tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Năm 2019, Green Leaf VN có hơn 500 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới, đạt 150 ngàn lượt xuất bãi. Tỷ lệ đón khách thành công, đúng giờ đạt 99.97%.

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 31324322
Tiểu thuyết
10.01.2020
Constant Virgil Gheorghiu
Cơ may thứ hai


CUỐN SÁCH VỀ SỰ ĐẮM CHÌM VÀO BÓNG TỐI


Bác sĩ Ante Petrovici là kẻ hạnh phúc nhất trong số những người di tản Châu Âu. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông ta đã trở thành một con người tai mắt tại Achentina.


Ante Petrovici là sở hữu chủ của xí nghiệp sản xuất đồng hồ lớn nhất châu Mỹ Latinh.


Mỗi nhà đều có những đồng hồ đánh thức, những đồng hồ treo, đồng hồ đeo tay do xưởng ông chế tạo. Ante Petrovici rất giàu.. Ông đã trở thành công dân Achentina. Bạn bè ông khuyến khích ông tham gia chính trị.


Trong lúc này, bác sĩ Petrovici đang kiểm tra nhà máy của mình mỗi ngày như thường lệ. Đây là một kiến trúc đồ sộ, siêu hiện đại, vừa được hoàn thành mấy tháng nay. Ông vào các bàn giấy, các phân xưởng, các kho giờ hàng. Các nhân viên và công nhân chào hỏi ông thân mật. Thành đạt của ông là một cái gì đó có tính chất hiếm hoi. Khởi đầu là hai bàn tay trắng, vậy mà chỉ trong vài ba năm ông đã nghiễm nhiên trở thành sở hữu chủ của cái xí nghiệp khổng lồ này. Ông đọc cho thư ký viết một số thư, rồi ông đi xuống đường. Tài xế đưa ông xuống khu biệt thự thành phố Buenos Aires và dừng xe trước một ngôi nhà có đóng một cái biển mang dòng chữ “BỆNH VIỆN THẦN KINH TƯ CỦA BÁC SĨ BRUNN”. Tài xế quay trở về nhà máy. Ante Petrovici xúc động bước vào trong bệnh viện.


Giám đốc bệnh viện này, một người Thụy Sĩ - bác sĩ Rudolf Brunn - là một người bạn lớn của Ante Petrovici.


Giờ đây, Rudolf Brunn đang ở một mình trong bàn giấy với Ante Petrovici. Hai người cùng tuổi. Bác sĩ thì to cao, tóc hung. Ông thuộc nòi giống những người lao động cần cù, theo đạo Tin lành, tính tiết kiệm. Ông ta yêu tôn giáo và yêu công việc.


- Tôi đã chuẩn bị mọi điều cần thiết để chuyển các vali của tôi đến nội sáng hôm nay. - Ante Petrovici nói. - Tình thế rõ ràng rồi. Hôm qua tôi đã nói chuyện với ông giám đốc sở Cảnh sát. Kể từ hôm nay, tôi chờ đợi trở thành đối tượng của một lệnh tống giam. Những điểm chính người ta buộc tội tôi là: man khai trước một tiểu ban di tản và đổi quốc tịch; man khai với Bộ công nghiệp và Bộ thương nghiệp. Cuộc điều tra tiến hành trên cơ sở nhiều bản tố cáo đã làm xong. Người ta đang chờ để bắt tôi, kết án tù và trục xuất tôi.


- Đừng nói quá! - Bác sĩ Rudolf Brunn nói - Người ta không thể khiển trách anh điều gì về tất cả những chuyện đó. Có lỗi chăng chỉ vì anh đã thay đổi một vài thời điểm của anh ở Châu Âu hòng được di tản ra nước ngoài. Một tờ khai không đúng sự thật trong một lúc tuyệt vọng, không có chủ định phạm pháp. Anh tới đây đã hòa nhập ngay vào với xã hội và trở thành một trong những nhân vật có nhiều công trình xây đắp cho xã hội hơn cả. Mọi nước đều cần những con người như anh. Trường hợp của anh sẽ trở thành một chủ đề tranh luận tại Quốc hội. Mới hôm qua, Ngài Tổng thống đã khẳng định với chúng tôi, thông qua một ông bạn chung, rằng vấn đề đó đã xếp lại rồi. Các giấy tờ của anh sẽ được điều chỉnh và anh có thể trở lại địa vị của anh trong xã hội thôi.


- Nhưng trong thời gian chờ đợi đó, người ta sẽ đến bắt mất tôi. - Ante Petrovici nói - Đi tù thì tôi hết khả năng chịu nỗi nữa rồi. Quá mức chịu đựng của thần kinh.


- Anh sẽ không bị bắt giữ đâu. - Bác sĩ Rudolf Brunn đáp - Bây giờ thì anh hãy ở lại đây trong bệnh viện tư của tôi cho đế ân ngày có lệnh ân xá. Không ai có phép tới bắt anh tại một bệnh viện cả. Sách Cựu ước có ghi rằng: Moise đã yêu cầu những người kế nghiệp ông, một khi trở về Tổ quốc, phải lập ngay những Thành phố Tị nạn làm chỗ nương thân cho những người bị lùng bắt một cách bất công. Trái ngược với thời những xã hội Kinh Thánh, xã hội ngày nay không còn nghĩ gì đến những con người. Ngày nay, những kẻ vô tội thì bị pháp luật giày xéo như một lũ chó rừng. Những nơi duy nhất có thể binh vực cho con người chống lại với pháp luật là những tổ chức như bệnh viện của tôi đây. Ở đây, con người là bất khả xâm phạm. Hãy là vị khách quý của tôi, bạn đồng nghiệp.


Ante Petrovici nhìn lên chiếc đồng hồ treo trên tường.


Chính cái đồng hồ ông đã làm. Sau đó, ông thoáng nhìn thấy mặt mình trên tấm gương. Đôi má của Ante Petrovici bạc phếch. ông đã già đi bao nhiêu. Cái nhìn của ông đã tắt. - Quả tôi không ngờ rằng một ngày kia tội lại phải tới xin nương nhờ cánh cửa của một nhà thương điên! - Ông buồn rầu nói - Công trình của anh đối với tôi như là một việc làm quái đản. Anh là chủ nhân một ngôi nhà của những người điên. Bệnh viện của anh là một cái nghĩa địa của những người chết đang sống. Thế nhưng nếu không đến đây thì người ta bắt tôi. Người ta có thể bắt tôi tại nhà riêng, tại nhà máy, hay ngoài đường. Tôi bắt buộc phải đến chỗ anh. May mà trên thế gian còn có những nơi như thế, cảnh sát không có quyền bén mảng tới. Tôi cũng tin như anh rằng trong giờ khắc này đây, cái nơi duy nhất pháp luật không có quyền bén gót tới chính là nhà thương điên. Ở đây, pháp luật chịu bất lực..Một người điên là một con người tự do. Con người duy nhất không thể bị pháp luật hành hung, giày xéo.


Rudolf Brunn nhìn con mắt của bạn. Ông thấy bạn ông đang bị cơn sốt, và ông yêu cầu Petrovici đi nằm nghỉ.


- Sau những chuyện phiền muộn như thế này, tôi có nổi điên lên cũng là chuyện bình thường thôi. - Ante Petrovici nói.


- Không cứ phải ốm đau mới run. Không nhất thiết phải lên cơn sốt nóng con mắt phải đỏ ngầu. Để rời khỏi Châu Âu và tránh một cái chết mỏi mòn chậm rãi, tôi đã phải dùng biện pháp khai gian. Tôi đã không khai rằng chân tôi bị khập khiễng một vài milimét, rằng tuổi thực tế của tôi có nhiều hơn một vài năm, chiều cao của tôi là 1,57 mét chứ không phải 1,60 mét và tôi không phải tín đồ Kitô giáo. Những điều khai đó chẳng làm thiệt hại gì cho ai và nhất là không gây một chút thiệt hại nào cho Tổ quốc mới của tôi cả. Những chi tiết vụn vặt ngăn cản việc di cư của tôi đâu có trở ngại gì tới việc tôi xây dựng lên nhà máy làm đồng hồ này, cung cấp việc làm cho hàng nghìn con người cùng một lúc, tạo dựng nên một nền công nghiệp mới, làm ra tiền và đi đến vinh quang. Thực tế chứng minh rằng thiếu vòm gan bàn chân phải, người ta vẫn có thể là một yếu tố có ích cho cuộc sống. Nhưng giờ đây, pháp luật xuất hiện, nó muốn đi ngược lại với thực tế. Pháp luật muốn trừng phạt tôi, lấy tiền bạc của tôi, tự do của tôi và trục xuất tôi đi mặc dầu là trái ngược hoàn toàn với thực tế. Vì sao lại cấm tôi di tản chỉ vì chân phải của tôi thiếu chút vòm gang?


Bây giờ thì ai cũng rõ, một người thiếu vòm gang chân phải vẫn làm nên được những công trình mang tính chất xây dựng. Một người có những chiếc răng khập khiễng vẫn có thể làm nên được một cái gì. Tôi, tôi đã làm được như vậy... Cớ sao pháp luật lại muốn trừng phạt tôi? Phải chăng chỉ vì một lẽ duy nhất nó là pháp luật? Đó là một lý do không đầy đủ.


Bác sĩ Rudolf Brunn cùng với Ante Petrovici đi dạo quanh vườn.


- Giá anh biết được, từ khi tôi bước chân tới cái đất Achentina này, tôi đã phải chịu đựng bao nhiêu đau khổ! - Ante Petrovici nói - Gặp một tên cảnh sát ngoài đường, tôi phải dừng bước lại sợ hắn nhìn thấy tôi đi khập khiễng. Vào một cơ quan hay một nơi công cộng, tôi vội vàng tìm một cái ghế để ngồi. Tôi sợ phải đứng. Tôi sợ người ta để ý thấy rằng tôi thấp mất ba phân so với chiều cao trong giấy tờ nhận dạng của tôi. Trong mỗi người phụ nữ tôi ưa, tôi thấy đó có thể là một gián điệp len lỏi vào cuộc đời tình cảm của tôi để biết được có phải tôi là một tín đồ Hồi giáo. Vậy là tôi lánh mặt đàn bà. Tôi đã muốn tới gặp ông tổng thống, thú nhận tất cả và xin khoan hồng về chuyện khai man trước ngày di tản của tôi. Tôi đã không đủ can đảm làm việc đó. Bây giờ thì muộn quá mất rồi. Tôi đành phải ẩn náu trong cái nhà thương điên này, hoặc chấp nhận vào tù và bị trục xuất. Tình thế éo le là như vậy. Tôi đã mệt mỏi lắm rồi. Tôi không còn đâu sức lực nữa để đấu tranh.


Bác sĩ Rudolf Brunn nắm lấy cánh tay Ante Petrovici.


- Chúng ta sẽ sớm tìm ra một lối thoát. Achentina là một đất nước mà con người còn ít nhiều mang tính nhân đạo. Anh có nhiều bạn bè. Anh được nhiều người quý mến. Mọi chuyện sẽ thu xếp được thôi. Đây chỉ là vấn đề thời gian, một vài ngày hay cùng lắm là vài tuần.


Một phụ nữ lịch sự dáng điệu rụt rè bước tới cạnh hai người.


- Thưa bác sĩ, tôi phải thông báo với bác sĩ một điều cấp bách. - Nàng nói (những móng tay đỏ chót của nàng bấm sâu vào làn da trắng bàn tay) - Bác sĩ có thể nghe tôi nói một lúc được không? Việc rất hệ trọng và cấp bách, rất cấp bách.


Bác sĩ Rudolf toan bước đi.


- Một con bệnh của tôi đó. - Ông ta nói - Tên nàng là O’Hara, vợ một kỹ nghệ gia lớn người Anh.


- Tôi cứ nói chuyện với Ngài tuy rằng chưa quen biết và xin Ngài thứ lỗi. - Nàng nói với Ante Petrovici. - Đang xảy ra những sự kiện bất thường và nghiêm trọng, cho nên tôi phải nói. Các ngài có biết họ làm gì không? Chao ôi, thật là kinh khủng! Tối nay, họ muốn thiêu tôi! Họ sắp sửa thiêu sống tôi, đêm nay!


Những móng tay của bà O’Hara càng bấm sâu vào gan bàn tay tái ngắt.


- Thật không thể nào tin được! Thiêu sống một người đàn bà, trong thế kỷ chúng ta? Ngay giữa nền văn minh Kitô giáo? Không thể nào tin được! Xử thiêu sống một người đàn bà! Tôi không biết vì sao tôi bị kết án, vì lý do nào mà bị kết án, không cả biết người kết án tôi là ai! Tôi không biết họ có quyền gì và căn cứ luật pháp nào mà xử án tôi. Đêm nay họ sẽ thiêu sống tôi.


- Ô, thưa bà, không đúng đâu? - Bác sĩ Rudolf nói.


- Bác sĩ muốn an ủi tôi thôi, nhưng là sự thật đó, thưa bác sĩ - Bà O’Hara nói. - Tôi biết chuyện này có vẻ phi lý, không ai tin được. Nhưng tiếc thay nó là sự thật! Họ sắp đem đi thiêu sống tôi!


- Bác sĩ Ante Petrovici đây là bạn thân của tôi. - Bác sĩ Rudolf nói - Ông là một bệnh nhân mới vào. Ông ở phòng ngay cạnh phòng bà.


- Ngài sẽ ở buồng ngay cạnh tôi ư? Nếu Ngài ở buồng cạnh tôi thì Ngài sẽ được chứng kiến. Ngài sẽ thấy tối nay họ đến thiêu tôi. Đây là một hành vi ghê tởm, rùng rợn và không thể nào tin được, trong một thế kỷ văn minh và Kitô giáo. Họ sẽ thiêu tôi mặc dù tôi không làm gì cả. Tôi hoàn toàn đã không làm gì cả. Và cái điều làm tôi sôi tiết nhất là không biết kẻ nào đã kết án tôi. Nếu Ngài ở buồng bên cạnh tôi thì Ngài sẽ là người chứng kiến.


Từng bước nhỏ chậm chạp, bà O’Hara bước đi, móng tay vẫn bấm vào lòng bàn tay nước da mịn màng mà tái nhợt.


- Nàng đã trải qua những vụ oanh tạc ở London. - Bác sĩ Rudolf kể - Trong chiến tranh, nàng đã chịu đựng tất cả một cách thật anh hùng. Từ ngày đến Achentina, chồng nàng là chủ một nhà máy sản xuất xe hơi ở đây, thì nàng ngả bệnh. Người ta đã phải đưa nàng tới nhà thương này. Nàng luôn luôn bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ quyết đoán rằng người ta đã xử tội nàng phải bị thiêu sống. Ngày nào cũng như ngày nào, nàng thức dậy từ năm giờ sáng và tự giày vò mình với cái ý nghĩ trên.


Cuộc gặp gỡ này xúc động Ante Petrovici tận sâu thẳm của tâm hồn. Ông quên khuấy đi rằng ông tới đây là để trốn tránh sự bắt bớ. Ông quên tình huống bản thân ông. Ông nghĩ tới những lời bà O’Hara nói: “Vì sao họ lại kết án tôi bị thiêu sống?” Lidia, vợ của Petrovici, đã bị xử thiêu. Và Lidia đã bị thiêu thực sự.


- Vì sao người ta đã xử thiêu Lidia? - Petrovici tự hỏi mình - Ai đã kết án nàng? Và lấy quyền gì để kết án nàng?


Ai đã kết án Lidia phải bị thiêu sống? Lidia đã bị kết án và đã bị thiêu sống ngay giữa cái thế kỷ Kitô giáo và giữa nền văn minh đang phát triển. Sáu triệu người Do Thái đã bị chết thiêu. Vài triệu người Đức đã bị chết thiêu dưới đống gạch vụn của những thành phố Đức bị máy bay Mỹ ném bom, cùng với mấy triệu người Nhật, người Ba Lan. Vì sao người ta đã thiêu đốt họ? Ai đã xử án họ, nhằm mục đích nào và vì tội gì?


Ngay trong giờ phút hiện tại, có hàng trăm triệu người tị nạn trên mọi nẻo đường thế giới, cả họ cũng đang bị thiêu sống, trên ngọn lửa nhỏ, dần dần: Pierre Pillat, Eddy Thall, Varlaam, Kostaky...


- Anh có nhớ chuyện Candide không? - Ante Petrovici hỏi - Trường đại học Coimbra đã quyết định thỉnh thoảng đốt một người trên ngọn lửa nhỏ để tránh những trận động đất có thể xảy ra. Ngày nay, hàng triệu người cùng một lúc đang bị thiêu, trên ngọn lửa nhỏ, hoặc lửa to nhằm mục đích cho các Chính phủ duy trì với nhau những mối quan hệ hữu hảo. Một vài ngàn quân du kích Nga đã bị người Mỹ thiêu chết để mối tình hữu nghị giữa ông tổng thống Hoa Kỳ với Staline không bị nhạt phai. Tôi đã đích thị nhìn thấy những chuyện này. Một nửa Châu Âu với tất cả thành phố, làng mạc, người và gia súc đã bị dâng cho quân Nga hủy diệt là để cho người Anh có mức sống cao hơn và cho người Mỹ bán được ở món hàng Coca Cola của họ dễ dàng hơn tại Nga. Nhưng bao nhiêu người đã bị giết, người Anh vẫn không có được mức ăn cao hơn mặc dù họ đã bán cho người Nga những con người của Ba Lan, Hungary, Bungary, Estonie, Lettonie, Lithuanie, Phổ, Đức, Albanie... Những nước phương Tây lấy quyền gì để bán cho nước Nga những đất nước nói trên cùng với hàng triệu con người? Người Anh lấy quyền gì để bán cho Nga những người dân nước Lithuanie? Duy nhất chỉ vì những mục đích chính trị. Chính trị, chính là tiếng hát thiên nga của một nền văn minh.


- Hãy bình tĩnh! Anh bạn đồng nghiệp thân mến ơi! - Bác sĩ Rudolf bảo. - Những câu nói của bà O’Hara đáng thương đã gây cho anh một ấn tượng sâu sắc. Tình huống quả là đáng xúc động. Nhưng mà anh phải giữ gìn sức khỏe của anh. Đừng nhìn sự việc bằng con mắt quá bi quan như vậy!


- Bà O’Hara nói đúng. - Ante Petrovici đáp. - Nàng biết mối tai họa lớn của thế giới hiện đại là con người đang bị thiêu sống. Bà O’Hara sẽ không bao giờ bị thiêu sống, nhưng đang cảm thấy mối tai họa đó trong bầu khí quyển tại mọi quốc gia trên toàn cầu. Vợ của tôi không hề sợ, tuy vậy nàng vẫn bị thiêu. Tướng du kích Gisha Costak đâu có biết mình sẽ bị người Mỹ thiêu, nhưng ông ta đã bị người Mỹ thiêu thật. Cái sợ của bà O’Hara là hoàn toàn có căn cứ.


- Nào, nào! - Bác sĩ Rudolf vừa nói vừa nắm lấy cánh tay Ante Petrovici.


Họ lên sân thượng.


- Hàng mấy năm nay, tôi cũng cảm thấy tôi đang bị đốt cháy.- Ante Petrovici nói. - Tôi bị đốt cháy trên ngọn lửa mấy năm nay rồi, bởi vì chân phải của tôi bị ngắn đi vài milimét. Bây giờ thì đám cháy đã bùng lên. Ngày hôm nay, người ta sắp xuống một cái lệnh bắt tôi vì chân phải của tôi hụt vài milimét. Để lẩn tránh bắt bớ, tôi phải nương mình trong một nhà thương điên. Tất cả những nỗi đó, chỉ vì bàn chân phải của tôi phẳng bẹt.


Ante Petrovici ở lại một mình. Ông cầm tờ báo xem: người ta đang nói đến cuộc chiến tranh thánh của Hoa Kỳ tại Triều Tiên. Tướng Mac Arthur đã làm nên những chiến thắng mới chống Cộng sản. Ở cột báo bên cạnh, người ta đọc thấy: Ông chủ tịch Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc - tức người đang chỉ huy cuộc chiến tranh chống Cộng sản tại Triều Tiên là ông Cộng sản Malik. Vậy là Liên hiệp quốc, dưới quyền chỉ huy của Staline do Malik đại diện chống lại Staline. Malik chiến đấu chống Malik. Mac Arthur nhận chỉ thị của Malik để đấu tranh chống lại Malik Ante Petrovici giụi mắt.


Ông nhìn thấy bà O Ham.


- Bà có muốn chúng ta nói chuyện một lúc không? - Ông hỏi.


- Không! Tôi chỉ muốn Ngài hiểu tôi. Trước kia tôi đọc rất nhiều. Tôi đã từng yêu nghệ thuật và cái đẹp. Bây giờ tôi không nói được nữa. Tình huống của tôi thật là đặc biệt. Giờ đây khi tôi biết đêm nay tôi sẽ bị người ta thiêu cháy, Ngài bảo tôi làm sao có thể nói chuyện được nữa và cái khủng khiếp nhất là không biết vì sao mình đã bị xử án và không biết ai đã xử án tôi. Một việc tày trời như vậy làm sao lại có thể xảy ra trong một thế kỷ gọi là văn minh được kia chứ? Không ai có thể giúp đỡ cho tôi và đây quả thật là một tấn bi kịch. Không một ai, không một người nào có thể đến cứu trợ tôi. Tôi quan hệ khá rộng rãi, vậy mà chẳng ai làm gì được cho tôi cả.


Ante Petrovici trở vào buồng mình. Ông suy nghĩ. Ông cũng có nhiều quan hệ rộng rãi ở Achentina. Ông quen tất cả những thành viên của Chính phủ. Và chẳng một ai làm gì được để ngăn cản lệnh bắt giam ông. Khi người ta thiêu sống Lidia thì ông đang làm Bộ trưởng bộ Nội vụ. Ông đã không thể làm gì được cho nàng. Chồng của Milostiva Debora Paternik là Quốc trưởng của Quốc gia độc lập và cũng không làm gì được cho bà. Không ai có thể làm gì được cho ai nữa, tai họa lớn quá mất rồi!


Con người bị thiêu đốt dần dần trên ngọn lửa nhỏ. Vị tướng quân du kích Costak là đồng minh của các nước Đồng Minh và các nước Đồng Minh đã không ngăn cản nổi người ta thiêu sống ông. Không ai có thể làm gì cho ai nữa.


Ante Petrovici cảm thấy cái nhìn của mình nhòa đi, bị đảo lộn. Ông bị choáng, ông nằm dài lên chiếc đi-văng và nhắm mắt lại. Nhưng khi mắt nhắm là lý trí cũng đồng thời tắt đi.


Một đêm tối bao phủ lấy quanh mình ông và giờ đây ông có cảm giác dễ chịu lạ thường. Tinh thần ông đã chết. Và cái chết tinh thần đối với Petrovici chính là một sự hạ xác khỏi cây thập tự. Sự chìm sâu xuống vực tối của ông. Trong bóng tối, có hòa bình và yên tĩnh. Cuộc đóng đinh vào cây thập tự đã chấm dứt rồi. Trong bóng tối, ông cảm thấy dễ chịu. Ante Petrovici không còn bị đóng đinh vào cây thập tự nữa. Lý trí đã đầu hàng và nhường chỗ cho bóng đêm. Ông cảm thấy có một bàn tay đặt lên mình ông. Ông nghe thấy một giọng nói mà không nhớ đã nghe bao giờ.


- Mọi việc đã được xếp đặt ổn thỏa với các nhà chức trách. Việc khiếu tố anh đã được dập tắt. Phu nhân của Tổng thống đã đích thân can thiệp cho anh. Anh có thể đi lúc nào anh muốn. Anh được ân xá rồi.


Bác sĩ Rudolf Brunn rất sung sướng. Ông cầm tay Ante Petrovici.


- Thắng lợi này đáng cho chúng mình mở nút một chai sâm banh! - Ông ta nói - Đây là một thắng lợi lớn. Achentina là một đất nước tuyệt vời không đất nước nào sánh được. Đó là lý do khiến cho tôi tin tưởng vào tương lai của Achentina.


Cái cử chỉ hào hiệp ấy càng tăng thêm vinh dự cho nó. Anh là một con người có phẩm giá cao thượng. Người ta không thể xử án anh vì những chuyện không đâu. Bắt đầu từ hôm nay anh sẽ hạnh phúc. Anh hiểu không, kollega [1]?


Ante Petrovici nhìn lên, thanh thản và thoải mái.


- Anh có vẻ tươi tỉnh hơn - Bác sĩ Rudolf nói. - Anh đã hồi sức lại. Tôi vui mừng cho thắng lợi của anh. Anh xứng đáng chiến thắng. Anh là một bản lĩnh, một bản lĩnh lớn trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người: nhà toán học, nhà luật học, nhà bách khoa và giờ đây nhà kỹ nghệ lớn.


- Có đúng trước kia tôi đã ở Nam Mỹ không nhỉ? - Ante Petrovici hỏi.


- Hiện anh đang ở Nam Mỹ. Anh quên rồi sao?


Con mắt của Ante Petrovici mở to, nhìn vào nơi xa xôi. Ante có vẻ mỉm cười. Trước khi nghe câu trả lời, anh đã không còn chú ý lắng nghe nữa.


- Du bist doch in America [2].- Rudolf cầm tay ông và nói.


Đôi mắt của Ante Petrovici mở to. Ông không nghe gì cả. ông nằm yên tĩnh, chìm sâu trong bóng đêm. Người ta đã hạ xác ông xuống khỏi cây thập tự của mình. Sự đóng đinh vào cây thập tự của ông đã chấm dứt. Lý trí của ông đã chìm vào trong đêm, trong nấm mồ, trong bóng tối.


- Tu es en Amérique du Sud. - Bác sĩ Rudolf Brunn nói - Anh có nghe tôi nói không? You are now in South America.


Nhưng Ante Petrovici không còn hiểu một ngôn ngữ nào nữa. Ông không còn biết gì nữa. Cuộc chiến đấu của ông đã xong... Ông nhìn trong đêm. Lý trí ông đã chìm vào bóng tối.


- Ante, mein Freund - Bác sĩ Rudolf nói - my friend... mon ami... amigo mio.. [3]


Nhưng Ante không còn nghe ông nữa. Ông ta sẽ không còn nghe gì nữa, không bao giờ nghe gì nữa.


___


[1] Bạn đồng nghiệp.


[2] Hiện anh đang ở Nam Mỹ.


[3] Bạn của tôi.


 


CUỐN SÁCH VỀ SỰ KẾT THÚC


Boris Bodnariuk đã rời Paris nhờ có số tiền của ông Voivod. Anh cũng muốn báo trước cho Bucarest biết, nhưng anh đã không làm như vậy. Anh nghĩ khôn ngoan hơn hết là đừng báo cho một ai, cứ việc bí mật trở về rồi tới dự vụ xử án ông Thống soái.


Anh đi qua nước Pháp. Anh đi qua nước Đức. Đêm trước khi vượt qua đất Xô Viết, anh bị quân Mỹ bắt. Anh bị dẫn đến trước mặt Aurel Popesco, bị thẩm vấn, bị tra khảo để khai báo sự thật. Và khi anh thấy mình sắp trầm luân đến nơi thì tập trung những nghị lực cuối cùng để trốn. Thoát khỏi một nhà giam Mỹ là đồng nghĩa với một ý đồ tự sát. Vậy mà anh đã thành công.


Sau khi bấu mình cheo leo dưới một toa tàu hàng, anh đã theo tàu lọt vào được đất Rumani. Boris Bodnariuk đã băng ngang qua đất Hungary và Ba Lan. Anh có ý định tới Bucarest mới xuống. Nhưng chuyến tàu đã dừng bánh ở phía Bắc Rumani. Bodnariuk tới trình diện với viên cảnh sát trưởng thị trấn Molda. Đây là cái huyện đầu tiên của Rumani mà anh đã đưa vào tập thể. Giờ đây, các nông trang tập thể đang hoạt động tại mỗi làng. Đất đai đã được chuyển thành nông trang.


Người ta xây đắp những con đường mới, những nhà máy. Nông dân đã được chuyển thành công nhân.


Boris Bodnariuk nhìn thấy tất cả những cái đó lúc đi ngang qua các làng. Ở Molda đã có một xưởng sản xuất đồ hộp, những máy kéo, một nhà giam xây gạch đỏ và một sân bay.


- Các đồng chí hãy báo cho cấp trên rằng Boris Bodnariuk đã tới trụ sở các đồng chí và yêu cầu được đưa ngay về Bucarest. Tôi chính thức trao bản báo cáo này cho các đồng chí. Tôi đợi ở đây. Tôi không thể nào tiếp tục cuộc hành trình một mình được.


Boris Bodnariuk mặc bộ quần áo rách rưới tả tơi.


Chiếc măng tô da của anh đã bị hỏng. Anh không có tất chân, không có cả sơ mi. Nhưng anh lấy làm vui sướng được trở về giữa những người Cộng sản. Được trở về nhà. Bây giờ đây anh không còn bị bao vây giữa những quân thù nữa. Và bởi anh không còn luôn luôn phải ở tư thế “ai đó?” nữa, cho nên anh cảm thấy người anh kiệt sức, rã rời.


Viên trưởng đồn cảnh sát báo cáo lên cấp trên. Anh nhường buồng riêng của anh cho Boris Bodnariuk, mang quần áo cho anh thay, dọn cho anh ăn uống và gọi bác sĩ tới. Nhưng muộn quá rồi. Boris Bodnariuk chỉ muốn có một ly nước và một cái giường. Anh đang lên cơn sốt và cảm thấy mình không còn đâu hơi sức nữa.


Trưởng đồn cảnh sát Molda là một người Nga trẻ, thuộc lớp vệ binh mới. Anh ta sung sướng được gặp Bodnariuk. Anh tự tạo ra cho mình một mối liên hệ quan trọng.


Bodnariuk là một nhân vật thần thế. Viên đồn trường cảnh sát biết địa vị của mình có thể có sự đổi thay nhờ Bodnariuk. Anh ta săn sóc Bodnariuk hết lòng.


Hôm sau, trước khi Bodnariuk thức dậy, viên trưởng đồn đã lên thành phố để đích thân nhận các chỉ thị của cấp trên về vấn đề Bodnariuk. Giám đốc cảnh sát khu vực đã báo cáo bằng vô tuyến lên cho Bucarest nắm được sự việc rồi. Vài giờ sau đã có điện trả lời: Bucarest không gửi máy bay xuống đón Bodnariuk đâu, ôtô cũng không, xe cứu thương cũng không.


“Ban Tham mưu đã ra lệnh tiến hành cuộc điều tra thường lệ nhằm xác định căn cước của con người tự xưng là Boris Bodnariuk ấy. Sau đó, cứ theo thủ tục. Đây là lệnh”.


- Đồng chí cho rằng ông ta không phải Boris Bodnariuk à? - Viên trướng đồn cảnh sát Molda hỏi.


- Đồng chí được lệnh điều tra căn cước thật của ông ta và thông báo lên trong báo cáo hàng tháng. Vậy thôi, tôi không thể bình luận gì hơn cả. Nhưng khi đó là lệnh, có nghĩa là ông khách của đồng chí chẳng có một liên quan nào với Boris Bodnariuk cả. Đó là một gã bịp bợm.


Viên trưởng đồn cảnh sát trở về đồn, bừng bừng nổi giận.


Boris Bodnariuk vẫn còn ngủ. Người ta dựng anh dậy, gọi vào văn phòng để thẩm vấn.


Bodnariuk đến trước mặt viên trường đồn cảnh sát trong bộ quần áo mới nhận hôm qua, với một chiếc sơ mi sạch sẽ.


Anh đã tắm rửa, đã cạo râu, nét mặt anh tươi tắn hẳn lên. Từ hôm trốn khỏi trại giam của quân Mỹ, anh chưa một đêm nào được ngủ thật ngon lành. Đây là đêm đầu tiên anh có được một giấc mơ thực sự. Cơ thể anh đã phục hồi sức sống kiên cường của nó trước kia. Anh muốn ngồi. Một nụ cười bằng lòng thoáng hiện trên môi anh. Rốt cuộc, anh đã đạt được mục đích.


- Ai cho phép anh ngồi? - Tên trưởng đồn cảnh sát hỏi.


Bodnariuk mà vừa đây được gã viên chức này đối xử như một nhân vật lừng danh. Tưởng y đùa, anh mỉm cười.


Bàn tay của tên trưởng đồn tát mạnh và má Bodnariuk, một tát bên trái, một tát bên phải. Bodnariuk cắn vào môi và máu từ đôi môi chảy giọt xuống cằm. Anh cảm thấy trong miệng có mùi vị bạc hà đăng đắng - cái mùi vị anh đã cảm thấy khi anh bị rơi cùng với chiếc máy bay.


- Người ta không đùa giỡn tôi được đâu. - Tên đội trưởng cảnh sát nói - Tôi đã biết hết sự thực.


Hắn lắc chuông. Một dân quân vào, định chào Bodnariuk trước. Nhưng thoáng thấy miệng anh chảy máu, anh dân quân xấu hổ liền rụt tay khỏi chiếc mũ lưỡi trai. Anh ta nhìn viên trưởng đồn.


- Lột hết quần áo, sơ mi, cà vạt nó ra! Lột hết! Để nó mặc lại những tấm giẻ rách của nó! - Tên đồn trưởng ra lệnh. - Sau thì dẫn nó giam vào hầm kín. Mày nhằm mục đích gì mà dám tự xưng là cựu Bộ trưởng và tên là Boris Bodnariuk hả? - Viên đồn trưởng hỏi.


- Tôi không nói dối. Tôi là Boris Bodnariuk.


Tên đồn trưởng nhảy một phát ra khỏi ghế. Hắn toan đánh Bodnariuk. Tên dân quân đã trở lại với gói quần áo rách và ra lệnh cho Bodnariuk cởi chiếc quần ra.


- Lột nết cả sơ mi, giày, tất tần tật! - Tên dân quân bảo.


Bodnariuk làm đúng như lệnh. Anh cởi trần ra, sau đó anh xỏ chân vào đôi giày ống rách của anh, không tất. Anh khoác tấm áo choàng da lên tấm thân trần và quấn chiếc khăn quàng vào cổ. Anh mặc lại chiếc quần đen thủng lỗ của anh.


- Trả lời! - Tên đồn trưởng ra lệnh.


Một dòng máu chảy từ trên môi xuống tận cằm Bodnariuk, nó cũng đỏ như chiếc khăn quàng của anh trước kia. Giờ đây nó chẳng còn màu gì ra màu gì, nó bẩn. Bodnariuk một lần nữa trở lại rách rưới, bị đánh đập, cảm thấy lần đầu tiên trong đời mình bị người ta làm nhục đến thế.


- Tôi là nạn nhân của một sai lầm nào đây. - Anh nói (anh cố kìm nén sự nổi loạn của mình) - Tôi là Boris Bodnariuk và tôi chỉ nói sự thật.


Tên đồn trưởng nhìn tấm ảnh của Bodnariuk trên một tờ báo cũ và so sánh với nét mặt của con người đang đứng trước mặt hắn. Rất giống. Nhưng cái đó không chứng minh rằng hai người là một.


- Tôi muốn biết sự thật đầy đủ. Tôi không muốn tỏ ra lố bịch trước mặt cấp trên. - Tên cảnh sát nói - Trong lúc tiếp chuyện hôm qua tôi có nhận xét rằng anh không đến nỗi ngu si lắm. Anh còn thông minh hơn nhiều người khác. Anh hãy nói thực cho tôi biết vì sao anh đã dám mạo xưng là Boris Bodnariuk, cựu Bộ trưởng Chiến tranh? Anh đã bịa ra câu chuyện đó nhằm mục đích gì?


- Tôi chỉ nói hoàn toàn sự thật. - Boris Bodnariuk nói.


- Nếu như anh và Boris Bodnariuk là một, thì Bucarest đã gửi máy bay tới đón anh về. Nhưng Bucarest đã chẳng gửi máy bay, gửi xe gì tới cả. Bucarest yêu cầu chúng tôi lập căn cước thật của anh. Anh hiểu chưa? Căn cước thật của anh! Anh là ai? Một cựu Bộ trưởng dù có phạm tội đi chăng nữa vẫn được đưa về Bucarest hoặc Moscow. Tại đó, người ta làm một việc thẩm tra. Và nếu ông ta là kẻ phạm pháp thì người ta treo cổ. Còn anh, chúng tôi đã nhận được lệnh giữ anh lại tại chỗ để điều tra căn cước. Chỉ vẻn vẹn thế thôi. Với một cựu Bộ trưởng, không bao giờ người ta xử lý như vậy Tôi muốn biết sự thật.


Tên đồn trưởng bước tới cạnh Bodnariuk.


- Người ta không cả bảo tôi dành một chế độ gì đặc biệt cho anh. Phiếu bình thường như mọi người thôi.


- Đây là một sự lầm lẫn! - Bodnariuk đáp. - Một sự lầm lẫn nghiêm trọng.


- Không, làm gì có chuyện lầm lẫn! - Tên đồn trưởng nói.


- Cái lầm lẫn duy nhất là cái lầm lẫn của tôi, bởi vì tôi đã tin cái điều anh nói hôm qua. Đó, lầm lẫn là ở chỗ đó. Cái lầm lẫn lớn nhất trong cả đời công tác của tôi.


Hai cái tát mạnh lại giáng vào má Bodnariuk. Anh lảo đảo. Tên đồn trưởng bắt đầu nện những quả đấm lên đầu Bodnariuk. Anh ngã nhào xuống đất. Anh cảm thấy có những mũi giày đá vào đầu, vào hông, vào ngực anh. Cái gót giày giẫm đạp lên anh nóng lắm. Anh cảm thấy cái chân nóng của tên cảnh sát qua làn da của đôi giày.


- Tao muốn mày thú nhận sự thực với tao. - Tên đồn trưởng thét.


Bodnariuk có cảm giác người ta nâng bổng anh lên đưa ra khỏi văn phòng. Rồi anh thấy mình bị ngạt thở. Anh bị ném xuống nền xi măng. Người ta đã đặt lên ngực anh một mảnh ván để khỏi làm gãy xương sườn, rồi một tên dân quân đứng lên trên mà chà mà đạp.


Boris Bodnariuk không rõ cái hành vi dã man đó kéo dài bao nhiêu lâu. Khi tỉnh dậy, anh thấy mình bị đặt nằm trên hai chiếc ghế. Họ đang đánh anh, đang nện vào lòng bàn chân anh.


Lòng bàn chân anh đau như bị một tấm sắt nung đỏ áp vào. Anh cảm thấy bị cháy suốt lên tận đỉnh đầu. Óc não anh bị nát nhừ như thể tấm sắt đỏ cũng dí vào óc não anh vậy.


Khi anh ngã lăn ra đất thì những vết cháy cũng chấm dứt.


- Tao muốn sự thật! - Tên đồn trưởng nhắc lại.


Cái giọng nói ấy cũng làm cho Bodnariuk đau nhói không kém gì những quả đánh vào gan bàn chân.


- Nếu mày không nói sự thật, tao giết mày. Tao giết mày ngay tại chỗ! Và chẳng ai biết là tao giết! Nếu mày muốn cứu lấy cái thân của mày thì hãy nói sự thật!


Boris Bodnariuk muốn nói lại rằng đây là một sự lầm lẫn, nhưng anh không còn hơi sức nói nữa. Vả lại anh cũng không biết có phải đây là một sự lầm lẫn hay không. Anh chỉ biết anh không còn có khả năng chịu đựng nữa rồi. Chỉ muốn chết chứ không muốn bất cứ điều gì khác nữa cả.


Khi anh mở mắt ra lần nữa thì thấy mình đang ở trong một xà lim kín, nằm ngay trên nền xi măng. Xà lim trống trải, không giường, không có gì. Chỉ có những bức tường, những song sắt và cái nền xi măng trên đó anh đang nằm. Anh nhìn xung quanh lâu lắm, rồi anh chẳng nhìn gì nữa, anh không nhìn thấy bàn tay, không nhìn thấy ngực của mình. Anh mân mê sờ lên môi, lên mặt. Anh cảm thấy nó là của anh nhưng lại có cảm giác như mới phát hiện ra nó là những vật xa lạ, ngoài anh. Anh sờ lên trán. Mí mắt, làn môi, đôi má, cái ngực đều nhớt nhát và đau. Boris Bodnariuk lấy ngón tay sờ vào mí mắt.


Mắt trái nhắm. Chết. Anh nhìn thấy ánh sáng bên ngoài nhưng chỉ bằng con mắt phải.


Trên các bức tường xà lim người ta đã vẽ đầy những hình thập tự. Boris Bodnariuk đã nhìn thấy bằng một con mắt. Đó là những hình thập tự vẽ lên thạch cao bằng móng tay. Cũng có một cái tên nữa: Ileana Kostaky. Một hình thập tự trước cái tên, và sau cái tên là một hình thập tự khác. Boris Bodnariuk không nhìn nữa. Những người Kulăc khi họ ở tù thường có thói quen vẽ những hình thập tự lên tường.


Cánh cửa xà lim mở ra, và Bodnariuk có cảm giác người ta nâng bổng anh lên và dìu anh ra phòng làm việc của tên đồn trưởng cảnh sát. Giờ đây, tên cảnh sát đã bình tĩnh. Hắn nhìn tấm áo choàng da của Boris Bodnariuk. Chỉ là một tấm giẻ rách. Chiếc khăn quàng đỏ cũng không còn màu đỏ nữa.


Những đầu ngón chân tê cóng thò ra ngoài mũi giày há mồm.


Boris Bodnariuk không cạo râu, một mắt anh vẫn nhắm. Người anh đầy máu, và cái sẹo trên trán anh giờ đây có vẻ như rộng hơn và đỏ hơn.


- Ta tổng kết lại, đồng chí Bodnariuk? - Tên cảnh sát nói - Có đúng đó là cái tên đồng chí đã chọn cho mình đấy chứ?


- Đó là tên tôi.


- Một cái tên, rất quen thuộc trong lịch sử của Đảng Cộng sản. - Tên cảnh sát nói - Đó là tên của vị cựu Bộ trưởng Chiến tranh, cái tên một vị anh hùng của cuộc đấu tranh giai cấp, của một vị tướng Hồng quân. Một cái tên có mặt trên mọi tờ báo. Tìm một cái tên như thế này chẳng khó khăn gì. Ai cũng biết mà. Ta hãy qua sự việc thôi, và xem xét từng sự việc một.


Bodnariuk cố gắng tập trung hết nghị lực của mình. Anh đã không nghĩ đến trường hợp của anh. Anh chỉ mong muốn rọi được chút ánh sáng vào vấn đề này. Anh chăm chú lắng nghe.


- Khi đến đây, đồng chí có một số lời khai. Yêu cầu đồng chí khai lại.


- Sau khi trốn khỏi trại giam của quân Mỹ, ở Heidelberg, tôi đã bí mật lên tàu đi cho tới lúc tàu đỗ lại mới xuống và đi thẳng về đồn. Trong bản báo cáo giao cho đồng chí, tôi đã ghi rõ từng chi tiết cả cái thời gian biểu của tôi từ lúc bị tai nạn máy bay cho tới ngày hôm nay. Vả lại dễ thôi: đồng chí có thể đối chiếu với những người cộng tác của tôi, so sánh những bức ảnh của tôi, mọi người ai cũng đều biết cả. Người ta có thể xác nhận cả giọng nói của tôi qua điện thoại. Sau khi bị tai nạn, mặt tôi có bị biến dạng ít nhiều, quả vậy, nhưng cái đó không trở ngại gì đến việc xác minh căn cước của tôi. Tất cả những điều tôi yêu cầu có thế. Tôi cũng đã yêu cầu cho tôi được về ngay Bucarest vì tôi có một công việc quan trọng cần thực hiện tại đây.


- Tôi tìm thấy cái đoạn sau đây trong tờ báo cáo mà đồng chí đã viết:


“Sứ mệnh của tôi (diệt tên Thống soái của Quốc gia những người Slaves phương Nam) đã thất bại do tai nạn máy bay mà tôi là người duy nhất sống sót. Tại bệnh viện quân sự mà người ta dẫn tôi tới, tôi đã thấy một người bạn học cũ của tôi là Pierre Pillat - cũng đến sau tôi một lúc. Tôi nghĩ ngay là người ta dẫn Pierre Pillat đến để xác minh lý lịch của tôi. Tôi lập tức trốn khỏi viện, bởi vì các sĩ quan Xô Viết ở Vienne tới thăm tôi đã ra lệnh cho tôi tránh đừng để ai xác minh được tôi là ai. Tôi bèn qua Pháp. Trong thời gian này tôi lấy tên là Boris Neva. Các sĩ quan Xô Viết đã yêu cầu tôi cứ giữ cái tên đó. Tôi đã chấp hành mệnh lệnh và tôi chỉ nói tên thật của tôi một khi đã trở về đất Xô Viết tại Molda. Sở dĩ tôi đã vội vàng rời Paris trở về là để hoàn thành một nhiệm vụ mà tôi được giao phó trong vụ án ông Thống soái”.


Tên cảnh sát dừng lại.


- Nhiệm vụ ấy là gì?


- Nhiệm vụ do Đảng giao phó và tôi đã nhận được qua các sĩ quan Xô Viết đã đến thăm tôi tại bệnh viện. Trong vụ án này, tôi đóng vai người bị cáo chính. Tôi phải tự buộc tội bản thân tôi để tố giác tất cả những chuyện phản bội của tên Thống soái. Tôi đã chịu mọi sự hy sinh để khỏi đến chậm trễ. Tôi biết lợi ích của Đảng đòi hỏi phải tổ chức vụ án một cách khẩn trương. Và tôi hy vọng sẽ tới kịp thời tại Bucarest. Vì Đảng, tôi đã nhận một sự hy sinh cuối cùng: hy sinh tính mạng.


- Chúng tôi hiểu rõ sự việc này. - Tên cảnh sát nói, giọng mỉa mai. - Đồng chí phải đóng vai tên đồng lõa số một của tên Thống soái, phải không? Đồng chí tưởng rằng người Xô Viết phải tạo ra những thằng phản bội và dựng lên những tòa án giả ư? Đồng chí lý giải sao cho xuôi những lời khai đó?


Đồng chí tưởng các Xô Viết phải chọn những kẻ vô tội để biến thành người bị cáo trong các vụ án trò hề sao? Đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng sản, đó là một cử chỉ khiêu khích, một sự nói xấu.


- Một bọn phản bội vẫn thoát được đấy, như Trosky và tên Thống soái chẳng hạn. Tuy vậy vẫn cứ phải xét xử và kết án Nhiệm vụ chính trị đòi hỏi phải làm như vậy. Người ta luôn luôn tìm thấy những phần tử ưu tú trong dân sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình, dùng biện pháp tự buộc tội mình để tố cáo trước công luận các giai đoạn khúc mắc của tội ác phản dân hại nước.


- Đó là luận điệu tuyên truyền phản bội! - Tên đồn trưởng cảnh sát nói. - Các Xô Viết không bao giờ làm những vụ án như vậy. Các Xô Viết bao giờ cũng bắt và xử những tên tội phạm thực sự. Kẻ nào bênh vực cho những điều trái lại chính là kẻ phản bội, là kẻ thù phản động. Các Xô Viết đã tóm cổ mọi tên mưu phản của bè lũ tên Thống soái kia lâu rồi. Khi đã tóm được bọn chúng rồi thì cần gì phải sử dụng những tên tội phạm giả vờ và phải yêu cầu đồng chí tự buộc tội mình vì một tội ác do người khác phạm?


- Bọn đồng lõa của tên Thống soái đang ở cả bên kia biên giới mà! - Bodnariuk nói.


- Từ năm 1942, cảnh sát Xô Viết đã để mắt tới tất cả những bọn đồng lõa của tên Thống soái đó. - Tên đồn trưởng đáp - Chúng nó bị theo dõi trên nhiều năm nay. Những cuộc trao đổi điện thoại của chúng đều bị nghe trộm, không một tên nào chạy trốn nổi. Tất cả đều bị bắt. Tên đồng lõa số một là hung thủ người Hungary Rajk. Mọi tờ báo đã đăng lời khai của họ. Đây, đọc đi!


Boris Bodnariuk xem những tiêu đề trên các tờ báo để ở bàn của tên cảnh sát. - Rajk đã thú nhận đầy đủ. - Tên cảnh sát nói. - Sao đồng chí lại còn muốn các Xô Viết cần thiết phải dựng lên một vụ án giả vờ làm gì nữa khi Rajk đã bị bắt và đã khai báo hoàn toàn không thiếu một chi tiết nào? Đồng chí giải thích lời tuyên bố tội lỗi ấy như thế nào đây?


Bodnariuk thấy ngay ở trang đầu tấm hình của Rajk, đồng sự của anh tại Budapest, đang đứng trước các quan tòa.


“Tôi đã phạm tội đồng lõa với tên thống soái ở Quốc gia những người Slaves phương Nam nhằm thiết lập một liên bang Đông Nam châu Âu và đặt nó dưới sự thống trị của Anh-Mỹ”.


Cái đầu đề bài báo viết như vậy.


- Đồng chí thấy rằng trung tâm vụ phản bội của tên Thống soái là ở Budapest chứ không phải Bucarest. Các Xô Viết đã biết chuyện đó từ nhiều năm nay rồi. Các Xô Viết rất cảnh giác. Người ta đã bắt bọn mưu phản vào lúc thích hợp. Rajk đã thú nhận toàn bộ.


Boris Bodnariuk là một người bạn tâm giao của Rajk. Họ từng cùng nhau là sinh viên tại Viện Hàn lâm đỏ Moscow. Rồi họ đã gặp nhau trong các kỳ đại hội. Rajk là một đảng viên Cộng sản hoàn hảo. Boris Bodnariuk không bao giờ nghi ngờ bạn.


Rajk cũng trung thành với chủ nghĩa Cộng sản như chính anh.


“Khi mình rời khỏi bệnh viện” - Bodnariuk suy nghĩ - “không để lại một dấu hiệu gì là mình còn sống, thì các Xô Viết đã coi như mình mất tích. Vụ án tên Thống soái vẫn phải tiến hành. Điện Kremlin đã quyết định phải chọn một anh hùng khác. Rajk đã nhận trách nhiệm đóng thay vai người ta đã trao cho mình - vai người bị cáo chính và đồng lõa của tên Thống soái. Vụ án đã được di chuyển từ Bucarest sang Budapest chỉ vì lý do không có mình ở Bucarest. Rajk đã đóng cái vai của mình. Anh là diễn viên đóng thay mình, vậy thôi. Người ta đã tổ chức buổi biểu diễn tại Budapest chứ không phải ở Bucarest như dự định ban đầu”.


Bodnariuk không để lộ suy nghĩ của mình. Anh vui sướng vì vai của anh đã được một người khác thay thế. Người đó chắc là đã đóng vai mình với một tài nghệ bậc thầy. Rajk không phải là một tên phản bội. Rajk là một anh hùng.


Tên tội phạm Rajk từ lâu đã làm gián điệp cho bọn tư bản. - Tên cảnh sát nói. - Hắn đã thú nhận đầy đủ.


“Đó là điều mà người ta có thể đã nói về mình”. - Bodnariuk suy nghĩ - “Tất cả mọi người có thể sẽ tin rằng mình là tên tội phạm thật. Quần chúng tin. Những vụ án ấy thực tình là có hiệu quả”.


- Đồng chí có thừa nhận là mình nói dối và tất cả câu chuyện vụ án kia là sản phẩm của trí tưởng tượng hoang đường của đồng chí không nào?


- Tôi thừa nhận! Tôi đã nói dối! - Bodnariuk nói. Anh biết rằng mục đích lớn đã đạt được.


- Sau những lời nói dối đó, còn ai có thể tin vào những lời khai khác của anh. - Tên cảnh sát hỏi.


- Người ta có thể tin vào những điều tôi khẳng định. - Bodnariuk đáp.


- Anh sẽ ký một bản tuyên bố qua đó anh thừa nhận toàn bộ câu chuyện về vụ án là dối trá. Thêm một câu hỏi nữa. Tên thật của anh là gì?


Đây là thời điểm nặng nề nhất của đời anh. Hy sinh tính mạng đi còn dễ hơn là tự phủ nhận mình.


- Tên tôi là Boris Neva. - Boris Bodnariuk đáp. Anh đã nói không suy nghĩ. Ở phương Tây, anh đã lấy tên là Boris Neva. Vì vậy anh nhắc lại.


- Thực tên tôi là Boris Neva.


- Thôi đừng bố láo nữa! - Tên cảnh sát quát - Neva là tên một nữ anh hùng lớn. Đó là tên bà nội cuộc Cách mạng chúng ta. Neva không phải là cái tên sinh ra để khoác cho một thằng du thủ du thực loại mày, một cái thùng rác rưởi, một thằng khốn nạn, nghe chưa?


Bodnariuk cắn môi. Cho đến hôm nay, anh không biết rằng anh tha thiết gắn bó với cái tên của mình đến thế.


- Nào, tên thật mày là gì, nói? - Tên cảnh sát quát.


- Boris Bodnar? - Boris Bodnariuk nói.


Đây là lần đầu tiên từ bao nhiêu năm nay anh nói thật tên mình. Anh khai lên cái tên thật của anh mà anh đã bỏ đi, với một niềm tin sâu sắc.


- Thực tế tên gọi của tôi là như vậy: Boris Bodnar. Tất cả những tên gọi khác của tôi đều là giả, là những sản phẩm của óc tưởng tượng của tôi, những cái tên bịa đặt.


- Bây giờ thì cút xéo! - Tên cảnh sát ra lệnh. - Và chấm dứt những chuyện dối trá từ hôm nay. Không ai có thể khoác tên một người khác được! Nếu mày là Bodnar thì xưng là Bodnariuk làm gì? Nếu mày là Bodnar thì sao lại để người ta gọi là Neva làm gì? Đó là những cái tên của những vị anh hùng. Đó không phải là cái tên cho những kẻ tầm thường. Bọn tầm thường bị nện vào đầu thì kêu, bị đánh đập thì chảy máu.


Bodnariuk và Neva đều vượt lên trên sự đau đớn, vượt lên trên chính bản thân mình. Đó là những anh hùng Xô Viết. Mày là Bodnar. Bodnariuk và Neva là một chuyện khác, hoàn toàn khác. Trong trường hợp mà chúng tao không phát hiện ra mày là một tên tội phạm và nếu mày không tiếp tục nói những điều dối trá, chúng tao sẽ tống cổ mày vào trại cải tạo lao động vì tội vô nghề nghiệp, lang thang. Trong đất nước Xô Viết, cả bọn lang thang cũng có dịp may để lao động cho sự nghiệp chung. Vậy là mày sẽ được đưa vào một trại cải tạo nào đó với điều kiện, tao nhắc lại, mày không phải là một tên hung thủ.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơ may thứ hai. Tiểu thuyết của Constant Virgil Gheorghiu. Hoàng Hữu Đản dịch. In theo bản thảo mà Giáo sư Hoàng Hữu Đản gửi nhà văn Triệu Xuân, Trưởng Chi nhánh NXB Văn học - năm 2002. Triệu Xuân đã biên tập hoàn chỉnh để in ấn, nhưng không được cấp Giấy phép xuất bản (vì tác giả này chống Liên Xô)! Mãi đến năm 2010, GS Hoàng Hữu Đản gửi in tại NXB Công an nhân dân.


www.trieuxuan.info


 


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh em nhà Karamazov - FYODOR Mikhailovich Dostoyevsky 19.02.2020
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 19.02.2020
Đẻ sách - Đỗ Quyên 15.02.2020
Ông cố vấn - Hữu Mai 13.02.2020
Hòn đất - Anh Đức 13.02.2020
Dòng đời - Nguyễn Trung 06.02.2020
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 06.02.2020
Cõi mê - Triệu Xuân 30.01.2020
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 30.01.2020
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 15.01.2020
xem thêm »