tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29481778
Tiểu thuyết
28.03.2009
Liep Nicôlaievich Tônxtoi
Chiến tranh và Hòa bình

X


Trong ánh sáng mờ mờ của buổi rạng đông, quân sĩ nhanh nhẹn tìm lấy ngựa của mình, thắt đai yên và ai nấy đều theo lệnh về chỗ. Đênixốp đứng cạnh trạm ra những mệnh lệnh cuối cùng. Đội binh của đơn vị du kích, trong tiếng lép bép của hàng trăm bàn chân giẫm lên bùn, xuất phát trước, đi lên con đường cái và chỉ một loáng đã khuất giữa rặng cây trong làn sương mù của buổi rạng đông. Viên thủ lĩnh ra mệnh lệnh cho quân Cô dắc. Pêchia cầm cương ngựa sốt ruột chờ lệnh lên yên. Mặt cậu, vừa rửa nước lạnh và nhất là đôi mắt cậu, bừng bừng như lửa, sống lưng như có một luồng điện chạy qua, và toàn thân cứ rung lên từng đợt.


- Thế nào xong cả chưa? - Đênixốp nói. - Đưa ngựa ra đây.


Họ đưa ngựa ra. Đênixốp nổi cáu với người Cô dắc vì đai yên thắt lỏng, chàng mắng người Cô dắc rồi lên yên. Pêchia xỏ chân vào bàn đạp. Con ngựa theo thói quen cứ muốn cắn chân cậu, nhưng Pêhia bây giờ đang có cảm tưởng như mình không có trọng lượng nữa, đã nhanh nhẹn nhảy lên yên quay lại những người lính phiêu kỵ ở phía sau đang xuất phát trong bóng tối và cho ngựa lại gần Đênixốp.


- Anh Vaxili Phiôđôrôvích, anh giao cho tôi một nhiệm vụ gì chứ? Anh nhé... tôi van anh... - Pêchia nói. Đênixốp có vẻ như đã quên rằng Pêchia có tồn tại ở trên đời này. Chàng quay lại nhìn cậu.


- Tôi chỉ xin cậu một điều - chàng nghiêm nét mặt nói - là phải nghe tôi và đừng có tự ý chạy tứ tung lên.


Suốt dọc đường Đênixốp không nói với Pêchia một câu nào nữa, chàng lặng thinh ngồi trên mình ngựa. Khi họ đến ven rừng, ở phía đông trời đã bắt đầu sáng rõ hơn. Đênixốp nói thì thầm mấy tiếng với viên thủ lĩnh Cô dắc, và đoàn Cô dắc bắt đầu tiến qua mặt Đênixốp và Pêchia. Khi họ đã đi qua hết, Đênixốp giục ngựa đi xuống dốc núi. Lũ ngựa trượt chân trên sườn dốc, thỉnh thoảng lại ngồi bệt mông xuống, đoàn quân kéo xuống hẻm núi. Pêchia cưỡi ngựa đi cạnh Đênixốp, toàn thân cậu mỗi lúc một rung mạnh thêm.


Trời sáng dần, chỉ có làn sương mù che khuất những vật ở xa xa. Xuống đến chân dốc, Đênixốp ngoảnh lại và gật đầu ra hiệu cho người Cô dắc của mình đứng cạnh chàng, nói:


- Hiệu lệnh!


Người Cô dắc giơ cao tay lên, một tiếng súng nổ. Và ngay lúc ấy có tiếng vó ngựa phi rầm rập ở phía trước, tiếng hò reo ở khắp bốn phía và thêm nhiều tiếng nổ nữa.


Nghe thấy những tiếng vó ngựa và tiếng hò reo đầu tiên, Pêchia lập tức quất ngựa và buông cương cho ngựa phi lên trước, không thèm nghe Đênixốp đang quát gọi cậu. Khi nghe tiếng súng nổ, Pêchia có cảm giác là trời bỗng sáng hẳn lên như giữa ban ngày. Cậu phi về phía cầu. Phía trước, quân Cô dắc đang phi ngựa trên đường cái. Trên cầu, Pêchia đuổi kịp những người Cô dắc bị tụt lại sau và tiếp tục phi lên trước. Phía trước mắt có những người nào không rõ - chắc là lính Pháp - đang từ mé đường bên phải chạy sang mé đường bên trái. Một người ngã lăn ra giữa bùn, dưới chân ngựa Pêchia.


Cạnh một ngôi nhà gỗ có một đám Cô dắc đang xúm xít lại làm gì không rõ. Từ giữa đám đông đưa ra một tiếng rú kinh khủng. Pêchia cho ngựa phi lại gần đám người và vật đầu tiên mà cậu ta trông thấy là khuôn mặt tái mét của một tên lính Pháp, hàm dưới run run, đang nắm giữ lấy cán một ngọn giáo chĩa vào người hắn.


- Ura!... Anh em ơi... quân ta... - Pêchia reo lên và buông lỏng cương cho con ngựa bấy giờ đã nóng máu phi dọc đường làng tiến lên phía trước.


Phía trước có nhiều tiếng súng nổ. Những người Cô dắc, những người lính phiêu kỵ và những người tù binh Nga rách rưới từ hai bên đường đổ ra, la ó loạn xạ cả lên. Một tên lính Pháp mặc ca-pốt xanh, vẻ ngang tàng, đầu không đội mũ, mặt đỏ và cau có, đang dùng lưỡi lê chống chọi với quân phiêu kỵ. Khi Pêchia phi lại thì tên Pháp đã gục xuống. "Lại muộn rồi!" - ý nghĩ đó thoáng qua đầu Pêchia và cậu nhắm nơi có tiếng súng dồn dập phi tới. Những tiếng súng vang lên từ sân tới nhà trang chủ đêm hôm qua Pêchia đã đến với Đôlôkhốp. Quân Pháp ở đây nấp sau dãy hàng rào, trong khu vườn rậm rạp mọc kín những bụi cây, bắn vào đám quân Cô dắc xúm xít ở phía trước. Phi đến gần cổng, Pêchia trông thấy Đôlôkhốp trong đám khói súng, mặt xanh như tàu lá, đang quát gọi quân lính. "Đi vòng ra phía sau! Đợi bộ binh đến!" - chàng quát trong khi Pêchia phi ngựa tới gần.


- Đợi à?... Ura!... - Pêchia reo lên và không chậm một phút, cậu phi đến chỗ có tiếng súng và khói phủ dày đặc. Một loạt súng nổ, những viên đạn lạ bay vèo vèo và những viên khác trúng đôm đốp vào những vật gì không rõ. Toán Cô dắc và Đôlôkhốp đuổi theo Pêchia phi ngựa vào cổng. Trong đám khói chập chờn dày đặc, lính Pháp, đứa thì vứt súng rời các bụi cây chạy về phía quân Cô dắc, đứa thì chạy xuống dốc về phía ao. Pêchia ngồi trên ngựa phi dọc theo sân nhà trang chủ, hai tay không giữ cương mà lại dang rộng ra vẫy rất nhanh một cách kỳ quặc và người mỗi lúc một nghiêng hẳn về một bên. Con ngựa vấp phải một đống than hồng đang tàn lụi trong ánh ban mai, liền đứng lại và Pêchia rơi phịch xuống mặt đất ướt át. Những người Cô dắc thấy chân tay cậu giật giật rất nhanh, trong khi đầu cậu im lìm không nhúc nhích. Một viên đạn đã xuyên qua sọ Pêchia.


Sau khi điều đình với viên sĩ quan chỉ huy Pháp vừa từ trong tòa nhà cầm thanh gươm buộc chiếc khăn trắng ra gặp chàng để xin hàng, Đôlôkhốp xuống ngựa và đến cạnh xác Pêchia nằm im lìm dưới đất, hai tay dang rộng ra.


- Thế là xong - chàng cau mày nói đoạn ra cổng đón Đênixốp đang cưỡi ngựa tới.


- Chết rồi à?! - Đênixốp kêu lên khi trông thấy từ xa cái tư thế nằm của Pêchia, một tư thế rõ ràng của người chết mà chàng đã quá quen thuộc.


- Thế là xong! - Đôlôkhốp nhắc lại, như thể lấy làm thích thú khi nói mấy tiếng đó, đoạn bước nhanh về phía đám tù binh mà người Cô dắc vừa xuống ngựa đang vây quanh. - Không bắt sống đấy nhé! - Chàng quát với về phía Đênixốp.


Đênixốp không đáp, chàng đến gần Pêchia, xuống ngựa và giơ hai tay run run quay khuôn mặt tái nhợt dính máu và bùn của Pêchia về phía mình.


"Tôi quen ăn của ngọt. Nho khô này ngon lắm, anh lấy hết đi mà ăn" - chàng mường tượng nhớ lại. Và mấy người Cô dắc ngạc nhiên ngoảnh lại nhìn khi nghe những âm thanh như tiếng chó sủa phát ra từ cổ Đênixốp khi chàng quay phắt đi, đến cạnh hàng rào và vịn vào đấy.


Trong số những tù binh mà Đênixốp và Đôlôkhốp cứu thoát có Pie Bêdukhốp.


XI


Kể từ khi đoàn tù binh trong đó có Pie rời Mátxcơva ra đi, bộ chỉ huy Pháp không hề ra lệnh gì mới về đoàn tù binh này. Ngày hai mươi hai tháng mười nó không còn đi với những đoàn xe tải đã cùng xuất phát từ Mátxcơva nữa. Một nửa đoàn xe chở lương khô cùng đi với họ mấy chặng đường đều đã bị quân Cô dắc đánh cướp, còn lại một nửa đã đi vượt lên trước, những người kỵ binh đi bộ, lúc đầu đi phía trước mặt tù binh, nay không còn lấy một người nào: tất cả đều biến đi đâu hết. Những đội pháo binh mà trên những chặng đường đầu tiên vẫn thấy thấp thoáng ở phía trước thì nay đã nhường chỗ cho những đoàn xe tải khổng lồ của nguyên soái Giuynô có những đơn vị người Vétphali hộ tống. Phía sau đoàn tù binh là đoàn xe chở đồ đạc của kỵ binh.


Qua Viadơma, các quân đoàn Pháp trước kia đi thành ba đạo, nay dồn lại thành một lũ người. Những dấu hiệu mất trật tự mà Pie đã nhận thấy ở trạm nghỉ đầu tiên sau khi rời Mátxcơva nay đã đến mức thậm tệ.


Suốt hai bên lề đường, đâu đâu cũng thấy ngổn ngang những xác người chết. Những người lính rách rưới thuộc nhiều đơn vị khác nhau bị tụt lại, nối đuôi nhau không ngớt, khi thì đuổi theo kịp đoàn quân đang trẩy đi, khi thì lại tụt lại phía sau.


Trong khi hành quân, đã mấy lần có báo động hão: những lúc ấy bọn lính áp giải tù binh giơ súng lên bắn loạn xạ và cắm đầu giẫm lên nhau mà chạy, nhưng rồi sau đó lại tập hợp và mắng lẫn nhau về nỗi hoảng sợ hão huyền vừa qua.


Ba đoàn cùng đi với nhau ấy - đoàn xe chở đồ đạc của kỵ binh, đoàn tù binh và đoàn xe tải của Giuynô - vẫn còn làm thành một cái gì thống nhất riêng biệt, tuy cả ba đều tan rã rất nhanh.


Trong đoàn xe của kỵ binh, lúc dầu có đến một trăm hai mươi cỗ xe, nay chỉ còn được sáu mươi, những cỗ khác đều bị cướp mất hoặc bị bỏ lại. Trong đoàn xe của Giuynô cũng có mấy chiếc bị bỏ lại hay bị cướp mất. Ba chiếc bị những toán lính tụt lại sau của quân đoàn Đavu đánh cướp. Qua những câu chuyện trò của bọn lính Đức, Pie biết rằng quân Pháp cắt cho đoàn xe tải một đội hộ tống mạnh hơn là đội quân áp giải tù binh và một trong số các bạn đồng ngũ của họ, một người lính Đức, đã bị xử bắn theo lệnh của đích thân nguyên soái vì người ta thấy trong người hắn có một cái thìa bằng bạc của nguyên soái.


 Nhưng trong ba đoàn này thì đoàn tù binh tan rã nhanh hơn cả. Trong số ba trăm ba mươi người xuất phát từ Mátxcơva nay chỉ còn sống sót non một trăm. Tù binh còn làm cho lính áp tải khổ sở hơn cả những bộ yên ngựa của đoàn xe tải kỵ binh hay những đồ đạc của Giuynô. Những bộ yên ngựa và những cái thìa của Giuynô thì họ còn biết là những thứ dùng được, chứ vì lẽ gì mà những binh sĩ đói rét như họ lại phải canh giữ một lũ tù người Nga cũng đói rét như thế, cứ chết dần ở dọc đường và hễ tụt lại sau là bị bắn chết theo lệnh cấp trên, điều đó họ không những không sao hiểu được, mà lại còn ghê tởm nữa. Và những người lính đi áp giải, dường như sợ rằng trong cái tình cảnh đáng buồn mà chính họ đang trải qua, họ sẽ lại thương xót tù binh như trước đây và do đó mà làm cho tình cảnh của họ càng thêm khốn đốn, cho nên họ đối xử với tù binh càng thêm nghiêm khắc và hằn học.


Ở Đôrôgôbugiê, trong khi bọn lính áp giải nhốt tù binh vào một cái chuồng ngựa rồi đi cướp phá các kho lương của quân mình, có mấy người tù binh đào ngạch trốn đi, nhưng lại bị quân Pháp bắt được và đem bắn.


 Cái quy chế được thiết lập khi xuất phát từ Mátxcơva định rằng sĩ quan và lính thường trong đoàn tù binh phải đi riêng ra đã bị hủy bỏ từ lâu. Tất cả những người còn đi bộ được đều đi thành một đoàn và ngay từ chặng thứ ba Pie đã gặp Carataiép với con chó chân khuỳnh khuỳnh lông tía đã chọn Carataiép làm chủ.


Rời Mátxcơva được ba ngày thì Carataiép lại lên cơn sốt như khi ở nhà thương Mátxcơva và Carataiép lại càng kiệt sức thì Pie lại càng xa dần bác ta. Pie cũng không biết tại sao nữa, nhưng từ khi Carataiép bắt đầu yếu đi, thì Pie lại phải vật lộn với bản thân mới đủ can đảm đến gần bác. Rồi thì đến gần Carataiép và nghe những tiếng rên khe khẽ của bác những khi nằm xuống nghỉ ở các trạm, ngửi thấy cái mùi bây giờ mỗi ngày một thêm nặng từ người Carataiép bốc lên, Pie lại lảng đi thật xa và không nghĩ đến bác ta nữa.


Phải sống giam cầm trong cái lán, Pie đã nhận ra không phải là lý trí mà là mỗi đường gân thớ thịt của mình, rằng con người sinh ra là để hạnh phúc, rằng hạnh phúc ở ngay trong con người, trong việc thỏa mãn những nhu cầu tự nhiên của con người và người ta khổ sở không phải là vì thiếu thốn mà là vì thừa thãi; nhưng bấy giờ trong khoảng ba tuần hành quân gần đây, chàng lại biết thêm một chân lý mới đầy sức an ủi nữa - chàng đã nhận ra trên đời này không có gì đáng sợ cả. Chàng đã nhận ra rằng nếu trên đời này không có một tình cảnh nào có thể làm cho ta hoàn toàn sung sướng và tự do, thì cũng không có một tình cảnh nào có thể làm cho người ta hoàn toàn bất hạnh và mất tự do được. Chàng đã nhận ra đau khổ và tự do đều có một giới hạn và giới hạn đó là rất gần nhau, rằng một người đã từng đau khổ vì trên chiếc giường lát bằng hoa hồng của mình đã có một cánh hoa bị gấp lại, thì cũng đau khổ đúng như chàng bấy giờ khi ngả lưng trên mặt đất trơ trụi và ẩm ướt, một bên người thì rét cóng, còn bên kia thì nóng ran lên; rằng trước kia thì chàng đi đôi giày khiêu vũ hơi chật, chàng cũng thấy đau đớn như bây giờ khi chàng đi chân không (giày của chàng đã bị rách nát từ lâu), đôi chân đầy những mụn loét. Chàng đã nhận ra rằng trước đây lấy vợ hoàn toàn theo ý muốn của mình - như chàng vẫn tưởng - chàng cũng chẳng tự do như bây giờ, khi người ta nhét chàng vào chuồng ngựa để nghỉ đêm. Trong tất cả những thứ mà về sau chính chàng cũng gọi là những nỗi khổ cực, nhưng lúc bấy giờ chàng không cảm thấy, thì cái chính là đôi chân không giày đầy những chỗ sưng phồng và lở loét (thịt ngựa thì ngon và bổ cái dư vị của chất diêm tiêu dùng thay muối lại còn đâm ra dễ chịu nữa là khác; trời không có những cơn rét dữ dội, ban ngày khi đi đường hầu như lúc nào cũng thấy nóng, còn ban đên thì đã có bếp lửa. Những con rận nhung nhúc ở trên người chàng làm cho chàng thấy ấm). Thời kỳ đầu chỉ có một điều làm cho chàng khổ: ấy là đôi chân.


Ở trạm nghỉ thứ hai, khi nhìn thấy chỗ loét trên chân dưới ánh lửa trại Pie đã nghĩ rằng chân như thế này không tài nào bước đi được, nhưng khi ai nấy đều đứng dậy lên đường, chàng cũng khập khiễng bước theo, và về sau, khi đã nóng người lên, chàng bước như thường chẳng thấy đau đớn gì nữa, tuy đến chiều thì đôi chân nhìn lại càng khủng khiếp hơn trước. Nhưng chàng không nhìn xuống chân và nghĩ sang chuyện khác.


Mãi đến bây giờ, Pie mới hiểu hết tác dụng của sức sống con người và hiệu lực bổ ích của cái khả năng bẩm sinh con người có thể đổi hướng chú ý; nó có tác dụng như cái nắp an toàn các nồi hơi, cứ mỗi khi sức ép vượt qua mức bình thường, lại mở cho chỗ hơi thừa thoát ra ngoài.


Chàng không thấy và không nghe thấy người ta bắn chết những người tù binh tụt lại sau, mặc dầu đã hơn một trăm tù binh chết như vậy. Chàng không nghĩ đến Carataiép mỗi ngày một kiệt sức và chắc hẳn chẳng bao lâu nữa sẽ phải chịu số phận ấy. Pie lại càng nghĩ ít về bản thân hơn nữa. Tình cảnh của chàng càng khó khăn, tương lai càng khủng khiếp, thì những ý nghĩ những kỷ niệm và những hình ảnh vui tươi và đầy sức an ủi lại càng đến với chàng nhiều hơn, bất chấp cả tình cảnh hiện tại của chàng.


(còn tiếp)


Nguồn: Chiến tranh và Hòa bình, tập 3. Bộ mới, NXB Văn học, 1-2007. Triệu Xuân biên tập. In theo lần xuất bản đầu tiên tại Việt Nam năm 1961 và 1962 của Nhà xuất bản Văn hóa, tiền thân của NXB Văn học. Những người dịch: Cao Xuân Hạo, Nhữ Thành, Trường Xuyên (tức Cao Xuân Huy) và Hoàng Thiếu Sơn.


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
36.
37.
38.
39.
40.
41.
42.
43.
44.
45.
46.
47.
48.
49.
50.
51.
52.
53.
54.
55.
56.
57.
58.Phần Thứ Mười một
59.
60.
61.
62.
63.
64.
65.
66.
67.
68.
69.
70.
71.
72.
73.
74.
75.
76.
77.
78.Phần Thứ tám
79.
80.
81.Phần Thứ sáu
82.Lời Người biên tập và Lời Giới thiệu của Cao Xuân Hạo
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »