khác y hệt người trần. Nàng công chúa thần linh Sêhêristani không thể không phải lòng hoàng tử Ruvansat bởi nhìn thấy chàng cực kỳ tuấn tú khôi ngô. Hai anh em thần linh Ađi và Đahy xấu xí dị hình đấy, vẫn dành mấy trăm năm đi tìm cho bằng được những cô gái dưới tuổi hai mươi chịu yêu thương mình. Người nào đeo chiếc nhẫn có dấu ấn đại đế Xalomon, người ấy sẽ được mọi thần linh tuân lệnh, mọi dã thú sợ hãi và tránh xa. Tuy nhiên, đứng cao hơn tất cả mọi thần là Đấng đại tiên tri Mahômêt của thánh Alah. Thông qua lời cầu nguyện của Đại tiên tri, Thượng đế sẽ bắt bão tố sẽ bất thần nổi lên đúng lúc, hoặc trở lại trời yên biển lặng khi cần.


Bên cạnh thần linh có vai trò các phù thuỷ. Những người này nhờ dày ông tu luyện đã tạo được cho mình quyền năng to lớn. Có phù thủy độc ác thích biến các chàng trai và cô gái thành những con hươu. Lại có những bậc hiền, chỉ lo làm việc thiện, cho phép các con vật bất hạnh ấy lấy lại hình người. Nhờ công phu tu luyện, một tu sĩ già theo đạo Bà La Môn có thể bắt thần linh làm nô lệ hầu hạ mình, hoặc cho một người nhập linh hồn của mình vào một con vật mới chết chưa lâu. Các phép thần là thủ pháp giúp người kể chuyện sáng tạo nên nhiều chi tiết bất ngờ nhất, giúp tác giả gỡ một cách dễ dàng và vui vẻ những cái nút cực kỳ rối rắm trót thắt lại ngay từ đầu. Bao nhiêu câu chuyện diễn ra trong một không gian trải dài từ bờ Địa trung hải tới giữa Thái bình dương, nếu không cậy đến phép thần, làm sao người kể chuyện có thể xử lý theo ý muốn? Và rốt cuộc, cũng như những con người trần thế, thần linh có đẹp có xấu, có thiện có ác; ai làm điều thiện sẽ được trả công, ai gây cái ác sẽ bị trừng phạt.


CUỘC SỐNG THỜI TRUNG CỔ


Ngay tại Lời thưa trước khi trình bạn đọc bộ truyện Nghìn lẻ một ngày, F.P. De La Croix đã nói rõ, ông tự đề ra mục tiêu giới thiệu với độc giả bức tranh sinh động mô tả sinh hoạt người dân Đông phương thời trung cổ. Các "bậc uyên bác" không còn lý do trách nhà Đông phương học "sao lãng phí thời gian làm những chuyện vớ vẩn như thế", bởi các truyện ông kể ra "không chỉ thú vị còn bổ ích". Ông thưa: "Tác giả chủ ý ghi chính xác địa danh những nơi diễn ra sự việc, và qua các câu chuyện, mô tả phong tục, tập quán nhiều dân tộc khác nhau ở châu Á.. Nếu khung cảnh câu chuyện diễn ra tại xứ Tarta, độc giả sẽ nhận thấy người dân ở đây sinh hoạt khác hẳn người sống ở thành phố Batđa hoặc nước Ai Cập. Món ăn, thức uống, trang phục nơi nào đều thể hiện các đặc trưng của từng dân tộc sống nơi ấy".


Người đọc châu Âu ba trăm năm về trước đương nhiên không có nhiều thông tin và kiến thức như con người trong thời đại thông tin ngày nay. Phương Đông hồi ấy trước con mắt họ là một thế giới bí ẩn, chứa đựng bao nhêu chuyện tân kỳ. Mô tả chi tiết và sống động sinh hoạt, phong tục tập quán của các dân tộc châu Á thời xưa là một nhân tố quan trọng góp phần làm nên tính cuốn hút cao và đem lại thành công cho tác phẩm.


Ngay cả thời nay, độc giả Việt Nam chúng ta hẳn thú vị khi nghe một nhân vật trong truyện thuật lại khá chính xác tục mời cau trầu trong các lễ hội lớn thời xưa, hoặc nhấn mạnh màu trắng là màu bắt buộc của y phục mọi người trong lễ tang ở triều đình nước Trung Hoa. Dĩ nhiên chúng ta thú vị khi có dịp biết thêm về những khuôn phép quá gắt gao những người theo đạo Hồi thời trước- và cả ngày nay ở không ít nơi trên thế giới- bắt buộc phải tuân theo. Hoàn toàn có thể khẳng định như tác giả F. P. De La Croix, Nghìn lẻ một ngày không chỉ là một bộ truyện thú vị mà còn bổ ích cho người đọc.


NGHÌN LẺ MỘT NGÀY Ở VIỆT NAM


Số phận của bộ Nghìn lẻ một ngày ở Việt Nam còn hẩm hiu hơn nhiều so với những thăng trầm tác phẩm ấy đã phải trải qua ở Pháp và châu Âu. Theo chúng tôi được biết, dường như đến cuối thế kỷ XX, ở nước ta hầu như chưa có văn bản nào giới thiệu bộ sách ấy, nói chi việc dịch, trong khi Nghìn lẻ một đêm lừng lẫy cả trăm năm. Cách đây một thế kỷ, thời chữ quốc ngữ còn chưa phổ cập lắm, người đọc nước ta đã tiếp cận bộ Nghìn lẻ một đêm qua những bản dịch tóm tắt của Đinh Thái Sơn, ở dạng sách bình dân xuất bản tại Sài Gòn, có nhan đề chung Giạ (dạ) đàm dị sử- Chuyện A Rập một nghìn lẻ một đêm. Hiện nay còn lưu giữ được một số trong 24 tập in hồi ấy (không chắc có thể ra đời đủ con số ghi ở trên). Tiếp sau đấy, có vô vàn bản dịch, lược dịch, tóm tắt, phóng tác... vào những thời kỳ khác nhau xuất bản ở hai mền Nam Bắc.


Bản Việt ngữ đầy đủ nhất dựa trên bản dịch Nghìn lẻ một đêm của Antoine Galland do Phan Quang dịch và giới thiệu, được Nhà xuất bản Văn học trình bạn đọc cả nước năm 1981, cho đến nay qua hơn hai mươi năm, với lần này nữa, đã tái bản mười bảy lần với số lượng in khá lớn. Nghìn lẻ một ngày phải chờ đến đầu thế kỷ XXI mới có dịp đến với bạn đọc Việt Nam. Hy vọng nó sẽ được chào đón không kém người anh sinh đôi của nó.


Bản dịch của chúng tôi dựa vào bản in của Nhà xuất bản Garnier Frères, Paris, 1919, bản này có ghi chú: dựa vào các bản in đầu tiên năm 1710-1712 và bản in lại năm 1729 "tái bản có sửa chữa". (Nhà xuất bản Garnier Frères cũng chính là nhà xuất bản truyền thống của các bộ Nghìn lẻ một đêm từ hơn một trăm năm nay). Đây là bản do nhà Đông phương học Paul Sebag đã dùng làm căn cứ để chỉnh lý và cho xuất bản bộ Nghìn lẻ một ngày do ông nghiên cứu, chú giải năm 1980, Nhà xuất bản Christian Bourgois, Paris; và bản gần đây do Nhà xuất bản Phébus, Paris ấn hành năm 2003. Chúng tôi đã dùng lại phần lớn chú thích trong nguyên tác của F.P.De La Croix, và có ghi chú thêm đôi điều thiết nghĩ cần thiết cho người đọc Việt Nam ta. Lời giới thiệu (cũng như phụ lục) có tham khảo một phần tư liệu do Paul Sebag sưu tầm và sắp xếp.


Bắt tay dịch bộ Một nghìn lẻ một ngày, chúng tôi cũng lại vấp phải một số khó khăn như khi dịch Một nghìn lẻ một đêm. Đây là những truyện được người đời sau kể lại dựa vào các truyện cổ Ba Tư thông qua các bản dịch tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, và thực hiện theo "phong cách kể chuyện của các tác phẩm văn học Pháp thế kỷ thứ XVIII". Chúng tôi cố gắng bám sát nguyên tác, tuy đôi khi nghe hơi lạ tai, hy vọng giữ được bầu không khí "ngoại lai" (exotique). Một khó khăn là cách xưng hô. Thông thường người "tâu bệ hạ" phải xưng "thần". Dùng lối nhân xưng như vậy suốt cả ngàn trang sách sẽ rất nặng nề. Bởi vậy, cũng như với bộ Nghìn lẻ một đêm, người dịch xin phép cho người kể chuyện được xưng "tôi" một cách thoải mái. Về thực chất, các truyện kể không nhất thiết để hầu "bệ hạ" nghe, mà đây là người kể chuyện dân gian thuật lại trước công chúng đông đảo, theo phong cách những người kể chuyện rong thời xưa. Chúng tôi tin, chỉ cần sau vài ba chục dòng, người đọc sẽ quên đi triều đình vua chúa mà bị cuốn hút theo nội dung các câu chuyện dân gian.


 


Hà Nội, 2004


Phan Quang







1 Marie Adélaide de Savoie sinh ngày 5-12-1685, kết hôn cùng quận công de Bourgogne, sống tại triều đình vua Louis XIV, và là một người được ông vua này "sủng ái". Theo những người đương thời, đấy là một phụ nữ xinh đẹp, thông minh, trò chuyện hấp dẫn, tính ham vui, thích chưng diện, khiêu vũ, tiệc tùng, săn bắn và đánh bạc. Có thể với địa vị, uy lực và sắc đẹp của mình, nàng quận chúa này- giữa lúc cả kinh thành Paris đang say sưa với Nghìn lẻ một đêm- là người ngỏ ý khích lệ nếu không phải là "đặt hàng" cho De La Croix viết bộ Nghìn lẻ một ngày.


 




2 Một thư viện rất lớn ở Pháp thành lập từ thế kỷ XVI toạ lạc tại Quận 4 Paris, về tầm quan trọng chỉ chỉ kém có Thư viện Quốc gia Pháp (PQ).


 




3 Sultan : Danh hiệu của hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ (PQ).


 




4 Bách khoa toàn thư Universalis, 1996, tập XVII, trang 896.


 


Nguồn: Nghìn lẻ một ngày. NXB Văn học, 2004.



Mục lục:
1.Phần I
2.Phần I
3.Lời tự & Lời thưa
4.Lời Giới thiệu
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »