tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31312262
Những bài báo
19.01.2020
Nhiều tác giả
Ba bài về nhà báo Dương Đức Quảng vừa từ trần


Nhà văn Triệu Xuân: Nhà báo Dương Đức Quảng sinh năm 1945 tại Hà Nội. Anh Quảng cùng làm Phóng viên chiến trường với nhà báo, nhà văn Triệu Xuân tại Trung Trung bộ. Được tin anh Dương Đức Quảng vừa từ trần sáng nay, 19-01-2020, Triệu Xuân cùng toàn thể anh chị em Văn Chương Hồn Việt xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới chị Cao Thị Hòa cùng tang quyến! Cầu mong hương hồn anh siêu thoát, phiêu diêu miền cực lạc!


Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng: Nặng lòng với cuộc đời


- Nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng là một trong số những phóng viên chiến trường xông xáo, nhiệt huyết những năm chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Chiến tranh kết thúc, ông làm báo, làm thơ. Trong mỗi tác phẩm, mỗi hành động của mình, ông vẫn nặng lòng với cuộc sống, với con người, với những đồng đội, đồng nghiệp...


Nhà báo Dương Đức Quảng (thứ 2 trái sang) cùng các nhà văn, nhà thơ: Nguyễn Khắc Phục, Thanh Quế, Trần Vũ Mai tại chiến trường Quảng Đà (1972).


Hôm trước, tôi cùng một số nhà báo vào thăm nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng. Ông không còn nói được nữa. Xung quanh là máy móc, dây dợ. Người bạn, người đồng đội của ông từ chiến trường chỉ kể lại một câu ông thường nói: Chúng ta sống trở về là lãi hơn nhiều đồng đội đã ngã xuống rồi.


Trong cuộc đời, ông luôn hành động giống những gì ông suy nghĩ.


1. Nhà báo Dương Đức Quảng có một ký ức tuổi thơ buồn. Ông sinh ra ở Hà Nội. Mẹ mất khi ông mới chưa đầy 5 tháng tuổi. Sự thiếu thốn, mất mát trở thành nỗi ám ảnh suốt cuộc đời ông. 7 chị em ông được bà bác đưa về Phú Thọ nuôi để bố đi kháng chiến chống Pháp. Lên 10 tuổi, cậu bé Quảng mới được theo bố về Hà Nội, ở trên gác 5, căn hộ chỉ vẻn vẹn 10 m2 khu tập thể 32 Hai Bà Trưng, Hà Nội.


 


Từ nhỏ, ông đã rất mê đọc. Ông thường trốn bố ra lan can cheo leo trên tầng 5 của ngôi nhà tập thể ấy đọc sách. Nhưng trong ông vẫn là nỗi trống vắng, là khát vọng được tìm thấy mẹ. Ông nhớ, lần ấy ông mới 11 tuổi, mới ra đến Hiệu sách Nhân dân ở góc phố Hai Bà Trưng và Hàng Bài bây giờ, để đọc sách ké thì trời đổ mưa bão lớn. Ngẫu nhiên đọc được truyện ''Tìm mẹ'' của Nguyễn Huy Tưởng, ông khóc nức nở. Cậu bé Dương Đức Quảng lặng lẽ đi về trong mưa bão, nước mắt giàn giụa.


 


Bố ông với đồng lương công chức eo hẹp, chỉ báo 3 suất cơm tập thể cho 4 cha con ăn hằng ngày. Người chị kề trên thương bố, sau giờ học, giấu bố rủ em đi bán sách báo dạo để có tiền giúp bố. Ông theo chị, cũng vài cuốn sách, tờ báo lang thang khắp phố, vừa bán vừa được đọc sách báo miễn phí và để có chút tiền mua vé xem phim.


 


Ông trốn bố và chị xuống tận bãi chiếu bóng Lương Yên để xem phim, những bộ phim đã gắn liền với tuổi thơ cô đơn và gian khổ của Dương Đức Quảng. Có một bộ phim khiến ông day dứt mãi. Đó là phim "Vụ án mạng ở phố Dante" của Pháp, kể về một bà mẹ du kích Pháp hoạt động chống phát xít Đức, đã bắn chết đứa con của mình khi nó theo giặc. Ông buồn lắm. Mình là một đứa trẻ không có mẹ, và cả cuộc đời đi tìm mẹ, không hiểu sao lại có một bà mẹ bắn chết đứa con máu mủ của mình???


 


Không phải là người lính trực tiếp cầm súng tham gia chiến trận nhưng suốt tám năm liền Dương Đức Quảng có mặt ở những điểm đầu khói lửa với tư cách là phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam.


 


Năm 1966, đang học năm thứ tư ở Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội chàng sinh viên Hà Nội Dương Đức Quảng và một số bạn học cùng lớp được Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) chọn về học lớp đào tạo phóng viên chiến trường, để rồi sau đó một năm, từ năm 1967 đến hết thời gian chống Mỹ, 8 năm liền làm phóng viên thường trú tại các chiến trường ác liệt nhất miền Bắc lúc bấy giờ là Quảng Bình, Vĩnh Linh, rồi đi B làm phóng viên Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, đi hết cuộc chiến tranh, cho tới ngày Bắc Nam sum họp một nhà.     


 


Chiến tranh với nhiều nỗi mất mát. Với nhà báo Dương Đức Quảng ngoài điều đó thì có thêm một điều lạ kỳ nhất mà nghiệp phóng viên chiến trường mang đến cho ông, chính là một tổ ấm gia đình. Tại chiến trường miền Nam, ông đã gặp và yêu thương một phóng viên TTXVN. Sau giải phóng cả hai về Đà Nẵng và tổ chức cưới. Sau này, vào Nha Trang, ông bà có với nhau một con trai và lấy hai chữ đầu và cuối của Đà Nẵng, Nha Trang để đặt tên cho con mình là Đà Trang. Và hôm nay, cậu con trai mang tên Đà Trang đã nối nghiệp cha mẹ, trở thành một nhà báo có tên tuổi trong làng báo. Anh là nhà báo Dương Đức Đà Trang, Phó Tổng TKTS, Trưởng Văn phòng đại diện Hà Nội của báo Tuổi trẻ thành phố Hồ Chí Minh.


Nhà báo Dương Đức Quảng bật khóc khi thấy lại tấm dù của mình gửi anh Hoàng Quốc Thăng mang ra Bắc nằm lại cùng liệt sĩ Thăng trong hang đá trên núi Hòn Tàu (Quảng Nam) sau gần 40 năm.


 


2. Làm báo rồi đảm nhiệm nhiều chức vụ trong các cơ quan Nhà nước nhưng dù ở vị trí nào, ông vẫn làm báo, vẫn cùng đồng đội của mình đau đáu nỗi niềm kiếm tìm hài cốt những người đồng chí, đồng nghiệp đã hy sinh. Năm 2011, sau gần 40 năm day dứt và trăn trở, đồng chí, đồng nghiệp của ông ở Ban Tuyên huấn tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam – Đà Nẵng trước đây) đã đưa được hài cốt của 5 liệt sĩ, trong đó có hai liệt sĩ nhà báo ở cùng Thông tấn xã Giải phóng Quảng Đà với ông về nơi yên nghỉ cuối cùng.


 


Nhà báo Dương Đức Quảng kể lại câu chuyện về đồng đội trong nghẹn ngào: “Hôm ấy là một ngày gần cuối tháng 5/1972, trong một hang đá trên núi Hòn Tàu, thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, Quảng Đà, nơi đặt điện đài đồng thời là chỗ ở của Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà chúng tôi, có một cuộc “liên hoan” nho nhỏ, chỉ là vài nắm mì chay với một chút cà phê loãng để tiễn một người xuống đồng bằng tham gia chiến dịch và một người ra Bắc chữa bệnh. Người xuống đồng bằng là tôi, Tổ trưởng Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà. Còn người ra Bắc chữa bệnh là anh Hoàng Quốc Thăng, điện báo viên, quê Hải Dương, vào chiến trường từ năm 1964, bị ốm đau, bệnh tật, sức khỏe kém, đang chờ ngày lên đường trở về hậu phương. Ngoài tôi và anh Thăng, Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà còn có anh Võ Công Thu, quê Quảng Nam, là điện báo viên. Đêm ấy, trước khi chia tay để tôi theo giao liên xuống đồng bằng, anh Thăng ôm chặt tôi dặn dò: “Chỉ còn vài ba ngày nữa tôi sẽ được ra Bắc. Ra đến Hà Nội thế nào tôi cũng đến thăm gia đình anh, chuyển quà của ông tới ông cụ thân sinh. Còn anh, xuống dưới đó nhớ cẩn thận và giữ gìn để sớm về với anh em…”. Món quà mà anh Thăng nói sẽ chuyển ngay tới bố tôi khi ra tới Hà Nội là một tấm vải dù của Mỹ tôi được một chiến sĩ Quân Giải phóng tặng sau một đợt tham gia chiến dịch, nay tôi nhờ anh Thăng mang ra Bắc tặng bố tôi, kèm theo bức thư tôi viết, báo tin tôi vẫn còn sống, gia đình yên tâm. Tôi cũng hiểu ý anh Thăng dặn dò phải cẩn thận và giữ gìn, vì trong những năm trước đó, mỗi năm thường có một hai nhà báo hy sinh trên mảnh đất này, còn từ đầu năm đến tháng 5/1972 chưa có nhà báo nào hy sinh! Tôi không ngờ, sau buổi chia tay đó, mãi mãi tôi không còn được gặp lại anh Hoàng Quốc Thăng, anh Võ Công Thu và một số đồng chí, đồng nghiệp khác”.


 


Ông xúc động và bật khóc khi thấy lại tấm vải dù của mình gửi anh Hoàng Quốc Thăng, người bạn đồng nghiệp mang ra Bắc tặng gia đình, đã không ra được miền Bắc, mà phải nằm lại với anh Thăng trong hang đá sau trận bom rải thảm B52 của Mỹ xuống căn cứ Hòn Tàu đêm 22 rạng ngày 23/5/1972!


Nhà báo Dương Đức Quảng và nhà thơ Hồ Ngọc Sơn (phải).


 


3. Dương Đức Quảng làm thơ. Ông không viết nhiều. Thơ, với ông, không cầu sự nổi tiếng, và tôi dám chắc, ông không làm thơ để trở thành nhà thơ. Thơ, với ông là sự ghi lại những rung động trong ký ức. Chiến tranh, những thân phận người, đồng đội, sự sống, cái chết, những chiêm nghiệm về đời sống, nhân tình thế thái. Bất chợt thấy mình lặng lẽ/ Trong tiếng hò reo vang trời/ hay Có phải càng bình dị/ Cuộc đời càng lớn lao...


 


Những câu thơ giản dị nhưng ngẫm sâu sự đời. Và hình như ông không chỉ nói câu chuyện của thơ. Những tình đời, những thân phận, trong câu thơ của ông, gần gụi đấy, hiện hữu đấy, nhưng trong đời sống tất bật hôm nay, mấy ai bận tâm. Nếu ai đó đọc thơ tôi/ Đọc xong vô cảm thì tôi rất buồn. Nỗi buồn của ông khiến tôi giật mình khi sự vô cảm đang chiếm lĩnh tâm hồn mỗi chúng ta.


 


Đối với ông, một ngày được sống trên cuộc đời này, sống và thấm hiểu sự sống của mình đã đánh đổi bằng máu và nước mắt của đồng đội, là một ngày lãi. Nào có đi buôn mà tính lãi/ Cuộc đời lời lỗ mấy ai hay/ Chiến trận bao phen còn sót lại/ Chẳng lãi là chi, lãi từng ngày.


 


Lạ thay, con người đó, đi hết cả cuộc đời vẫn không thoát khỏi những ám ảnh về chiến tranh. Sau này, khi đã nghỉ hưu, ông đã viết liên tục và cho ra đời hai tập sách xúc động về những khuôn mặt của đồng đội năm xưa: Tiếng tụng kinh trong căn nhà vị Tướng, trầm luân nào có chừa ai - Nhà xuất bản Lao Động, 2012.


 


Được tin nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng vừa từ trần, BBT, tập thể cán bộ, phóng viên, nhân viên Báo Đại Đoàn Kết xin chia buồn cùng gia đình nhà báo, nhà thơ Dương Đức Quảng.


A.T. tổng hợp tư liệu


daidoanket.vn


 


Nhà báo - Nhà thơ Dương Đức Quảng qua đời ở tuổi 75


Xuân Vũ


Theo tin từ gia đình, Nhà báo - Nhà thơ Dương Đức Quảng qua đời sáng sớm nay (19/1/2020), đúng ngày sinh lần thứ 75 của ông.


Nhà báo, Nhà thơ Dương Đức Quảng quê quán ở Phú Thọ, sinh ra lớn lên ở Hà Nội, là một trong số những phóng viên chiến trường xông xáo, nhiệt huyết những năm chiến tranh chống Mỹ, cứu nước. Ông là một nhà báo đã hơn 50 năm miệt mài với…chữ; một người đã sống và làm việc giữa hai thời kỳ của đất nước chiến tranh và hòa bình! Gắn bó với nghề báo, ông cho rằng, chính những tháng ngày bom đạn chiến tranh đã khiến ông yêu và đam mê nghề báo trong suốt cuộc đời, dẫu nay bầu trời không còn tiếng súng.


 


Theo đánh giá của nhiều đồng nghiệp được đăng tải trên phương tiện truyền thông: Nhà báo Dương Đức Quảng là một người hiếm có. Ông sẵn sàng từ chối chức tước và không màng danh lợi…”. Tìm hiểu nhiều hơn về ông, tôi biết nhiều điều về một nhà báo không thích ồn ã, lúc nào cũng chỉ muốn khuất mình giữa chốn đông người như điều ông đã gửi gắm vào bài thơ Khuất: “…Khuất sau lưng người khác/Dễ gì tìm được nhau/Khuất sau từng con chữ/Biết bao điều thẳm sâu…”.


 


Ông từng là phóng viên Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) tại chiến trường khu V vào những năm chống Mỹ ác liệt. Năm 1966, đang học năm thứ tư ở Khoa Văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay là Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội), chàng sinh viên Hà Nội Dương Đức Quảng và một số bạn học cùng lớp được Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) chọn về học lớp đào tạo phóng viên chiến trường, để rồi sau đó một năm, từ năm 1967 đến hết thời gian chống Mỹ, 8 năm liền làm phóng viên thường trú tại các chiến trường ác liệt nhất miền Bắc lúc bấy giờ là Quảng Bình, Vĩnh Linh, rồi đi B làm phóng viên Thông tấn xã Giải phóng (TTXGP) ở Quảng Nam, Quảng Ngãi, đi hết cuộc chiến tranh, cho tới ngày Bắc Nam sum họp một nhà.


 


Nhắc đến một kỉ niệm làm báo ở chiến trưởng, nhà báo Dương Đức Quảng kể lại: Tôi là phóng viên viết bài đầu tiên về giải phóng thị xã Quảng Ngãi đêm 24 rạng ngày 25/3 năm 1975, khi theo chân bộ đội địa phương và mũi xung kích vào giải phóng thị xã Quảng Ngãi. Tôi cũng là phóng viên đầu tiên của Thông tấn xã về Sơn Mỹ, nơi đã diễn ra cuộc thảm sát tàn khốc 504 dân thường của quân Mỹ để viết bài về mảnh đất đau thương này sau ngày giải phóng. Sau ngày kết thúc chiến tranh 30/4/1975, một người tìm đến tôi, cho biết: Anh quê Sơn Mỹ, dạy học ngoài miền Bắc. Sau vụ thảm sát Sơn Mỹ anh không hề có tin tức gì của gia đình, không biết mẹ anh còn sống hay đã mất. Ngay sau ngày giải phóng Quảng Ngãi, anh được đọc bài báo Về Sơn Mỹ giải phóng của tôi in trên báo Nhân Dân, trong đó tôi nhắc đến tên mẹ anh, anh mới biết mẹ anh còn sống. Anh cảm ơn tôi vì tôi là người đầu tiên thông báo cho anh tin vui đó sau bao nhiêu năm anh không nhận được tin tức của gia đình. Tôi thật vui và cảm động, hiểu rằng hạnh phúc của nhà báo chính là có những phút giây như thế.


 


 Nhớ lại những ngày làm báo thời chiến tranh ở Quảng Bình, Vĩnh Linh, Quảng Nam, Quảng Ngãi, nhà báo Dương Đức Quảng luôn nhắc đến các đồng chí, đồng nghiệp đã ngã xuống trên vùng đất này. Ông là một trong những nhà báo đầu tiên trên chiến trường Quảng Ngãi trước đây tổ chức việc viết báo, quay phim, đưa câu chuyện về sự trở về của cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm trở thành một sự kiện truyền thông lớn nhất trong năm 2005. Sau chiến tranh,  ông công tác tại TTXVN, rồi chuyển  sang Văn phòng Chính phủ đảm nhiệm chức Vụ trưởng, Giám đốc Trung tâm thông tin báo chí, sau đó ông được mời về làm Trưởng ban Thông tin Truyền thông của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam và sau đó ông nghỉ ngơi để có thời gian vui vầy cùng vợ, các con, các cháu.


 


Nhưng dù ở vị trí nào, ông vẫn làm báo, vẫn cùng đồng đội của mình đau đáu nỗi niềm kiếm tìm hài cốt những người đồng chí, đồng nghiệp đã hy sinh. Năm 2011, sau gần 40 năm day dứt và trăn trở, đồng chí, đồng nghiệp của ông ở Ban Tuyên huấn tỉnh Quảng Đà (Quảng Nam – Đà Nẵng trước đây) đã đưa được hài cốt của 5 liệt sĩ, trong đó có hai liệt sĩ nhà báo ở cùng Thông tấn xã Giải phóng Quảng Đà với ông về nơi yên nghỉ cuối cùng. Nhà báo Dương Đức Quảng kể lại câu chuyện về đồng đội trong nghẹn ngào: “Hôm ấy là một ngày gần cuối tháng 5/1972, trong một hang đá trên núi Hòn Tàu, thuộc xã Duy Sơn, huyện Duy Xuyên, Quảng Đà, nơi đặt điện đài đồng thời là chỗ ở của Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà chúng tôi, có một cuộc “liên hoan” nho nhỏ, chỉ là vài nắm mì chay với một chút cà phê loãng để tiễn một người xuống đồng bằng tham gia chiến dịch và một người ra Bắc chữa bệnh. Người xuống đồng bằng là tôi, Tổ trưởng Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà. Còn người ra Bắc chữa bệnh là anh Hoàng Quốc Thăng, điện báo viên, quê Hải Dương, vào chiến trường từ năm 1964, bị ốm đau, bệnh tật, sức khỏe kém, đang chờ ngày lên đường trở về hậu phương. Ngoài tôi và anh Thăng, Tổ phóng viên TTXGP Quảng Đà còn có anh Võ Công Thu, quê Quảng Nam, là điện báo viên. Đêm ấy, trước khi chia tay để tôi theo giao liên xuống đồng bằng, anh Thăng ôm chặt tôi dặn dò: “Chỉ còn vài ba ngày nữa tôi sẽ được ra Bắc. Ra đến Hà Nội thế nào tôi cũng đến thăm gia đình anh, chuyển quà của ông tới ông cụ thân sinh. Còn anh, xuống dưới đó nhớ cẩn thận và giữ gìn để sớm về với anh em…”. Món quà mà anh Thăng nói sẽ chuyển ngay tới bố tôi khi ra tới Hà Nội là một tấm vải dù của Mỹ tôi được một chiến sĩ Quân Giải phóng tặng sau một đợt tham gia chiến dịch, nay tôi nhờ anh Thăng mang ra Bắc tặng bố tôi, kèm theo bức thư tôi viết, báo tin tôi vẫn còn sống, gia đình yên tâm. Tôi cũng hiểu ý anh Thăng dặn dò phải cẩn thận và giữ gìn, vì trong những năm trước đó, mỗi năm thường có một hai nhà báo hy sinh trên mảnh đất này, còn từ đầu năm đến tháng 5/1972 chưa có nhà báo nào hy sinh! Tôi không ngờ, sau buổi chia tay đó, mãi mãi tôi không còn được gặp lại anh Hoàng Quốc Thăng, anh Võ Công Thu và một số đồng chí, đồng nghiệp khác”. Ông xúc động và bật khóc khi thấy lại tấm vải dù của mình gửi anh Hoàng Quốc Thăng, người bạn đồng nghiệp mang ra Bắc tặng gia đình, đã không ra được miền Bắc, mà phải nằm lại với anh Thăng trong hang đá sau trận bom rải thảm B52 của Mỹ xuống căn cứ Hòn Tàu đêm 22 rạng ngày 23/5/1972!


 


Trải qua không ít những nỗi đau, nỗi mất mát trong chiến tranh, thời bình, lúc nào ông cũng đau đáu nghĩ đến những công việc tri ân, nhớ về đồng đội, đồng nghiệp một thời. Cầm trên tay cuốn sách “Tri ân Nhà báo – Liệt sỹ”, tôi đọc bài viết của ông đầy xúc động về hai nhà báo- liệt sỹ hy sinh tại chiến trường miền Nam là Phạm Vũ Bình và Vũ Phạm Chuân. Những trang viết mà ở đó không chỉ có những sự kiện sôi động của một thời đạn lửa mà còn thấy cả tấm lòng ông dành cho những đồng nghiệp, đồng chí đã nằm lại nơi chiến trường. Gắn bó với nghề báo suốt gần 45 năm, ông vẫn cho rằng, chính những tháng ngày bom đạn chiến tranh đã khiến ông yêu và đam mê nghề báo trong suốt cuộc đời, dẫu nay bầu trời không còn tiếng súng. Thế nên, hơn 70 tuổi, tôi vẫn thấy nhà báo Dương Đức Quảng miệt mài viết, miệt mài làm việc.


 


Cách đây mấy năm khi đọc một bài báo viết về sự hy sinh của hơn 200 chiến sĩ Trung đoàn 207 Quân khu 8, phần lớn là bộ đội miền Bắc, sinh viên các trường đại học nhập ngũ vào chiến trường, ở ấp Đá Biên, Long An năm 1973, nhưng nay phần lớn vẫn chưa tìm được hài cốt và cũng chưa có nơi xứng đáng thờ phụng và tưởng niệm anh em, nhà báo Dương Đức Quảng rất xúc động. Ông đã đề xuất và được Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam chấp thuận, ủng hộ tài trợ 5 tỷ đồng để xây Nhà bia ghi danh và tưởng niệm các liệt sĩ tại ấp Đá Biên. Và sau này, hầu như năm nào ông cố gắng trở lại nơi đây thắp hương tưởng niệm các liệt sĩ. Có lẽ, những việc như thế làm dịu bớt nỗi đau trong lòng ông mỗi khi nghĩ tới các đồng chí, đồng nghiệp của mình đã hy sinh. “Soi vào mắt đồng đội/Để thấy mình hôm nay”! Ông đã viết như thế về đồng chí, đồng nghiệp và về chính mình trong cuộc sống hôm nay.


Cơn bạo bệnh đã cướp đi rất nhanh Nhà báo - Nhà thơ Dương Đức Quảng - một trái tim đa cảm, giàu nghị lực, một con người nghiêm cẩn, thận trọng trong công việc.


19/01/2020 09:52 GMT +7    


Xuân Vũ


Vanhien.vn


 


Nhà báo Dương Đức Quảng - Gối chỉ quỳ một lần, duy nhất...


12:02 05/02/2013


Khi tôi về công tác ở Báo Công an Nhân dân thì ông đã rời vai trò cố vấn của tờ An ninh thế giới, Cảnh sát toàn cầu tuần, sang làm truyền thông cho VietinBank, một ngân hàng lớn. Nhưng ấn tượng về con người lịch lãm, gần gụi, nhiều suy tư đã giữ lại trong tôi những ký ức đẹp về ông, nhà báo Dương Đức Quảng.


 


 


Một nhà báo được tôi luyện từ trong chiến trường khói lửa, trở về thời bình, đảm nhiệm những trọng trách lớn trong làng báo, nhưng những ký ức chiến tranh vẫn là nỗi ám ảnh trong ông. Tâm thế đó, khiến tôi có cảm nhận, ông sống trong đời rất nhẹ nhõm. Bởi ông thấu hiểu được lẽ đời, nên tránh được cái hư danh, ồn ào của đời sống.


 


1. Một buổi chiều cuối năm, nhà báo Dương Đức Quảng ngồi với tôi, lặng yên, trầm tư. Bao giờ ông cũng vậy, bình thản và thư thái trước mọi nỗi của sự đời. Có lẽ không phải đến bây giờ, khi đã gác lại mọi vinh hoa, phú quý ở đời, ông mới bình thản đến vậy. Mà tôi tin, ông đã đến và sống trong đời sống này với một tâm thế biết coi nhẹ mọi thứ. Nhưng đấy là tâm thế của một con người thấu hiểu lẽ đời và sự phù du của kiếp người. Thế nên, con người đó, cũng biết đứng ngoài những hư danh, ồn ã của đời sống, và cất cho mình một góc riêng của ký ức.


 


Nhà báo - nhà thơ Dương Đức Quảng không còn là cái tên lạ với nhiều người, mặc dù ông rời chốn quan trường đã lâu. Nhưng đó là cuộc đời của một con người đi ra từ chiến trận, mang trong mình nỗi ám ảnh về chiến tranh và tuổi thơ nhiều mất mát.


 


Trong cuốn tự sự dang dở về cuộc đời mình, ông đã viết: "Tôi, từ đứa trẻ mồ côi mẹ khi chưa đầy 5 tháng tuổi, trải qua tuổi thơ nhọc nhằn, nghèo khổ trong chiến tranh chống Pháp, đến chàng sinh viên Khoa Văn của Trường Đại học Tổng hợp danh giá một thời. Từ những năm tháng lăn lộn trong suốt cuộc chiến tranh chống Mỹ ở dải đất miền Trung: Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi… với "mưa bom, bão đạn" và những ngày đói quay đói quắt, hàng tuần lễ không biết đến hạt gạo là thế nào đến những ngày được biết thế nào là dạ tiệc ở "chốn cung đình"; Từ cuốc bộ rạc cẳng, ngồi xe bò, xe trâu đi học, hoặc kẽo kẹt trên chiếc xe đạp cà khổ, "vành cong, lốp quấn", đi làm, đến những lần ngồi máy bay chuyên cơ cùng các VIP vượt đại dương "vi vu" tới nhiều nước trên thế giới; Từ ngủ bờ, ngủ bụi, nằm hầm tránh các đợt máy bay B.52 ném bom vào căn cứ, hay ngâm mình trong bãi bói dọc sông Thu Bồn ở Quảng Đà (Quảng Nam-Đà Nẵng bây giờ) hàng tuần lễ, thấp thỏm lo đến thót tim mỗi khi máy bay trực thăng HU.1A của Mỹ quần thảo trên đầu, cứ nghĩ họng súng liên thanh trên máy bay đang chĩa xuống sắp nhả đạn vào đầu mình, đến những đêm ngả mình trên đệm êm chăn ấm trong phòng máy lạnh khách sạn 5 sao ngay tại thủ đô Wahsington DC của Mỹ khi được mời là khách VIP sang thăm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ"... Chỉ mấy dòng mà đã đủ cho một đời người.


Đại tướng Chu Huy Mân, vợ chồng nhà báo Dương Đức Quảng với cựu binh Mỹ Fred và bà Doãn Ngọc Trâm.


Đôi lúc tôi tự hỏi đằng sau vẻ hào hoa, lịch lãm của ông, sau cái vẻ chỉn chu nghiêm ngắn của một quan chức ấy là gì. Một nỗi cô đơn không ai chạm tới. Một khát vọng được thành thật với chính mình, được là mình. Dương Đức Quảng làm thơ. Ông không viết nhiều. Thơ, với ông, không cầu sự nổi tiếng, và tôi dám chắc, ông không làm thơ để trở thành nhà thơ. Thơ, với Dương Đức Quảng là sự ghi lại những rung động trong ký ức. Chiến tranh, những thân phận người, đồng đội, sự sống, cái chết, những chiêm nghiệm về đời sống, nhân tình thế thái. Bất chợt thấy mình lặng lẽ/ Trong tiếng hò reo vang trời/ hay Có phải càng bình dị/ Cuộc đời càng lớn lao...


 


Những câu thơ giản dị nhưng ngẫm sâu sự đời. Và hình như Dương Đức Quảng không chỉ nói câu chuyện của thơ. Những tình đời, những thân phận, trong câu thơ của ông, gần gụi đấy, hiện hữu đấy, nhưng trong đời sống tất bật hôm nay, mấy ai bận tâm. Nếu ai đó đọc thơ tôi/ Đọc xong vô cảm thì tôi rất buồn. Nỗi buồn của ông khiến tôi giật mình khi sự vô cảm đang chiếm lĩnh tâm hồn mỗi chúng ta.


 


Đối với Dương Đức Quảng, một ngày được sống trên cuộc đời này, sống và thấm hiểu sự sống của mình đã đánh đổi bằng máu và nước mắt của đồng đội, là một ngày lãi. Nào có đi buôn mà tính lãi/ Cuộc đời lời lỗ mấy ai hay/ Chiến trận bao phen còn sót lại/ Chẳng lãi là chi, lãi từng ngày. Dương Đức Quảng không kể về thời vinh hoa của mình, khi ông là Vụ trưởng Vụ Thông tin báo chí, Tổng Biên tập đầu tiên Trang tin điện tử của Chính phủ và nhiều trọng trách khác trong làng báo.


 


Lạ thay, con người đó, đi hết cả cuộc đời vẫn không thoát khỏi những ám ảnh về chiến tranh. Sau này, khi đã nghỉ hưu, ông đã viết liên tục và cho ra đời hai tập sách xúc động về những khuôn mặt của đồng đội năm xưa: Tiếng tụng kinh trong căn nhà vị Tướng, trầm luân nào có chừa ai - Nhà xuất bản Lao Động, 2012. Trong đó, có nhiều câu chuyện xúc động về cuốn nhật ký của liệt sĩ Đặng Thùy Trâm mà ông chính là người khởi xướng và cùng với một số anh em văn nghệ sĩ báo chí ở chiến trường Khu V trước đây viết bài, làm phim, đưa câu chuyện về nhật ký Đặng Thùy Trâm ra trước công chúng, để rồi câu chuyện về cuốn Nhật ký ấy trở thành sự kiện truyền thông lớn nhất nước năm 2005.


2. Dương Đức Quảng có một ký ức tuổi thơ buồn. Ông sinh ra ở Hà Nội. Mẹ mất khi ông mới chưa đầy 5 tháng tuổi. Sự thiếu thốn, mất mát trở thành nỗi ám ảnh suốt cuộc đời ông. 7 chị em Dương Đức Quảng được bà bác đưa về Phú Thọ nuôi để bố đi kháng chiến chống Pháp. Lên 10 tuổi, cậu bé Quảng mới được theo bố về Hà Nội, ở trên gác 5, căn hộ chỉ vẻn vẹn 10m vuông khu tập thể 32 Hai Bà Trưng, Hà Nội.


 


Từ nhỏ, Dương Đức Quảng đã rất mê đọc. Ông thường trốn bố ra lan can cheo leo trên tầng 5 của ngôi nhà tập thể ấy đọc sách. Nhưng trong ông vẫn là nỗi trống vắng, là khát vọng được tìm thấy mẹ. Ông nhớ, lần ấy ông mới 11 tuổi, mới ra đến Hiệu sách Nhân dân ở góc phố Hai Bà Trưng và Hàng Bài bây giờ, để đọc sách ké thì trời đổ mưa bão lớn. Ngẫu nhiên đọc được truyện ''Tìm me''å của Nguyễn Huy Tưởng, ông khóc nức nở. Cậu bé Dương Đức Quảng lặng lẽ đi về trong mưa bão, nước mắt giàn giụa.


 


Bố Dương Đức Quảng với đồng lương công chức eo hẹp, chỉ báo 3 suất cơm tập thể cho 4 cha con ăn hằng ngày. Người chị kề trên thương bố, sau giờ học, giấu bố rủ em đi bán sách báo dạo để có tiền giúp bố. Dương Đức Quảng theo chị, cũng vài cuốn sách, tờ báo lang thang khắp phố, vừa bán vừa được đọc sách báo miễn phí và để có chút tiền mua vé xem phim.


 


Ông trốn bố và chị xuống tận bãi chiếu bóng Lương Yên để xem phim, những bộ phim đã gắn liền với tuổi thơ cô đơn và gian khổ của Dương Đức Quảng. Có một bộ phim khiến ông day dứt mãi. Đó là phim "Vụ án mạng ở phố Dante" của Pháp, kể về một bà mẹ du kích Pháp hoạt động chống phát xít Đức, đã bắn chết đứa con của mình khi nó theo giặc. Ông buồn lắm. Mình là một đứa trẻ không có mẹ, và cả cuộc đời đi tìm mẹ, không hiểu sao lại có một bà mẹ bắn chết đứa con máu mủ của mình???


 


Không phải là người lính trực tiếp cầm súng tham gia chiến trận nhưng suốt tám năm liền Dương Đức Quảng có mặt ở những điểm đầu khói lửa với tư cách là phóng viên chiến trường của Thông tấn xã Việt Nam. Đang học năm thứ 4 Khoa Văn Đại học Tổng hợp thì Dương Đức Quảng được điều động vào chiến trường. Ngày đó, những định kiến về giai cấp tiểu tư sản đã khiến ông gặp nhiều khó khăn trong việc kết nạp Đoàn.


 


Học đến năm thứ 3 đại học, sau nhiều thử thách, cứ chiều chiều lại xách cái loa tay bằng nhôm leo lên chòi cao ở xóm Tràng Dương, Đại Từ, Thái Nguyên - nơi trường sơ tán, để đọc tin chiến thắng ở miền Nam; miệt mài hàng tháng như thế, Dương Dức Quảng mới được kết nạp vào Đoàn. Ông đã khóc, và có một chút tủi phận vì "thành phần tiểu tư sản" của mình!


 


Sau đó vài tháng, ông được điều động vào Quảng Bình, Vĩnh Linh - Quảng Trị làm phóng viên Thông tấn xã Việt Nam trong những năm 1967 - 1971 của thời kỳ chống chiến tranh phá hoại ác liệt nhất của Mỹ ở Khu IV cũ. Ngay cả khi vào đến Quảng Bình, Vĩnh Linh - Quảng Trị, đối mặt với cái chết, nhiều người vẫn đánh giá đó chỉ là ngọn lửa bồng bột "tiểu tư sản" của tuổi trẻ, chắc ông, một thanh niên thành phố Hà Nội sẽ không chịu nổi gian khổ của chiến trường.


 


Nhưng rồi ở đó, trong mưa bom bão đạn, trong căn hầm chật chội dưới lòng một con suối cạn gần nhà thờ Sen Bàng, Bố Trạch, Quảng Bình, nơi cơ quan ông đóng quân, ông đã hiểu thế nào là cái chết cận kề khi hai người bạn của ông đã ngã xuống trên mảnh đất này. Chàng trai trẻ Dương Đức Quảng hiểu, trong chiến tranh chết và sống như một lẽ đương nhiên. Và ông đã bám trụ kiên cường ở đó cho đến năm 1971 lại tiếp tục chặng đường vào chiến trường miền Nam chống Mỹ.


 


Nhưng có lẽ, ký ức chiến tranh ám ảnh trong Dương Đức Quảng và trên những trang viết sau này của ông hơn cả khi ông được điều vào chiến trường miền Nam thay vì đi học ở Cu Ba để có thể trở thành phóng viên quốc tế của Thông tấn xã Việt Nam. Bố ông từng nói: "Đi nước ngoài sau này có thể con có rất nhiều cơ hội. Nhưng cơ hội để tham gia cùng nhân dân trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc chỉ có một mà thôi". Ba tháng ròng rã hành quân vượt Trường Sơn, gian khổ, đói rét. Sau này, thậm chí đối mặt với cái chết, những trận càn, những cuộc bị địch bao vây hàng tuần lễ ở Quảng Đà, nhưng ông nói, ông có thể ngẩng cao đầu khi trở lại chiến trường xưa.


 


Vì thế, điều ám ảnh ông nhiều nhất là con người trong chiến tranh, đối diện với sự hèn nhát, sợ hãi và lòng dũng cảm - giữa sự sống và cái chết. Ông vẫn da diết nghĩ đến những người lính, những đồng nghiệp của mình đã ngã xuống trong chiến tranh mà đến nay hài cốt vẫn còn nằm đâu đó, chưa được về với gia đình. Ông là người đề xuất để VietinBank tài trợ 5 tỷ đồng xây dựng Khu tưởng niệm các liệt sĩ Trung đoàn 207 - phần lớn là sinh viên các trường đại học ở Hà Nội nhập ngũ, hy sinh năm 1973 tại Đá Biên, Long An, để công trình ấy được khánh thành đúng vào ngày giỗ lần thứ 39 của các anh thật khang trang, to đẹp giữa mênh mông sông nước Đồng Tháp Mười hôm nay.


 


Và tôi thiển nghĩ, với những người lính đã vượt qua được cái chết bằng sự can trường, dũng cảm của mình (chứ không phải bằng sự đớn hèn) thì trở về trong thời bình, họ vẫn giữ được khí phách hiên ngang mà những bon chen, thị phi không thể làm họ gục ngã. Như câu thơ mà Dương Đức Quảng từng viết: "Gối chỉ quỳ/ Một lần/ Duy nhất/ Là lúc đưa Cha về với Mẹ cuối trời".


 


Dương Đức Quảng có một ngôi nhà bình yên để trở về. Người vợ của ông là một đồng đội, đồng nghiệp năm xưa. Họ yêu và lấy nhau từ trong chiến trường miền Nam. Cuộc sống dường như là đủ đầy. Dẫu tôi biết, trong sâu thẳm tâm hồn một người lính - một nghệ sĩ ấy vẫn là những góc khuất không ai chạm tới. Khuất cánh gà sân khấu/ Thấy người xem khóc cười/Khuất sau từng vở diễn/Chênh vênh bao phận người./Khuất sau bao người khác/Dễ gì tìm được nhau/Khuất sau từng con chữ/Biết bao điều thẳm sâu./ Khuất trong đêm lặng lẽ/Một đoá quỳnh đơn côi/Khuất nẻo đường gió bụi/ Có ai còn đợi tôi?


 


Khánh Linh


cstc.cand.com.vn


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Khi sự thật lên tiếng - Tư liệu sưu tầm 22.02.2020
Bắc cầu vào ‘ốc đảo’ cho con đi học ở Long An: Không thể - Tư liệu 22.02.2020
Chữ Quốc ngữ với các phong trào duy tân đất nước đầu thế kỷ XX - Đào Tiến Thi 22.02.2020
Chuyện chữ nghĩa: Chữ “Tiểu” trong “tiểu học” có phải nghĩa là “nhỏ”? - Đào Tiến Thi 22.02.2020
Mãi mãi thương nhớ nhà thơ Trần Ngọc - Triệu Xuân 19.02.2020
Lạng Sơn: Miền ký ức mãi còn thao thức - Trần Mai Hưởng 17.02.2020
3 bài về Liệt sỹ nhà báo, nhà văn Bùi Nguyên Khiết - Nhiều tác giả 17.02.2020
Theo dấu chân Bùi Nguyên Khiết - Mã A Lềnh 17.02.2020
Nhà văn, nhà báo Bùi Nguyên Khiết hy sinh vì...hết đạn tại Mường Khương, Lào Cai! - Lê Phương Liên 17.02.2020
Du Tử Lê - Đỗ Quyên 16.02.2020
xem thêm »