tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24940776
Tiểu thuyết
24.10.2018
Triệu Xuân
Trả giá


Tính từ khi đặt vấn đề, ngót hai năm sau, “chủ trương chăn bò” - cách nói đầy giễu cợt ác ý của Ngôn đối với đề xuất của kỹ sư Trầm về vấn đề sử dụng lao động - mới được thực hiện. Làm việc này, giám đốc Hòa gặp phải sự phản ứng ngấm ngầm nhưng rất quyết liệt, sở dĩ chỉ là phản ứng ngầm là vì chủ trương đó “cách mạng” thực sự. Mà những kẻ phản ứng vốn là những kẻ rất sợ đánh rơi cái vỏ bọc “cách mạng”, “tiên tiến”, “trung thành tuyệt đối với đường lối, chính sách của Đảng”. Bởi thế, rất nhiều bẫy đã giăng ra, rất nhiều “viên đạn” đã lên nòng để chờ dịp thuận tiện là nổ. Hòa biết điều ấy. Trầm biết điều ấy. Nhưng khi sự việc xảy ra, vẫn không thể ngờ được.


Thế mới biết, cái nhọt mọc ở chỗ hiểm mới là cái nhọt gây đau nhức nhiều nhất.


Trong số ba trăm lẻ sáu người - tức là một phần ba tổng số lao động của Liên hiệp Dịch vụ Biển - phải chuyển công tác, qua làm việc thích hợp với năng lực của họ, thì có tới hai trăm người là con, em, cháu, người nhà của các vị có chức có quyền. Bởi vậy, ông Hòa không chỉ gặp sự phản ứng của hai trăm người đó, mà còn là sự phản ứng của hàng trăm nhân vật mà ngày trước, dân quen gọi bằng ông lớn, bà lớn.


Có một cô gái là con của người, mà nếu xếp thứ tự thì đứng thứ hai thứ ba ở Bộ; cô học chưa hết lớp mười phổ thông (hệ mười năm) thì bỗng nhiên cái bụng của cô phình to ra. Nhà trường không dám kỷ luật cô, nhưng cô đã tự ý bỏ học. Bố cô gửi cô vào Liên hiệp Dịch vụ Biển, với lá thư tay: “Cháu nó thích hợp với quầy lễ tân”. Mà ngồi ở quầy lễ tân tức là thay mặt cả ngàn con người của Liên hiệp này để tiếp khách, hay nói cho đúng hơn, thay mặt cho cả một quốc gia khi tiếp khách nước ngoài. Vậy mà cái dung nhan của cô lại xinh đẹp quá... ít. Chiều cao của cô phát triển chậm hơn chiều ngang. Người ta không thể để gương mặt ấy thay mặt cho cả ngàn con người, cho cả một quốc gia. Cô được đưa vào làm ở tổ bàn của khách sạn Hữu Nghị. Làm được đúng một tháng, cô làm rớt cả mâm thức ăn bốn lần, bể chén dĩa kiểu hơn chục cái, và cô nghỉ vì cảm mất tám ngày.


Cô viết thư cho bố sao đó mà bố cô viết thư vào: “Tôi tưởng các anh nể tôi, nào ngờ... con gái tôi mới phục vụ ở nhà hàng ăn một tháng mà sút bốn ký lô. Năng suất thì tốt nhưng đừng tăng cường độ lao động nhiều quá, sao nỡ để cháu phải làm hai ca liên tục?...”. Đành phải để “người đẹp” nghỉ việc ở tổ bàn, lên ghế cao ở ghi sê ngồi đếm tiền. Làm việc được sáu tháng, cô tính lộn tiền của khách mười bảy lần; bị khách phê bình, cô còn lớn tiếng cự lại; quản đốc khách sạn phải ra xin lỗi khách. Có ba lần cô kêu mất tiền. Số tiền mất lần thứ nhất: ba ngàn; lần thứ ba: sáu ngàn. Đến lần thứ tư, cô vừa kêu mất tiền thì chị em tổ bàn phát hiện ra chính cô giấu tiền đi. Công đoàn yêu cầu cô làm bản kiểm điểm. Họp kiểm điểm lần đầu, mọi người mời cô đọc bản tự kiểm, cô trả lời: “Tôi không có tội nên tôi không viết kiểm điểm. Các người muốn hại tôi, chiếm chỗ làm của tôi thì cứ việc vu cáo tôi đi. Tôi cóc sợ”. Cuộc họp hoãn lại. Phải chờ cô viết kiểm điểm rồi mới họp. Quản đốc xin ý kiến của tổng giảm đốc rồi quyết định: Cô phải nghỉ việc một tuần để viết kiểm điểm. Cô chẳng viết, về tuốt Sài Gòn, ở lì trong biệt thự thứ hai của bố cô. Ông bố ở Hà Nội nhận được điện con gái uống thuốc độc tự tử. Ông bay vào Sài Gòn. Tại bệnh viện, con gái ông đã phục hồi. Bác sĩ kết luận là cô uống thuốc ngủ quá liều chỉ định. Vì thế mà cô không chết nhưng... cái thai trong bụng đã hư!


Về chuyện cái thai, ông bác sĩ đã được “yêu cầu giữ kín”. Rồi xuất hiện lá thư nặc danh. Ngay lập tức, dư luận về chuyện cô con gái nhân vật cao cấp ở Bộ bị... bức tử lan nhanh. Giám đốc Hòa phải ra Hà Nội trả lời với cấp trên, và... có ít nhất hai tờ báo đã sẵn sàng đăng bài vạch trần vụ “giám đốc bức tử công nhân” trước công luận.


Nếu như người bác sĩ ở Sài Gòn im lặng, nếu bệnh án bị giấu nhẹm đi, thì có lẽ giám đốc Hòa bị truy tố rồi. Người bác sĩ ấy đã công bố sự thật về bào thai hơn ba tháng đã bị hủy hoại bằng thuốc ngủ. Và thế là mọi chuyện đã rõ ràng.


Con trai của một ông giữ trọng trách tại Vũng Tàu đi bộ đội, mới được một năm thì “phải” giải ngũ vì lý do sức khỏe. Ông đưa con vào với lời yêu cầu giản dị: “Cháu nó từ bộ đội về, cứ cho nó làm đội trưởng đội bảo vệ”. Nể ông, phòng tổ chức xếp anh ta vào làm đội trưởng đội bảo vệ của khách sạn Biển Đông. Nhưng làm được một năm thì cả mấy chục lần anh ta quên trực vì mắc đi nhậu. Trong một lần “quên” như thế, khách sạn Biển Đông bị kẻ gian lẻn vào lấy mất năm chục chiếc mền len mới nhập ngoại. Khi bắt được kẻ lấy cắp, nó khai ra đội trưởng đội bảo vệ có ăn chia trong vụ này. Anh ta bị cách chức đội trưởng, làm bảo vệ viên. Nhưng hầu như lần nào trực đêm, anh ta cũng bỏ trực để đi uống rượu. Vì thế, buộc lòng người ta phải đưa anh xuống trại nuôi bò.


Tại cuộc họp thường vụ Đặc khu ủy, có mặt bí thư Đảng ủy Liên hiệp Dịch vụ Biển, ông bố của anh chàng hay “quên” ấy lớn tiếng phê phán tình trạng phân biệt đối xử, trù ém công nhân. Ông còn yêu cầu Ủy ban Thanh tra Nhà nước ở Vũng Tàu làm sáng tỏ vụ này.


Và Ủy ban Thanh tra đã cử một đoàn thanh tra đến thật. Có hàng trăm cán bộ ở Vũng Tàu có con, em, cháu bị “chủ trương chăn bò” hoán đổi vị trí công tác. Làm sao không thanh tra được? Dứt khoát phải có chuyện tiêu cực ghê gớm mới trù ém những người tích cực như vậy chứ?


Đoàn thanh tra làm việc bốn tháng liền.


Bốn tháng ròng, ông Hòa phải trả lời hàng ngàn câu hỏi.


Người ta vặn vẹo đủ điều, “bới bèo ra cua con”; và nội bộ, có sự phân hóa. Giậu chưa đổ, bìm đã chuẩn bị leo rồi.


Nhưng những người phản đối “chủ trương chăn bò” không thể nào hình dung được kết quả của chủ trương thực sự cách mạng ấy. Tỷ lệ gián tiếp phục vụ sản xuất từ hai mươi phần trăm rút xuống còn mười phần trăm. Ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh đặc biệt này, tỷ lệ ấy là con số chưa từng có. Khu vực sình lầy, hoang dại trước kia rộng hai chục hécta, nay được qui hoạch thành hai trại chăn nuôi heo và hai trại gà. Xí nghiệp chăn nuôi heo gà được hạch toán độc lập.


Trại bò sữa Thành Long, từ khi liên kết liên doanh với Liên hiệp Dịch vụ Biển, đã chấm dứt tình trạng suy sụp, tan rã. Đàn bò sữa lai giống chuẩn nhất đã hình thành cùng với hàng trăm con bò nuôi lấy thịt. Nguồn thực phẩm phục vụ khách ăn vào mùa cao điểm đã ổn định. Ông Mật mời Trầm hút thuốc Sài Gòn xanh, giọng thân mật:


- Cái đầu của người có học có khác! Từ ngày giảm lực lượng gián tiếp, ở Thanh Bình tiền chia sẹc vít tăng lên gấp ba đấy! Giỏi thật! Mọi người biết ơn cậu kỹ sư đấy.


- Có gì đâu chú!


Cũng như mọi người, Trầm coi mình như cháu của ông già quét rác. Nhìn niềm vui ánh lên trong đôi mắt của người quét rác già, Trầm thấy lòng thanh thản. Phải thế chứ! Công việc và hiệu quả của nó sẽ là thước đo mọi giá trị.


- Thế chú được lãnh tháng rồi bao nhiêu?


- Thì đã bảo là gấp ba tháng trước! Mà này, cậu kỹ sư à, cái tật con người, đã nhàn cư là y như rằng vi bất thiện. Người nhiều, không chịu làm, sinh ra họp hành thắc mắc liên miên. Tôi là thậm ghét những tay không làm mà hay thắc mắc. “Chủ trương chăn bò” của cậu kỹ sư là tuyệt!


- Có gì đâu chú. Ngày trước, người ta vẫn làm vậy.


- Ờ, dưng mà bây giờ khác. Ngày trước, ông chủ có quyền, còn bây giờ... làm chủ tập thể kia mà!


Trầm cười, biết rằng ông Mật đang khôi hài.


- Dưng mà, - ông Mật khéo léo tỉa tót chậu lan vừa nở hoa, nói tiếp - dưng mà cũng phải bạo mới làm được. Cách mạng là phải bạo. Không bạo, không dám xóa bỏ cách làm cũ. Đúng không nào? Hà hà hà!


Ông Mật nhìn Trầm cười ngất:


- Đụng phải cả một thế lực toàn ông lớn chữ giỡn à! Cậu kỹ sư à, tôi ấy mà, tôi mà là ông Hòa, tôi sẽ thưởng.


- Thưởng cho ai?


- Còn ai nữa. Quân sư như cậu là phải thưởng.


- Vậy chú tính thưởng gì?


- Tăng lương lên hai bậc này. Lương cậu kỹ sư hiện nay sao đủ sống? Cấp cho một căn nhà này. Cái phòng cậu đang ở sao lại gọi là nhà? Cấp cho một xe hơi để đi lại. Đó, thế mới được. Người tài giỏi, người làm lợi cho mọi người là phải thưởng, phải biệt đãi hơn hẳn mọi người. Ấy mới là sự công bằng. Cá mè một lứa, bình quân chủ nghĩa là bất công.


- Cám ơn chú. Nhưng chú chỉ là người trồng hoa giỏi, làm cho hoa nở, chú không phải ông Hòa. - Trầm cười, nắm lấy tay ông Mật - Chú Mật này, chú nói đúng lắm. Cháu cám ơn chú. Khỏi cần xe hơi nhà lầu, chỉ nghe chú nói là cháu đã đủ sung sướng rồi.


Trầm nói thật lòng mình. Nghe ông Mật nói, chuyện trò với ông, Trầm thấy lòng thanh thản, bình tâm lại. Từ ngày Đước bị bắt đến nay đã hai năm rồi, nếu không có những người như ông Hòa, ông Mật, nếu không có Thiền Lan, thì có lẽ Trầm không đứng vững nổi. Đã có lúc, anh trách mình tại sao không nhận lời làm việc cho công ty Deminex.


*


Đước vẫn chưa được ra tù. Thủ tục hành chính nặng nề đến nỗi khởi động được cả cái guồng máy từ trên xuống dưới là chuyện không thể chỉ một vài tháng là xong. Sau khi đơn khiếu nại của Trầm được ông Hồng chuyển trực tiếp cho đoàn thanh tra của Hội đồng Nhà nước thì Đước được đưa về trại giam gần thành phố. Nhưng cũng từ ngày ấy, Trầm không liên lạc được với trại trưởng Ba lẻ tư nữa. Anh đã đi nhận công tác mới. Lần nào đến thăm Đước, Trầm cũng hỏi thăm trại trưởng; Đước chỉ lắc đầu, thở dài não nuột. Đước hiểu rằng, trại trưởng Ba lẻ tư đã trả giá khi cứu mình.


Trầm thường dẫn Thiền Lan đến trại thăm Đước. Đó là một trại giam khá đặc biệt: Tù nhân được tự do đi lại làm việc giữa một khu vực có cảnh trí tuyệt đẹp. Những công trình do tù nhân xây dựng lên gồm biệt thự, nhà hàng, công viên, hồ cá, đường sá, cầu cống, vườn cây ăn trái... đẹp và độc đáo đến nỗi các khu du lịch trong nước phải ghen tỵ. Trầm có cảm giác là người tù ở đây hoàn toàn tự do. Không có cảnh sát mặc sắc phục, không có người vũ trang. Tù nhân chia thành tổ, nhóm làm việc, tự quản với nhau; và điều đặc biệt nữa là tù nhân được nhận lương hàng tháng. Không có gì khó hiểu, bàn tay họ đã tạo nên nhiều thành quả có giá trị nghệ thuật, kinh tế lớn. Ở đây có đủ thành phần: kiến trúc sư, bác sĩ, tiến sĩ, thợ mỹ nghệ, thợ may, kỹ sư cầu đường, có người từng làm đồng chủ tịch một công ty siêu quốc gia ở nước ngoài v.v...


Nhưng có một điều cấm kỵ: Không được nói. Trong giờ làm việc, tù nhân không được đối thoại và độc thoại nếu chưa được phép. Chỉ có đêm về, trở lại nếp sống tù nhân, họ mới được tự do nói. Vì thế, có người khi được trả tự do đã đâm ra không nói được. Anh ta không phát âm cho rõ được từng từ. Phải tập nói lại một thời gian, giống như người bị sốt rét, khi bình phục phải tập đi vậy.


Đước còn kể cho Trầm và Lan nghe một trường hợp người tù xin ở lại, không chịu ra ngoài khi được trả tự do. Đó là một kiến trúc sư có tài. Chính anh ta đã thiết kế hầu hết những hạng mục công trình ở đây. Một nhà báo đến phỏng vấn, anh ta nói: “Tôi không có ham muốn gì hơn là được trọng dụng, được đem tài năng ra phục vụ cuộc đời. Ở đây, tôi và vợ tôi được trọng dụng thực sự. Chúng tôi xin ở đây đến mãn đời”. “Còn con anh? Anh chị sắp có cháu bé rồi?”, nhà báo hỏi tiếp. “Con tôi à? Cháu có quyền quyết định số phận đời nó chứ! Tôi tin rằng, pháp luật sẽ bảo vệ cái quyền ấy. Đúng không?”.


Trầm thấy thương vợ chồng người kiến trúc sư quá. Ngay từ hôm mới vô đây, anh đã thán phục tài của người đồng nghiệp mà anh chưa hề biết mặt. Quá tò mò, Trầm hỏi Đước:


- Anh Hai có biết vợ chồng ảnh bị bắt vì tội gì?


Đước hạ giọng thật nhỏ đến nỗi Thiền Lan không nghe rõ:


- Nghe đâu anh ta phát hiện ra sai lầm nghiêm trọng của bản thiết kế đã được duyệt về một công trình trọng điểm...


Ngay lúc đó, có tiếng nhắc nhở:


- Xin nói lớn, không được nói thầm!


Đước im bặt. Trầm cũng lặng người đi. Lòng anh rưng rưng thương cảm.


Trầm chưa tiếp xúc với người kiến trúc sư ấy. Có một lần may mắn, Đước chỉ cho Trầm thấy mặt anh ta trong một phút. Trầm ngạc nhiên: Vóc người to lớn, đường bệ là thế mà sao đầu cứ cúi gằm xuống. Chắc chắn trước đây, con người ấy phải có dáng vẻ hiên ngang lắm, chứ không thể nào thân hình cân đối, bước đi khoan thai mà lại mắc tật cúi gằm đầu xuống thế kia.


Lòng trắc ẩn khiến cho mãi mãi sau này, không bao giờ Trầm quên được gương mặt ấy và cái đầu cứ cúi gằm xuống như né tránh một cái gì khủng khiếp...


Trầm và Lan được tiếp xúc với người bạn tù mới của Đước. Người có tên Trần Anh.


Trần Anh làm giám đốc một công ty du lịch. Từ chỗ không có một “xen” trong tay, sau ba năm xây dựng, Trần Anh đã đưa công ty đứng hàng thứ tư ngành du lịch toàn quốc về chỉ tiêu thu ngoại tệ. Đó là công rất lớn nếu như công ty của Trần Anh ở địa phương khác. Nhưng tại địa phương này thì khác. Chủ tịch tỉnh hết lòng ủng hộ cung cách làm ăn mới của Trần Anh. Bí thư và phó bí thư thứ nhất thì không. Bí thư được điều lên Trung ương. Kỳ đại hội ấy, ai cũng đinh ninh rằng chủ tịch sẽ được bầu làm bí thư. Trước Đại hội tỉnh Đảng bộ một tháng, có thư nặc danh tố cáo chủ tịch tỉnh bao che cho giám đốc công ty du lịch buôn bán ngoại tệ trái phép. Và thế là bắt đầu thanh tra.


Nhưng thanh tra là chuyện thường kéo dài vài tháng mới kết luận được. Đại hội Đảng tỉnh chỉ hai chục ngày nữa là khai mạc. Và, đúng thời điểm ấy, Trần Anh bị bắt. Khi chiếc còng số tám còng vào tay Trần Anh, người ta xét thấy trong người đương sự có hai đồng năm mươi xu. Ở phòng làm việc cũng như phòng ngủ tại cơ quan của Trần Anh, chẳng thấy có một đồng đô la nào. Công an về quê Trần Anh, nơi vợ anh và các con đang sống, cũng chẳng tìm thấy một “xen”. Vợ anh là xã viên hợp tác xã nông nghiệp. Chị thay chồng nuôi năm đứa con đang đi học. Ngay sau khi bị bắt, anh bị khai trừ khỏi Đảng.


Đại hội Đảng khai mạc, báo cáo chính trị dành hẳn một phần phê phán về hiện tượng tiêu cực tham ô móc ngoặc, buôn bán đô la trái phép, cố tình vi phạm nguyên tắc thể chế kinh tế ở một số đơn vị. Từ chỗ là ứng cử viên có nhiều khả năng đắc cử nhất, chủ tịch tỉnh buộc phải rút khỏi danh sách ứng cử viên. Một năm sau, hết nhiệm kỳ chủ tịch, ông xin về hưu ở tuổi năm mươi đang còn khỏe mạnh.


Ba đoàn thanh tra thay nhau làm việc cật lực trong bốn tháng liền, không tìm ra một mảy may hiện tượng nào chứng tỏ giám đốc gian lận, biển thủ, móc ngoặc. Lúc ấy, bí thư tỉnh ủy mới vừa nhận chức có “phát hiện” lớn. Ông hướng hoạt động của đoàn thanh tra sang lĩnh vực khác. Đó là tìm ra sự vi phạm cố ý của giám đốc đối với cơ chế kinh tế hiện hành.


Đối với những người như Trần Anh, trong giai đoạn này, nguyên tắc quản lý kinh tế cao nhất là vô nguyên tắc! Hay nói đúng hơn, muốn làm được việc, dứt khoát phải phá xiềng, tức là xé bỏ nguyên tắc quản lý kinh tế đã lỗi thời. Trần Anh thực hiện những biện pháp hết sức chủ động, táo bạo, mang lại hiệu quả rất cao trong kinh doanh du lịch, đặc biệt là thu ngoại tệ của khách ngoại quốc. Nhưng con người ấy không phải loại người chỉ biết lợi nhuận. Trên thực tế, anh đã khơi thác toàn bộ nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của địa phương, khơi thác tay nghề độc đáo của nhân dân địa phương, những di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh địa phương... phục vụ kinh doanh du lịch. Cái “khác người” của anh, cái “sai lầm” của anh là anh đã làm đúng qui luật, làm đúng như các công ty du lịch của các nước phát triển đã và đang làm.


Một lít rượu cần giá thành năm đồng bạc. Anh cho dựng lên giữa miền đất tổ tiên của người Mường những căn nhà sàn y hệt nhà sàn của người Mường với những họa tiết trang trí đặc sắc. Nhân viên phục vụ mặc sắc phục Mường, biết múa hát những điệu múa độc đáo của dân tộc Mường. Quanh ché rượu cần, khách nước ngoài rất sung sướng khi được trả năm đô la cho mỗi lít rượu uống tại chỗ. Rượu cần nhẹ độ, ai mà uống một lít. Dân Tây uống được nhiều rượu, có người uống cả buổi để thưởng thức cảnh trí Mường, không khí Mường và văn minh người Mường. Khi ra về, họ mua quà lưu niệm: một bộ đồ uống rượu cần thu nhỏ trị giá năm mươi đô la, một cung tên của tù trưởng Mường - một trăm đô la, một mét vải thổ cẩm do chính tay các thiếu nữ Mường dệt trước mặt khách giá mười đô la. Khách mua vải và mê tít. Nhiều người về nước, vẫn viết thư sang ngợi khen cô gái Mường mặc váy, áo thêu dệt rất đẹp, múa giỏi, hát hay. Mét vải thổ cẩm không là loại hàng may mặc bình thường nữa, nó trở thành vật trang trí, được treo như bức tranh trong gia đình, bên cạnh những bức tranh của các danh họa Âu châu.


Trong tỉnh có hàng trăm ngôi chùa, đặc biệt có chùa Thiên Hương nổi tiếng toàn quốc. Trần Anh xây dựng những khách sạn theo kiểu môten để con người được hài hòa với thiên nhiên. Ngành giao thông của tỉnh suốt mấy chục năm không hề ngó ngàng tới đường lên chùa. Trần Anh chủ động xây dựng tuyến du lịch cả đường bộ và đường thủy. Đò(1) chở khách, không gắn máy mà chèo tay. Trên đò có băng cátxét phát ra những bài ca trù nổi tiếng, do một nghệ sĩ vang bóng một thời còn sống trình bày. Rồi băng ghi âm tiếng mõ, tiếng nam mô a di đà Phật, tiếng nhạc; những bản nhạc hay nhất của cổ nhạc Việt Nam, chơi bằng nhạc khí cổ truyền, và những bài thơ hay nhất về chùa Thiên Hương.


Trần Anh làm tất cả những dịch vụ ấy mà không tăng số lao động. Anh sử dụng lao động tại chỗ theo thời vụ. Hết mùa du lịch, hết hội chùa là hết hợp đồng. Một kỹ sư mới ra trường, Nhà nước trả lương sáu mươi đồng. Một người chèo đò đưa khách viếng chùa Thiên Hương, mỗi ngày lãnh một trăm đồng, trả bằng tiền mặt, sòng phẳng. Đoàn thanh tra bảo, ấy là sai nguyên tắc. Trần Anh trả lời: “Người chèo đò lao động bằng cơ bắp cực nhọc, trong tay họ cầm sinh mạng cả chục du khách. Một trăm đồng còn quá rẻ”.


Việc thuê đoàn nghệ sĩ của Đài Phát thanh Quốc gia dàn dựng để ghi vào băng những bài ca trù, bản nhạc, bài thơ... được trả thù lao gấp một trăm lần chế độ thù lao hiện hành. Đoàn thanh tra bảo, ấy là sai nguyên tắc. Trần Anh trả lời: “Đó là hợp đạo lý, là sòng phẳng. Người ta hát một lần, băng ghi âm phát lại cả ngàn lần, lợi nhuận thu dài dài, vì sao không sòng phẳng với người lao động?”.


Trần Anh đầu tư nửa triệu đồng cho dân dệt vải thổ cẩm. Đoàn thanh tra bảo ấy, là sai nguyên tắc, là đá lộn sân của Liên hiệp xã tiểu thủ công nghiệp. Trả lời: “Cả mấy chục năm nay, có ông Liên hiệp xã nào lo cho dân được mà bảo tôi giành sân? Dân có nghề mà đói ăn, đói thuốc, mù chữ. Công ty tôi đầu tư cho dân đóng khung cửi, mở lớp học, lập bệnh xá, cung ứng lương thực, hàng tiêu dùng... Tất cả những việc ấy là có lợi cho dân, chứ lợi cho kẻ thù hay sao?”. Một mét vải thổ cẩm đáng giá hai mươi lăm đồng, tại sao thu mười đô la? Bắt chẹt khách quốc tế, làm mất thể diện dân tộc! “Không! Hiểu như thế là dốt nát. Trong kinh doanh du lịch, mặt hàng nào không có đối chứng thì có thu với giá thật cao khách vẫn chịu. Ngược lại, mặt hàng có đối chứng như thuốc lá ba số năm, rượu Johnny Walker Black Label cả thế giới đều có thì ta phải bán hạ giá hơn, hoặc tốt nhất là bằng giá bán ở các nước. Nếu anh bán một gói thuốc ba số năm bằng giá thông dụng quốc tế là tám mươi xen thì khách có thể mua cả cây mười gói. Nếu anh chém tới một đô la thì người ta chỉ mua một gói đủ hút để bay qua Băng Cốc là có thuốc giá tám mươi xen rồi”.


Nhưng người ta không chấp nhận những điều Trần Anh giải thích. Nó “chướng” lắm. Nó đi ngược lại những điều đã diễn ra ở đất nước này từ năm 1954 đến giờ. Tất cả những biện pháp Anh làm là sai nguyên tắc, là phủ nhận cơ chế kinh tế của nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa! Cả tỉnh xuất khẩu một năm chỉ được hai trăm ngàn đô la. Riêng công ty du lịch do Trần Anh làm giám đốc, thu một năm được hơn sáu triệu đô la, năm sau thu được mười, và năm thứ ba, khi Trần Anh bị bắt, được mười lăm triệu, đứng thứ tư của ngành du lịch. Mặc dù hiệu quả thu được như thế, nhưng động cơ của Trần Anh bị đánh giá là “phản động”, là phục hồi những di sản của chế độ cũ, khuyến khích nhân dân bỏ sản xuất để đi vãn cảnh chùa. Công sức tu bổ, phát triển thắng cảnh chùa Thiên Hương bị coi là xuất phát từ tư tưởng của bọn địa chủ phong kiến ngóc đầu dậy! Để có đủ mặt hàng nhập ngoại phục vụ khách du lịch ngoại quốc, Anh phải liên doanh với các công ty du lịch có hàng mà không có khách. Riêng biện pháp này, Anh bị lên án là móc ngoặc, buôn bán trái phép hàng ngoại nhập và ngoại tệ.


Tòa án xử Trần Anh ba năm tù vì tội “cố ý làm trái nguyên tắc thể chế hiện hành”. Vào tù, Trần Anh bị nhốt chung với bọn tội phạm hình sự. Anh đã qua nhiều trại giam. Anh không có cú đấm như Đước. Mà nếu có, Anh cũng biết kìm nén vì Anh lớn tuổi hơn Đước, trải đời nhiều hơn Đước. Khi Đước chuyển đến trại này thì Trần Anh đã ở đây được bốn tháng rồi. Vợ con Anh ở xa, xa quá, không vô tù thăm Anh được. Bao nhiêu quà của ông Ba Tràm, Út Thơm và bà con Xẻo Đước lên thăm, Đước đều chia cho Trần Anh. Hai Trung, Tư Phương mang thuốc lá vô, cả hai cùng hút. Mỗi khi Út Thơm đến, Trần Anh từ xa khe khẽ hát bản “Tình ca”. Anh mừng cho Đước có người yêu thật dễ thương. Trò chuyện với Trầm, Trần Anh càng hiểu thêm bản chất tốt đẹp của gia đình Đước. Tình bạn của Trần Anh với Đước trong tù ngày càng đặc biệt. Họ hợp nhau, đoán được ý của nhau, tin cậy và tôn trọng.


Mỗi dịp Trầm vô tù thăm Đước, khi về, ông Hòa đều đến gặp Trầm thăm hỏi. Và lần nào cũng vậy, sau khi kể về anh ruột mình, Trầm lại kể về Trần Anh. Ông Hòa nghe kể về Trần Anh mà lòng xót thương bạn. Trầm đâu có biết rằng, Hòa và Trần Anh đã từng quen thân với nhau từ lâu. Mãi về sau này, Trầm mới biết, khi Trần Anh còn nửa năm nữa mới mãn hạn, Hòa đã bảo lãnh cho Anh ra. Và sau đó, ông nhận Anh về Liên hiệp Dịch vụ Biển.


*


Trầm sắp được đi Liên Xô, Cộng hòa Dân chủ Đức và Bungari ba tháng để học tập kinh nghiệm quản lý và kinh doanh du lịch.


Nếu như Đước được trả tự do, nếu như đã tìm thấy cha, thì việc được xuất ngoại có lẽ là niềm vui lớn của Trầm. Điều này chứng tỏ mặc cảm của anh về sự phân biệt đối xử với trí thức cũ đã bị phá tan. Nhưng người vui nhất là Thiền Lan. Còn một tháng nữa đến ngày Trầm lên đường, Thiền Lan đôn đáo hỏi thăm những người đã từng đi Liên Xô, xem phải chuẩn bị những gì. Cô tự ý lo cho Trầm từ đôi bao tay da, áo khoác lót lông thú, nón len. Trầm có giày rồi, Lan còn mua một đôi giày mới nữa. Mỗi ngày, cô lại khuân về phòng Trầm một thứ. Có bao nhiêu tiền má cho để chuẩn bị ngày cưới, Thiền Lan mua đồ đạc cho Trầm đi xa.


Thấy người yêu vui sướng, Trầm dẹp được nỗi buồn riêng. Hai người bàn tính, sau khi đi ba tháng về, Đước được ra tù rồi, họ sẽ làm lễ cưới.


- Anh mua cho em chiếc nón y hệt chị em Đasa trong phim “Con đường đau khổ” nghe!


- Được mà! Em không dặn, anh cũng mua. Anh đã hình dung được gương mặt tuyệt đẹp của em dưới vành nón ấy.


- Sẽ thế nào?


- Sẽ đẹp hơn cả Đasa!


- Anh giỏi nịnh em không à!


- Thiệt mà!


Hai tay Trầm vuốt ve mái tóc Thiền Lan. Nhìn vào đáy mắt cô, Trầm sung sướng thốt lên:


- Em đẹp nhất trên đời này! Em của anh!


Thiền Lan muốn lịm đi trong cái hôn nồng cháy.


Nhưng đến ngày chót, ngày bay ra Hà Nội để làm giấy xuất cảnh thì bên công an trả lời: Trầm không được đi vì lý do lý lịch, cha là tư sản mại bản đã vượt biên, anh ruột đang ở tù... Người ta cảnh giác, không cho đi.


Trầm nhận được tin ấy, choáng váng. Anh đau xót và uất ức: “Họ không tin mình, vậy mà mình tiếp tục phục vụ ư???”. Trầm dằn vặt mình. Anh đóng cửa nằm lì trong phòng, không tiếp ai. Ông Hòa, ông Mật, Thiền Lan, ai gõ cửa, Trầm cũng không mở.


Ông Hòa vốn là đại tá công an, đã đi gặp những người cần gặp để can thiệp, nhưng vô hiệu. Thế vào chỗ của Trầm là kỹ sư Ngôn. Vợ chồng Ngôn tổ chức một bữa tiệc lớn trước ngày lên đường.


(còn tiếp)


Nguồn: Trả giá. Tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh in lần đầu và lần thứ hai, năm 1988. Các NXB Văn học, NXB Hội Nhà văn… tái bản nhiều lần.


www.trieuxuan.info  


 


 







(1) Ghe, xuồng.




 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
xem thêm »